vấn đề đào tạo nguồn nhân lực trong quá trình công nghiệp hóa hiện đại hóa nước ta hiện nay - Pdf 22

A. lời mở đầu
Tổng bí th ban chấp hành Trung ơng Đảng cộng sản Việt Nam - Lê Khả
Phiêu phát biểu tại hội thảo quốc tế Việt Nam trong thế kỷ 20 đã từng nói:
"Dân tộc chúng tôi hiểu đầy đủ rằng: dân tộc mình là một dân tộc nghèo, một
đất nớc đang phát triển ở mức thấp Chúng tôi hiểu rõ khoảng cách giữa nền
kinh tế của chúng tôi và nền kinh tế của những nớc phát triển trên thế giới.
Chúng tôi hiểu rõ khoa học công nghệ trong thế kỷ 21 sẽ có những bớc tiến
khổng lồ. Thực hiện t tởng vĩ đại của chủ tịch Hồ Chí Minh: "Lấy sức ta mà
giải phóng cho ta chúng tôi phải tri thức hóa Đảng, tri thức hóa dân tộc tiếp
tục tri thức hóa công nông, cả nớc là một xã hội học tập, phát huy truyền
thống những ngày mới giành độc lập 45 cả nớc học chữ, cả nớc diệt giặc dốt,
cả nớc diệt giặc đói. Phải nắm lấy ngọn cờ khoa học nh đã nắm lấy ngọn cờ
dân tộc". Một dân tộc dốt, một dân tộc đói nghèo là một dân tộc yếu. Chúng ta
đã từng chiến thắng thực dân Pháp và đế quốc Mỹ. Thắng lợi đó là thắng lợi
của lực lợng trí tuệ Việt Nam đối với lực lợng sắt thép và đô la khổng lồ của
Mỹ. Con ngời Việt Nam đã làm đợc những điều tởng nh không làm đợc, và
tôn tin rằng con ngời Việt Nam trong giai đoạn mới với những thử thách mới
vẫn sẽ làm đợc những điều kỳ diệu nh thế với lực lợng lao động dồi dào, ngày
càng phát triển cả về số lợng và chất lợng. Đất nớc Việt Nam sẽ sánh vai đợc
với các cờng quốc năm châu cho dù hiện nay chúng ta gặp rất nhiều khó khăn,
rất nhiều sự đối đầu. Chính vì vậy tôi đã chọn đề tài: "Vấn đề về đào tạo
nguồn nhân lực con ngời trong sự nghiệp công nghiệp hóa - hiện đại hóa
đất nớc" cho đề án kinh tế chính trị của mình.
B. Nội dung
I. Vấn đề đào tạo nguồn nhân lực con ngời trong sự nghiệp
công nghiệp hóa - hiện đại hóa
1. Thế nào là công nghiệp hóa - hiện đại hóa
a. Tính tất yếu khách quan và tác dụng của công nghiệp hóa - hiện
đại hóa
Những nớc quá độ tuần tự hay còn gọi là những nớc quá độ từ Chủ
nghĩa t bản lên chủ nghĩa xã hội, mặc dù cha có đợc cơ sở vật chất - kỹ thuật

nghiệp hóa - hiện đại hóa nền kinh tế quốc dân, nên qua tất cả các kỳ đại hội
Đảng ta luôn xác định: Công nghiệp hóa là nhiệm vụ trung tâm trong suốt thời
kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nớc ta".
c. Nội dung cơ bản của công nghiệp hóa - hiện đại hóa ở nớc ta
* Quan niệm về công nghiệp hóa
Trớc đây chúng ta cho rằng, công nghiệp hóa là quá trình trang bị kỹ
thuật hiện đại cho toàn bộ nền kinh tế quốc dân, thay thế lao động thủ công
bằng lao động cơ khí hóa, biến một nớc kém phát triển thành một nớc có cơ
cấu công nông nghiệp hiện đại, khoa học kỹ thuật tiên tiến.
