Nghiên cứu ảnh hưởng của hàm lượng đậu tương lên chất lượng giống cá lăng chấm hermibagrus guttatus(lacépède, 1803) giai đoạn cá hương lên cá giống (30ngày – 60ngày) - Pdf 22

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG TRẦN THỊ MAI HƯƠNG
NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA HÀM LƯỢNG
ĐẬU TƯƠNG LÊN CHẤT LƯỢNG GỐNG CỦA CÁ
LĂNG CHẤM HERMIBAGRUS GUTTATUS
(LACÉPÈDE, 1803) GIAI ĐOẠN CÁ HƯƠNG LÊN
CÁ GIỐNG (30 NGÀY – 60 NGÀY)
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành: Nuôi trồng thuỷ sản
Người hướng dẫn khoa học:
PGS.TS LẠI VĂN HÙNG
3.2.4. Các phương pháp thí nghiệm 13
3.2.4.3. Phương pháp đánh giá các chỉ tiêu 14
3.2.4.4. Phương pháp phân tích và xử lý số liệu: 15
4. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 16
4.1. Một số yếu tố môi trường của hệ thống thí nghiệm 16
4.2. Ảnh hưởng của thức ăn đến tăng trưởng và tỉ lệ sống 17
4.3. Ảnh hưởng của thức ăn đến dị hình xương 21
5. KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT 25
5.1. Kết luận 25
5.2. Đề xuất ý kiến 25
TÀI LIỆU THAM KHẢO 26
PHỤ LỤC 29

Tôi xin chân thành cảm ơn PGS.TS Lại Văn Hùng, TS Nguyễn Văn
Tiến đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo tôi hoàn thành luận văn này. Xin cảm ơn
toàn bộ cán bộ công nhân viên tại Phòng Sinh học thực nghiệm và Phòng Di
truyền & Chọn giống đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong thời gian thực hiện đề
tài.
Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới bố mẹ, gia đình đã luôn bên
cạnh động viên, ủng hộ hết mình cho tôi thực hiện luận văn.
Cuối cùng tôi xin cảm ơn bạn bè đã nhiệt tình giúp đỡ tôi.
Tôi xin chân thành cảm ơn. DANH MỤC CÁC BẢNG

Sơ đồ 1: Sơ đồ khối nội dung nghiên cứu 11

Biểu đồ 1: Chế độ thay nước theo ngày nuôi 12

Biểu đồ 2: Biểu đồ chiều dài trung bình của 3 nhóm sử dụng 3 công thức thức
ăn khác nhau qua 2 lần đo 19 DANH MỤC CÁC HÌNH
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
TĂ: thức ăn
chất lượng cá giống, ngoài việc lựa chọn cá bố mẹ có chất lượng cao, việc cải
2
thiện chất lượng thức ăn ở giai đoạn phát triển sớm của cá có vai trò quan
trọng trong việc cải thiện tốc độ sinh trưởng và tỷ lệ dị hình ở cá Lăng giống.
Từ những vấn đề trên mà tôi chọn đề tài “Nghiên cứu ảnh hưởng của
hàm lượng đậu tương lên chất lượng giống cá Lăng chấm Hermibagrus
guttatus (Lacépède, 1803) giai đoạn cá hương lên cá giống (30ngày –
60ngày)”.
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài là đánh giá được tác động của thức ăn
lên, tỉ lệ sống, tốc độ tăng trưởng và chất lượng giống cá Lăng chấm nhằm
nâng cao chất lượng giống cá Lăng trong điều kiện sản xuất giống nhân tạo,
góp phần giảm áp lực vào việc khai thác nguồn lợi cá Lăng trong tự nhiên.