Theo quan niệm của liên hiệp quốc, công nghiệp là một quá trình phát
triển kinh tế trong đó có một bộ phận nguồn lực quốc gia ngày càng lớn đợc
huy động để xây dựng cơ cấu kinh tế nhiều ngành với công nghiệp hiện đại về
chế tạo ra t liệu sản xuất, hàng tiêu dùng, có khả năng bảo đảm một nhịp độ t-
ang trởng cao trong toàn bộ nền kinh tế và đảm bảo sự tiến bộ kinh tế và xã
hội.
Kết hợp quan niệm truyền thống và quan niệm hiện đại, và vận dụng
vào điều kiện cụ thể hóa Việt Nam, hội nghị lần thứ VII ban chấp hành Trung
ơng Đảng khóa VII đã đa ra quan niệm mới về công nghiệp hóa - hiện đại
hóa: công nghiệp hóa, hiện đại hóa là quá trình chuyển đổi căn bản toàn diện
các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và quản lý kinh tế xã hội từ sử
dụng lao động thủ công là chính sang sử dụng một cách phổ biến sức lao động
cùng với công nghệ, phơng tiện và phơng pháp tiên tiến hiện đại, dựa trên sự
phát triển của công nghiệp và tiến bộ khoa học - công nghệ, tạo ra năng suất
lao động xã hội cao.
* Nội dung cơ bản của công nghiệp hóa - hiện đại hóa ở nớc ta
Trớc đây một thời gian dài với quan niệm truyền thống về công nghiệp
hóa, chúng ta thờng xác định nội quy của công nghiệp hóa theo trình tự:
1. Tiến hành cách mạng khoa học - kỹ thuật để xây dựng cơ sở vật chất
-kỹ thuật cho chủ nghĩa xã hội.
2. Xây dựng cơ cấu kinh tế hợp lý và phân công lại lao động xã hội.

Song song với phân phối lại thu nhập là vấn đề chuyển dịch cơ cấu kinh
tế bao gồm:
Cơ cấu ngành kinh tế: Trong những năm trớc mắt cơ cấu ngành ở nớc ta
sẽ đợc xác định là cơ cấu công - nông nghiệp -dịch vụ.
Cơ cấu vùng kinh tế: phải tạo điều kiện cho tất cả các vùng đều phát
triển trên cơ sở khai thác thế mạnh và tiềm năng của mỗi vùng, liên kết giữa
các vùng, làm cho mỗi vùng đều có cơ cấu kinh tế hợp lý và đều có chuyển
biến tiến bộ góp phần vào sự phát triển kinh tế - xã hội đất nớc.
Cơ cấu giữa thị tứ, thị xã, thị trấn, thành phố và đô thị tùy điều kiện
từng nơi, tất cả các thị xã, thị trấn đều đợc phát triển trên cơ sở đẩy mạnh
công nghiệp, dịch vụ mang ý nghĩa tiểu vùng. Hình thành các thị tứ làm trung
tâm kinh tế, văn hóa cho mỗi xã hoặc cụm xã.
Cơ cấu thành phần kinh tế lấy việc giải phóng sức sản xuất, động viên
tối đa mọi nguồn lực bên trong và bên ngoài cho việc chuyển dịch cơ cấu kinh
tế theo hớng công nghiệp hóa - hiện đại hóa.
b. Đẩy mạnh cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại đi đôi
với tiếp nhận chuyển giao công nghệ mới từ nớc ngoài. Đó là:
Cách mạng về phơng pháp sản xuất đó là tự động hóa.
Cách mạng về năng lợng
Cách mạng về vật liệu mới.
Cách mạng về công nghệ sinh học
Cách mạng về điện tử và tin học
2. Vấn đề đào tạo nguồn nhân lực con ngời trong sự nghiệp công
nghiệp hóa - hiện đại hóa.
a. Vai trò thực trạng nguồn nhân lực ở nớc ta
Thực hiện công nghiệp hóa - hiện đại hóa là một quy luật khách hang,
một đòi hỏi tất yếu của nớc ta. Đặc biệt trong tình hình hiện nay, chúng ta
đang thực cơ chế thị trờng theo định hớng xã hội chủ nghĩa có sự điều tiết
quản lý của Nhà nớc thì công nghiệp hóa - hiện đại hóa là nhiệm vụ trọng tâm
xuyên suốt thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội.

số vàng" với tỷ lệ dân số trong độ tuổi lao động tiếp tục tăng cao và đạt đỉnh
cao nhất là gần 70% vào năm 2009 (56 triệu ngời). Trong 10 năm (1999 -
2009), mỗi năm có thêm 1,8 triệu ngời bớc vào độ tuổi lao động (từ 15 tuổi trở
lên), trong khi đó số ngời ra khỏi độ tuổi lao động (60 tuổi trở lên), chỉ có
0,35 triệu ngời. Dự tính trong 10 năm tới, mức tăng dân số trong độ tuổi lao
động bình quân là 2,5% gấp hơn hai lần tăng nguồn nhân lực cao nhất từ trớc
đến nay trong lịch sử dân số Việt Nam. Đó vừa là tiềm năng, cơ hội lớn về
nguồn nhân lực và là thách thức rất lớn đối với vấn đề giải quyết việc làm.
Với số lợng ngời bớc vào độ tuổi lao động đạt mức kỷ lục nh hiện nay,
cùng với hàng chục vạn lao động dôi d từ các cơ quan, doanh nghiệp Nhà nớc,
2 thập kỷ đầu tiên của thế kỷ 21 sẽ tạo ra áp lực rất lớn về việc làm và nguồn
vốn đang căng thẳng với tỷ lệ thất nghiệp ở mức cao (một số lao động thất
nghiệp rơi vào nhóm lao động trẻ đợc đào tạo, gây ra nhiều hậu quả cả về kinh
tế xã hội. Bên cạnh đó còn có hàng triệu ngời già tuy tuổi cao nhng vẫn còn
khả năng và mong muốn đợc làm việc.
Trên phạm vi cả nớc, cấu trúc dân số biến đổi tạo cơ hội thuận lợi cho
sự phát triển kinh tế, tuy nhiên do hoàn cảnh địa lý và tình hình kinh tế - xã
hội khác nhau giữa các vùng miền, nên ở các tỉnh đồng bằng do mức sinh
sống thấp trong nhiều năm qua và "cơ cấu dân số vàng" đã bắt đầu phát huy
tác dụng, tạo ra nhiều thách thức lớn về việc làm cho địa phơng vốn đất chật
ngời đông. Tại các tỉnh vùng Tây Nguyên, miền núi Tây Bắc, do mức sinh ở
những vùng này vẫn còn cao nên cấu trúc dân số còn trẻ. Luồng di c tự phát
rất lớn đổ từ các vùng nông thôn, miền núi đến các thành phố, Tây Nguyên và
vùng Đông Nam Bộ. Trong một số doanh nghiệp ở các vùng này, số lao động
ngoại tỉnh chiếm đến 80%.
* Chất lợng
Mặc dù là quốc gia đứng thứ hai trên thế giới về xuất khẩu gạo, trên
90% dân số biết chữ, song hiện tại ở nớc ta, cứ 3 trẻ em (dới 5 tuổi) thì có một
cháu bị suy dinh dỡng, cứ 3 bà mẹ mang thai thì 1 ngời bị thiếu máu, thậm chí
ở những vùng khó khăn và đặc biệt khó khăn, cứ 2 trẻ em thì có 1 chú bị suy

1,5-1,7 và 1999 là hợp lý, cứ 4 cán bộ đại học mới có 1 công nhân kỹ thuật
cao. Đây chính là tình trạng "thầy nhiều hơn thợ". Tại các nớc phát triển thì cứ
1 thầy có 10 thợ, nhng ở nớc ta, bình quân một thầy chỉ có 0,95 thợ. Trong khi
số sinh viên đại học tăng nhanh thì số công nhân kỹ thuật giảm dần (1979
chiếm 70% , đến năm 1999 giảm xuống còn 30,3% trong tổng số lực lợng lao
động kỹ thuật). Trong các năm 1996 - 1998, bình quân công nhân kỹ thuật
tăng 6,3%/năm nhng số sinh viên đại học, cao đẳng tăng 27,5%. Một thực tế
đáng lo ngại nh tại các khu công nghiệp ở Đồng Nai, từ nay đến 2010, mỗi
năm cần khoảng 20 ngàn lao động kỹ thuật, nhng khả năng đào tạo nghề cũng
cung ứng 12.000 ngời/năm. Năm 1997 khu chế xuất Tân Thuận cần tuyển
15.000 lao động kỹ thuật nhng chỉ tuyển đợc 3000 ngời đủ tiêu chuẩn.