2.1.3. Đặc điểm về sinh trưởng
Cá Lăng chấm thuộc loài cá sinh trưởng tương đối nhanh. Trong bốn
năm đầu, cá tăng nhanh về chiều dài, ở 4 năm đầu cá đạt 13-17cm/năm, sau
đó giảm dần, ở tuổi 9
+
- 12
+
còn 4-7cm/năm. Cá tăng chậm về khối lượng
trong những năm đầu : năm 1 tuổi 30-60g/năm, 2 tuổi 190-240g/năm. Tăng
nhanh từ năm thứ 4 đạt 1000-1400g/năm, những năm cuối giảm (Phạm Báu
và ctv,2000)
2.1.4. Đặc điểm dinh dưỡng
Dinh dưỡng là một trong những yếu tố quan trọng quyết định tốc độ
tăng trưởng và tỷ lệ sống của ấu trùng cá trong đó có cá Lăng chấm. Cá Lăng
chấm là loài cá dữ điển hình, tỷ lệ chiều dài ruột/chiều dài thân = 89,35%.
Thức ăn chủ yếu của cá Lăng chấm là cá, tôm, cua, giun chiếm 28-60% về
thành phần, 15,8-36,0% về khối lượng
5
2.1.5. Đặc điểm sinh sản
Cá đực thành thục ở tuổi 4
+
, cỡ cá nhỏ nhất có chiều dài 72cm, trọng
lượng 2,7kg. Cá cái thành thục ở tuổi 3
+
, cỡ cá nhỏ nhất có chiều dài 61cm,
trọng lượng 1,6kg. Tuy nhiên, chỉ có 25% cá cái và 20% cá đực thành thục ở
cỡ tuổi 3
+
và 4
+

2.2.1. Dinh dưỡng của cá giai đoạn nhỏ (cá bột, cá hương, cá giống)
Cá Lăng chấm là loài cá dữ điển hình, tỷ lệ chiều dài ruột/chiều dài
thân = 89,35%. Thức ăn chủ yếu của cá Lăng chấm là cá, tôm, cua, giun
6
chiếm 28-60% về tần số gặp, 15,8-36,0% về khối lượng. Độ mỡ của cá Lăng
chấm ở hồ Hòa Bình khá cao đạt 1,90 – 3,69. Độ mỡ của cá sông Lô thấp hơn
đạt 1,42 – 1,93. Độ mỡ giảm dần từ tháng 4, thấp nhất vào tháng 7, 8, sau đó
tăng dần. Độ béo Fulton của cá hồ Hòa Bình cũng cao hơn cá sông Lô-Gâm,
tương ứng 0,76 – 1,24/0,56 – 1,15. Sự biến động của độ béo Fulton theo lứa
tuổi giảm nhất ở lứa tuổi 4 – 9tuổi, điều này có thể liên quan tới mùa vụ sinh
sản, tuổi sinh sản của cá (Phạm Báu và ctv,2000,).
Giai đoạn từ cá bột lên cá hương cá Lăng chấm chỉ ăn thức ăn sống và
có hàm lượng Protein cao từ 28% - 55% . Giai đoạn cá hương lên cá giống có
thể luyện cho cá ăn cám tự chế với hàm lượng Protein từ 30% - 40% (Lubzen,
1989).
2.2.2. Thức ăn của ấu trùng cá Lăng chấm
Những điều kiện để ấu trùng có thể bắt được mồi bao gồm sự sẵn có
của các loại thức ăn có trong môi trường, mật độ thức ăn, kích cỡ, hình dạng,
mùi vị (tính hấp dẫn), chất lượng và thành phần dinh dưỡng, dễ tiêu hóa, ổn
định và khả năng vận động của cá. Khi nuôi ấu trùng cần tiếp cận để sớm biết
sự chuyển hóa giai đoạn của ấu trùng để cung cấp thức ăn cho phù hợp.
Chuẩn bị kết thúc giai đoạn dinh dưỡng trong, cá đã có thể bắt mồi để có hình
thức dinh dưỡng kết hợp sau đó mới chuyển hẳn sang dinh dưỡng ngoài.
Năng suất của ấu trùng cá phụ thuộc vào việc sử dụng thức ăn sống (động vật
phù du, luân trùng) được cung cấp trong những ngày đầu sau khi nở (Hold,
1993 ; Person Le Ruyet và ctv, 1993).
Các loại thức ăn của ấu trùng cá như sau :
7