Hiện nay nhu cầu tuyển lao động kỹ thuật hầu nh không đợc đáp ứng
đầy đủ, trong khi lao động phổ thông lại d thừa quá nhiều.
Tỷ lệ lao động kỹ thuật đã thấp lại phân bổ không đồng đều giữa các
ngành và các thành phần kinh tế. Rất nhiều lao động kỹ thuật tập trung ở các
cơ quan trung ơng. Các ngành nông - lâm - ng nghiệp, các thành phần kinh tế
tập thể , t nhân, cá thể còn thiếu nhiều lao động kỹ thuật. ở khu vực nông
thôn, số lao động đã qua đào tạo chiếm tỷ lệ càng thấp (chỉ khoảng 4%). Đặc
biệt vùng miền núi, hải đảo, đang thiếu lao động kỹ thuật và trí thức trầm
trọng, trong khi số tri thức d thừa giả tạo ở thành phố ngày càng nhiều. Không
những vậy, có những lao động sau khi đợc đào tạo đã không làm đúng ngành
nghề, thậm chí còn làm công việc của lao động giản đơn.
b. Những nguyên nhân dẫn đến chất lợng nguồn nhân lực Việt Nam
còn yếu kèm.
Một là lực lợng và cơ sở trang thiết bị quá thiếu thốn, y tế cơ sở không
đảm bảo chăm sóc sức khỏe cho nhân dân, đặc biệt là miền núi, vùng sâu,
vùng xa. Tình trạng bệnh tật vẫn còn nặng nền. Hơn nữa những kiến thức cơ
bản về chăm sóc sức khỏe cho nhân dân còn thấp, vệ sinh môi trờng còn rất
kém, ô nhiễm, môi trờng ngày càng nghiêm trọng. Đặc biệt là cung cấp nớc
sạch và xử lý chất thải các loại có tác động bất lực đến sức khỏe nhân dân.

Năm là, đội ngũ giáo viên ở các trờng còn yếu, thiếu về số lợng năng
lực giảng dạy, nghiên cứu khoa học. Ngoài ra chính sách đãi ngộ cha thỏa
đáng nên không phát huy đợc tiềm năng và nhiệt huyết của họ.
Sáu là, mạng lới trờng và trung tâm đào tạo bố trí còn phân tán, hiệu
quả đầu t sử dụng cơ sở vật chất kỹ thuật kém, lãng phí, chồng chéo.
Bảy là, một bộ phận nhỏ công nhân cha nhận thức đầy đủ về sự cần
thiết phải nâng cao trình độ văn hóa, tay nghề nên còn thờ ơ, cha thực sự cố
gắng hoặc tận dụng những điều kiện đã có để tự học tập, bồi dỡng nâng cao
trình độ của bản thân.
II. Một số giải pháp nhằm giải quyết hợp lý vấn đề về nguồn
nhân lực
Nhìn rõ đợc thực trạng về nguồn nhân lực của nớc ta để chúng ta phát
huy những điểm mạnh, khắc phục và hạn chế những điểm yếu đồng thời đa ra
những yêu cầu đối với giáo dục và đào tạo nguồn nhân lực.