Copepoda

m

, chỉ bằng một nửa Dapnia, xấp xỉ bằng ấu trùng bánh xe và
nhỏ hơn ấu trùng Artemia. Moina trưởng thành có kích thước 700 - 1000
m


lớn gấp đôi ấu trùng Artemia.
Giá trị dinh dưỡng của Moina phụ thuộc vào lứa tuổi và loại thức ăn
mà chúng được nuôi dưỡng dù vậy lượng Protein vẫn chiếm 50% khối lượng
chất khô, hàm lượng chất béo trong Moina trưởng thành 20 - 27% khối lượng
chất khô và trong con non là 4 – 6% khối lượng chất khô (R.W. Rottmann, J.
Scott Graves, Craig Watson và Roy P.E. Yanong).
Trong giai đoạn lớn hơn từ 30-60 ngày trở đi cá Lăng được luyện để
sử dụng cám tự chế cho phù hợp khi ương nuôi đại trà. Công thức thức ăn
thông thường khi ương nuôi cá hương lên cá giống là sử dụng 50% bột cá và
50% cá mè đã lọc bỏ da và xương có bổ sung thêm vitamin C. Trong thí
nghiệm của mình tôi đã sử dụng đậu tương nấu chín để thay thế một phần bột
cá. Đậu tương là nguyên liệu được sử dụng nhiều trong nuôi trồng thủy sản,
nguồn nguyên liệu này dồi dào, sẵn có trong nước, và giá thành ít rẻ hơn so
với bột cá. Theo Wee và Shu nghiên cứu năm 1989 khi ương nuôi cá rô phi
bằng 58% đậu tương nấu chín cho tốc độ tăng trưởng và chuyển hóa thức ăn
tốt (Wee, Shu, 1989). Nghiên cứu năm 1987 của Shiau và các cộng sự khi
nuôi cá rô phi bằng cách thay thế bột cá bằng 24% đậu tương không cần bổ
sung methionine cũng cho kết quả tăng trưởng tốt (Shiau, 1987). Từ các lý do
trên mà tôi chọn đậu tương làm nguyên liệu thay thế.
2.3. Tình hình nghiên cứu cá Lăng chấm
2.3.1. Tình hình nghiên cứu cá Lăng chấm tại Trung Quốc
Trên thế giới cá Lăng chấm phân bố ở sông Tây Dương, sông Nguyên
(Vân Nam – Trung Quốc). Từ năm 1997 đến năm 2000, Trại cá giống đặc sản

Siluriformes, họ cá Lăng Bagridae, giống Hemibagrus và loài H.guttatus
(Lacépède,1803), cá Lăng chấm còn có các tên giống loài khác như Mystus
elongatus (Gunther,1865), Macrones elongatus, Mystus guttatus. Tên thường
gọi theo tên địa phương vùng có phân bố của cá Lăng là cá Lăng (lúc lớn) và
cá Quất (lúc nhỏ). Ngoài ra còn có tác giả Phạm Báu cũng có đề tài: “Điều tra
nghiên cứu hiện trạng và biện pháp bảo vệ, phục hồi một số loài cá hoang dã
quí hiếm có nguy cơ tuyệt chủng trên hệ thống sông Hồng: Cá Anh vũ
Semilabeo notabilis (Peters, 1880), cá Bỗng Spinibarbus denticulatus
10
(Oshima, 1926), cá Lăng Hemibagrus guttatus (Lacépède,1803), cá Chiên
Bagarius yarrelli (Sykes, 1841)”, thực hiện từ năm 1997 đến năm 1999.
Trong 2 năm 1997 và 1998, Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thuỷ sản I đã
tiến hành một số thử nghiệm sinh sản nhân tạo đối với cá Lăng chấm bố mẹ
thành thục trong điều kiện tự nhiên tại sông Lô, Gâm thuộc địa bàn tỉnh
Tuyên Quang và tại lòng hồ thuỷ điện Hoà Bình thuộc địa bàn tỉnh Hoà Bình.
Các thử nghiệm này đã thu được kết quả tỷ lệ rụng trứng khá cao, tuy nhiên tỷ
lệ thụ tinh và tỷ lệ nở rất thấp thậm chí trứng ấp không nở. Tổng số cá bột thu
được của các đợt thí nghiệm là 30con. Đến năm 2002 -2004, Viện Nghiên cứu
Nuôi trồng Thuỷ sản I đã thực hiện đề tài: “Nghiên cứu kỹ thuật sản xuất
giống cá Lăng chấm (Hemibagrus guttatus Lacépède,1803) trong điều kiện
nuôi vỗ” và đã thu được những kết quả khả quan. Tỷ lệ cá bố mẹ thành thục
và tỷ lệ cá đẻ đạt trên 90%, tỷ lệ thụ tinh trung bình đạt 76%, tỷ lệ nở trung
bình là 58%
Đề tài đã bố trí các thí nghiệm ương nuôi cá bột, cá hương và cá giống,
tìm ra mật độ nuôi, loại thức ăn phù hợp. Đề tài đã thu được 7800 cá bột,
5000 cá giống (năm 2003) và 194000 cá bột, trên 12 vạn cá hương và cá
giống (năm 2004). Tỷ lệ sống khi ương cá bột thành cá hương và ương từ cá
hương lên cá giống đạt trên 80%. Đề tài cũng đã thử nghiệm nuôi cá thương
phẩm bằng các loại thức ăn tươi sống, thức ăn chế biến có hàm lượng đạm thô
dao động 35 – 40 – 45%. Kết quả nuôi thương phẩm cho thấy tốc độ tăng


K

Sơ đồ 1: Sơ đồ khối nội dung nghiên cứu
Bể thí nghiệm: được tiến hành trên 9 bể
- Bể kính trong nhà có mái che, mỗi bể có thể tích 60lít nước
Nghiên cứu ảnh hưởng của nguyên liệu thức ăn lên sinh trưởng, tỉ lệ
sống và dị hình xương cá Lăng chấm (Hemibagrus guttatus
Thu mẫu và phân tích
Xác định tốc độ tăng trưởng, tỉ lệ sống và tỉ lệ dị hình xương.
Nhận xét
Kết luận và đề xuất ý kiến

CT TĂ 3
CT TĂ 2
CT TĂ 1
Ương cá hương lên cá giống bằng 3 CT thức ăn
12
- 9 bể được chia thành 3 khối, mỗi khối 3 bể là nghiệm thức của một
loại thức ăn
3.2.2. Thí nghiệm giai đoạn cá hương lên cá giống (30 ngày – 60 ngày)

50%

0%

0-6 ngày nuôi
13
- Phương pháp chế biến và bảo quản thức ăn
- Phương pháp thu mẫu
- Phương pháp bảo quản và nhuộm xương
- Phương pháp đánh giá tốc độ tăng trưởng và tỷ lệ sống
3.2.4. Các phương pháp thí nghiệm
3.2.4.1. Phương pháp chế biến và bảo quản thức ăn
- Nghiền: Đậu tương nghiền mịn
Cá mè lọc thịt bỏ xương, bỏ da xay nhuyễn
- Cân: Cân từng loại nguyên liệu theo tỷ lệ
- Phối trộn: Các nguyên liệu phối trộn theo đúng tỷ lệ thí nghiệm
- Hấp: Vì cá thí nghiệm ít, mỗi lần sử dụng thức ăn không nhiều nên
đưa vào nồi cơm điện để hấp cách thủy. Buộc kín thức ăn để không thấm
nước trong quá trình hấp
- Ép viên: Cá nhỏ nên không ép viên mà đưa qua rây nhỏ
(d=0,2mm).
- Bảo quản: Mỗi lần chế biến đủ sử dụng cho 2 ngày sau đó lại làm tiếp
mẻ mới. Cám sau khi chế biến cho vào ngăn mát tủ lạnh để bảo quản