Để đảm bảo chất lợng về mặt thể lực cho nguồn nhân lực trong tơng lai,
các chơng trình bảo vệ sức khỏe bà mẹ và trẻ em, đặc biệt chơng trình bảo vệ
sức khỏe phụ nữ, phòng chống suy dinh dỡng theo hớng ngăn ngừa cần đợc
tiếp tục đầu t từ quan tâm và sẽ phải đặc biệt chú ý đến các vùng miền núi,
vùng sâu, vùng xa để giảm dần sự cách biệt giữa các vùng.
Các chơng trình tuyên truyền giáo dục càn đợc tăng cờng để ngăn ngừa
từ xa các tệ nạn lạm dụng ma túy, đặc biệt trong thanh thiếu niên.
Trong trình tự giải quyết phải đi tuần tự từ tiếp tục xóa mù chữ, phổ cập
tiểu học, đang bị những kiến thức cơ bản, đào tạo nghề từ sơ cấp đến các bậc
cao hơn những phải tạo ra một bộ phận ngời lao động có chất lợng cao, đặc
biệt phải chú trọng đào tạo lao động kỹ thuật, nhằm đáp ứng nhu cầu của
những ngành công nghệ mới, các khu công nghiệp và các khu kinh tế mở.
Việc mở rộng quy mô giáo dục đào tạo là rất cần thiết. Nhng cố gắng
mở rộng quy mô giáo dục đào tạo của nớc ta vẫn không theo kịp tốc độ gia
tăng dân số. Quy mô mọi ngành, bậc học hiện nay đều cha đáp ứng đợc yêu
cầu theo học của mọi lứa tuổi. Nhìn chung số học sinh và số trờng lớp ở mọi

hành, ứng dụng, giáo dục kỹ thuật, tác phong lao động công nghiệp, rèn luyện
kỹ năng và những khả năng thích ứng của ngời lao động với những đặc điểm
của nền kinh tế thị trờng. Song song với vấn đề giáo dục đào tạo con ngời,
chúng ta phải quan tâm đến vấn đề dân số, sức khỏe, để nâng cao chất lợng
nguồn nhân lực, giảm sức ép đối với quy mô và chất lợng giáo dục.
Trong điều kiện của Việt Nam hiện nay, yêu cầu đa dạng hóa các loại
hình giáo dục đào tạo rất cần thiết để bổ sung cải thiện hiện trạng nguồn nhân
lực nhằm khắc phục những bất hợp lý về việc phân bổ nguồn nhân lực, đồng
thời nâng cao hiệu quả của đầu t cho giáo dục và đào tạo để phục vụ cho nhu
cầu phát triển. Trong lĩnh vực giáo dục hớng nghiệp chúng ta cần phải kết hợp
một cách khoa học với kế hoạch phát triển toàn diện với chính sách sử dụng
sau đào tạo hợp lý để giảm lãng phí về chi phí về giáo dục đào tạo của xã hội
và của gia đình. Ngời lao động đào tạo ra đợc làm việc đúng ngành, đúng
nghề, đúng khả năng và sở trờng của mình. Ngoài ra, giáo dục hớng nghiệp
cũng đòi hỏi phải công tác dự báo nghề để xác định đợc xu hớng phát triển và
nhu cầu về lao động trong từng giai đoạn. Giáo dục đào tạo chính quy, dài hạn
là cơ sở để hình thành nên bộ phận ngời lao động có trình độ chuyên môn, kỹ
thuật cao, có kỹ năng tiếp cận với khoa học, công nghệ mới hiện đại. Ngoài ra,
cần mở rộng các loại hình đào tạo ngắn hạn để cải thiện hiện trạng nguồn
nhân lực hiện nay và nhanh chóng nâng cao số lao động đã qua đào tạo của ta
lên. Hình thức giáo dục tại chức và từ xa cần chú ý hơn đến chất lợng và hiệu
quả giáo dục.
Chính sách xã hội hóa giải quyết việc làm cần đợc tiếp tục phát huy,
khôi phục các làng nghề, phố nghề để huy động tổng hợp các nguồn lực và sự
tham gia rộng rãi của các thành phần kinh tế, các tổ chức xã hội mọi ngời dân.
Kinh tế hộ gia đình, cơ sở doanh nghiệp ngành nghề ở nông thôn, doanh
nghiệp vừa và nhỏ ở thành phố là những cơ sở có thể thu hút nhiều lao động,
cần đợc tạo điều kiện phát triển chất lợng.
Các chính sách phụ cấp, tiền lơng cũng nên đợc điều chỉnh lại để thu
hút ngời lao động về công tác tại cơ sở, các vùng khó khăn, tham gia xây dựng

cạnh đó Nhà nớc còn có chính sách khuyến khích ngời dân tự làm giàu cho
chính mình, cho gia đình và cho xã hội. Luật doanh nghiệp ra đời năm 1999
đánh dấu một bớc phát triển mới, một bớc ngoặt thuận lợi cho các doanh nhân
Việt Nam; làm giàu chính đáng là tiêu chí của nhiều cuộc hội thảo, là mục
đích của nhiều chủ trơng, chính sách, là động lực của nhiều ngời dân Việt
Nam cần cù, thông minh.
Với nền kinh tế vận động theo định hớng xã hội chủ nghĩa, Đảng và
Nhà nớc luôn đặt hiệu quả xã hội và hiệu quả kinh tế lên hàng đầu. Hiệu quả
kinh tế phải đi đôi với hiệu quả xã hội, trong đó việc tạo công ăn việc làm,
nâng cao mức sống ngời dân đợc chú trọng nhất; Dự án xây dựng khu công
nghiệp Dung Quất ở miền Trung khắc nghiệt, dự án mở đờng mòn Hồ Chí
Minh là những chính sách, biện pháp hợp lý đã lấy hiệu quả xã hội đặt lên
hàng đầu.
Giải quyết việc làm là kết quả tổng hợp của sự phát triển sản xuất, của
việc thực hiện các chơng trình kinh tế, xã hội và các giải pháp hỗ trợ trong đó
việc phát triển sản xuất, tăng trởng kinh tế là tiền đề, điều kiện cơ bản nhất là
từ những kết quả bớc đầu về giải quyết việc làm cho ngời lao động xã hội
trong thời gian quả là rất đáng khích lệ. Tuy nhiên, thực tiễn khách quan cũng
cho thấy điều kiện tạo ra việc làm cha vững chắc, nhiều yếu tố khác nảy sinh
làm cho thực trạng lao động việc làm thêm khó khăn phức tạp. Tỷ lệ thất
nghiệp ở các đô thị nớc ta vào loại cao so với các nớc trong khu vực và có xu
hớng tăng. Chất lợng lao động thấp, chỉ có 19% lao động qua đào tạo chuyên
môn kỹ thuật. Cơ cấu lao động kỹ thuật bất hợp lý, cha đáp ứng đợc yêu cầu
của nền kinh tế và càng bất cập trớc yêu cầu lao động kỹ thuật cao cho sự
nghiệp công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nớc. Việc phân bố lao động theo
ngành còn nhiều bất hợp lý. Tốc độ chuyển dịch cơ cấu lao động diễn ra thấp.
Lực lợng lao động phân bố không đồng đều cha tơng xứng với tiềm năng và
yêu cầu phát triển của các vùng. Và một điều quan trọng hơn nữa đó là công
tác quản lý lao động theo ngành và theo lãnh thổ bất cập so với yêu cầu, cha
giám sát đợc sự vận động của thị trờng lao động. Hiện nay ở thủ đô Hà Nội

năng động thứ hai là do hiện nay tình trạng tham nhũng, ăn hối lộ khiến cho
việc thi tuyển công chức rất không công bằng. Họ không chọn năng lực thật
sự mà chỉ chọn những gia đình thanh thế và nhiều tiền hoặc có quyền cao
chức trọng, có tiếng nói quan trọng trong một công ty, một số, một bộ phận
nào đó. Vì vậy đã từ lâu hình thành trong nếp nghĩ của ngời Việt Nam nói
chung và sinh viên nói riêng một quan niệm: Vào đợc những công ty Nhà nớc
"danh giá" là một giấc mơ xa xỉ đối với những sinh viên nghèo không có điều
kiện "chạy chọt". Đó là thực trạng đáng buồn.Vì vậy, bên cạnh đổi mới chính
sách tiền lơng cần có những biện pháp thật rắn để làm trong sạch đội ngũ cán
bộ và làm cho đồng tiền họ làm ra xứng đáng với năng lực, trí tuệ, nhiệt huyết
của họ.
Đồng thời phải có chính sách phân phối thật công bằng "làm theo năng
lực hởng theo lao động", tránh tình trạng khác lơng lại thấp cho dù hao phí lao
động bỏ ra nh nhu. Ví dụ nh ngành bu điện, điện lực, lơng nói chung (gồm cả
lơng cơ bản + thởng + các khoản thu khác) rất cao, chênh lệch nhiều so với
thu nhập của cán bộ công nhân viên chức ở các ngành khác, nh ngành ngân
hàng. Ngay trong ngành ngân hàng chính sách tiền lơng cũng có những bất
cập, lơng ở ngân hàng Nhà nớc thấp hơn nhiều so với ở các ngân hàng khác
nh ngân hàng ngoại thơng. Điều này lý giải đợc nguyên nhân vì sao ở những
ngành độc quyền ngời ta đổ xô tranh nhau vào, gây tình trạng d thừa lao động
còn những ngành khác đầu vào lao động lại thiếu trầm trọng. Chính phủ cần
có những điều chỉnh bất hợp lý về đầu vào ở các trờng Đại học và phải tạo đợc
động lực phát triển .
II. Sinh viên Việt Nam trớc những thách thức mới.
Việt Nam đan từng bớc đứng trớc những thách thức lớn, văn minh trí
tuệ phát triển từng giây, từng phút, nếu không nhanh chóng đi tới sẽ kéo nhau
cùng tụt hậu.
Vận mệnh, tiền đồ của đất nớc phụ thuộc một phần quan trọng vào thế
hệ trẻ,thanh niên và sinh viên phải vơn lên cùng với cha anh làm chủ đất nớc
ngay từ bây giờ.

nữa, có nhiều kiến thức sâu rộng về nhiều ngành mà cha xuất hiện hở Việt
Nam: xã hội học thực nghiệm, công nghệ vật liệu, nghiên cứu các dạng năng
lợng mới, trí tuệ nhân tạo. Vì thế mà họ học ở bất kỳ nơi nào những vấn đề mà
đất nớc cần cho dù phải nếm trải nỗi nhọc nhằn xa quê. Nhng tiếc thay đố chỉ
là số ít, rất ít ngời làm đợc nh học nghĩ. Theo thống kê có đến 68,3% lu học
sinh du học ở nớc ngoài sau khi tốt nghiệp không biết hiện nay họ ở đâu và
làm gì. Rất có thể nhiều ngời trong số này trở về nớc hoặc trở về nhà không
báo cáo (chỉ tính số tri thức trẻ do Nhà nớc gửi đi đào tạo ở Liên Xô cũ và các
nớc Đông Âu từ 1985 0- 199).
Nếu lấy mức chi phí đào tạo đại học ở Liên băng Nga, thấp nhất 7800
USD/năm/ngời 5 năm = 39000 USD, với 2936 ngời học mất 114.504.000
USD. Đây chỉ tính riêng học phí cha kể sinh hoạt phí và vé máy bay về nớc.
Đó là số chi phí đợc đầu t nhng cha biết làm sao để thu hồi lại vốn. Những lu
học sinh này đi học dựa trên nguồn kinh phí từ các học bổng tài trợ và hiệp tác
song phơng giữa nớc ta và nớc bạn. Từ 1991 đến nay, loại hình đào tạo ngày
càng phong phú và số ngời du học ngày càng tăng lên, số nớc nhận đào tạo
cũng tăng lên. Trong khi đó công tác quản lý lu học sinh lại không có những
chuyển biến phù hợp với tình hình mới, do đó không đủ sức quản lý số lu học
sinh ngày càng tăng trên bình diện ngày càng rộng. Vì vậy chúng ta phải vạch
ra chính sách, kế hoạch khoa học và cụ thể để thu hút lu học sinh trở về, ngăn
chặn tình trạng chảy máu chất xám, từ đó tận dụng đợc nguồn lực con ngời
trong sự nghiệp xây dựng đất nớc. Trớc hết Nhà nớc phải tạo điều kiện cho lu
học sinh sau khi tốt nghiệp có việc làm ra thu nhập tơng xứng; đồng thời quản
lý chặt chẽ số lợng học sinh, sinh viên du học và số lợng học sinh, sinh viên
tốt nghiệp: nếu học sinh đi bằng học bổng nhà nớc thì phải có những cam kết
đúng đắn giữa học sinh sinh viên và Bộ Giáo dục và đào tạo, buộc hai bên
phải thi hành một cách nghiêm túc, tránh tình trạng Nhà nớc mất một số vốn
lớn trong việc đầu t, giáo dục cho con ngời nhng không thể thu hồi lại vốn.
III. Tham khảo một số chính sách phát triển nguồn nhân lực
và giáo dục đào tạo nguồn nhân lực ở một số nớc khác.

để sự bùng nổ dân số triệt tiêu những thành quả của sự tăng trởng kinh tế.
Phát triển mạnh giáo dục, phổ thông, nâng cao kiến thức văn hóa và chữ
viết chung của mọi ngời.
Cải tiến hệ thống đào tạo đại học và dạy nghề để đáp ứng những nhu
cầu của quá trình công nghiệp hóa - hiện đại hóa.
Tăng nhanh việc làm, giảm thất nghiệp thông qua việc u tiên phát triển
các ngành công nghiệp sử dụng nhiều lao động trong thời kỳ đầu công nghiệp
hóa - hiện đại hóa bằng các chính sách khuyến khích các thành phần kinh tế
phát triển, đặc biệt là thành phần kinh tế t nhân, và chính sách u tiên các
ngành công nghiệp quy mô vừa và nhỏ phát triển.
Thực hiện các chính ách và biện pháp phân phối lại để hạn chế sự chênh
lệch thu nhập giữa các tầng lớp nhân dân.
Kết luận
Bất cứ một sự phát triển nào đó cũng đều phải có một động lực thúc đẩy
phát triển kinh tế - xã hội đợc dự trên nhiều nguồn lực: nhân lực (nguồn lực
con ngời), vật lực (nguồn lực vật chất: công cụ lao động, đối tợng lao động, tài
nguyên thiên nhiên) tài lực (nguồn lực về tài chính tiền tệ). Song chỉ có
nguồn lực con ngời mới tạo ra động học cho sự phát triển, những nguồn lực
khác muốn phát huy tác dụng chỉ có thể thông qua nguồn lực con ngời. Do
vậy trong bất cứ xã hội nào, một đất nớc nào, vấn đề đào tạo nguồn nhân lực
cũng đóng một vai trò cực kỳ quan trọng. Đặc biệt ở nớc ta, vấn đề này lại
càng đợc coi trọng hơn bao giờ hết. Con ngời Việt Nam đã làm đợc những
điều kỳ diệu trong lịch sử và con ngời Việt Nam chắc chắn cũng làm đợc
những điều kỳ diệu nh thế trong tơng lai. Nh đại tớng Võ Nguyên Giáp đã
từng nói: "Nhìn lại thế kỷ XX, dân tộc Việt Nam dũng cảm và thông minh, đã
làm đợc những điều tởng nh không làm đợc, đã làm cho hiện thực lịch sử trở
thành huyền thoại. Bớc vào thế kỷ XXI và thiên niên kỷ mới, dân tộc ta với
hoài bão lớn và trí tuệ sáng tạo sẽ có những ớc mơ tởng nh huyền thoại và
quyết biến những ớc mơ ấy thành hiện thực lịch sử.
Mặc dù đã cố gắng nhiều nhng bài đề án của em cũng không tránh khỏi


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status