3.2.4.2. Phương pháp bảo quản và nhuộm xương (theo Matsuoka,
1987)
B1: Lọc bỏ vẩy cá (cá thí nghiệm nhỏ nên không cần loại bỏ vẩy)
B2: Cố định mẫu vật trong dung dịch formalin 10 – 15% (trong 2-
3ngày)
B3: Bảo quản trong cồn 70 – 90% cho đến khi mang đi phân tích

dung dịch KOH chuyển màu đỏ tươi (quá trình này diễn ra trong 1h)
B9: Làm sạch mẫu bằng cách chuyển mẫu lần lượt qua dung dịch
glycerine : KOH với 3 tỉ lệ 3:1, 1:1, 1:3 đến khi mẫu trong suốt có thể quan
sát dễ thì chuyển sang bảo quản trong glycerine nguyên chất
3.2.4.3. Phương pháp đánh giá các chỉ tiêu
- Các yếu tố môi trường: Đo các yếu tố môi trường T
0
, pH 2 lần/ngày
vào lúc 7h, 14h.
- Các chỉ tiêu tăng trưởng:
Đo chiều dài tiêu chuẩn (cm) và cân khối lượng (g) của ấu trùng cá,
định kì 14ngày/lần với số lượng mẫu 30con/bể.
+ Tốc độ tăng trưởng % theo chiều dài:

100
2
12
(%) x
Ltd
LtdLtd
L



Ltd2, Ltd1: chiều dài cá tại thời điểm đo lần sau và lần trước
15
L(%): tốc độ tăng trưởng % theo chiều dài
+
Tốc độ tăng trưởng % theo khối lượng:


Cá DH
1,2,3
: Số lượng cá dị hình khi sử dụng thức ăn loại 1, 2, 3
N
1,2,3
: Tổng số cá sử dụng thức ăn loại 1, 2, 3
- Tỷ lệ sống
Dùng phương pháp múc, đếm ấu trùng cá Lăng bằng cốc đong khi bắt
đầu thí nghiệm và sau mỗi lần kiểm tra

100
1
S2
(%) x
S
TLS 

S2: Số ấu trùng khi kiểm tra
S1: Số ấu trùng ban đầu
3.2.4.4. Phương pháp phân tích và xử lý số liệu:
Số liệu được xử lý trên phần mềm Exel. Các thống kê được sử dụng với
mức độ tin cậy 95%
16
4. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
4.1. Một số yếu tố môi trường của hệ thống thí nghiệm
Hệ thống thí nghiệm là 1 hệ thống bể lọc tuần hoàn gồm có bể lắng, bể
lọc thô và 9 bể ương . Hệ thống này đặt dưới nhà có mái che nên các bể thí
nghiệm cùng chịu tác động của các yếu tố ngoại cảnh và các chế độ quản lý
như nhau.
Bảng 1: Một số yếu tố môi trường trong hệ thống bể thí nghiệm

Giá trị pH trong hệ thống thí nghiệm dao động trong khoảng 7 – 7,5. Sự
chênh lệch pH giữa buổi sáng và buổi chiều trong các ngày không đáng kể
khoảng 0,01 – 0,1. Giới hạn pH thích hợp cho nuôi thủy sản là 6,5 – 9 và cho
cá Lăng là 6,7 – 8,5 (Lawson, 1995). Như vậy, khoảng pH trong hệ thống thí
nghiệm thích hợp cho sự phát triển của ấu trùng cá.

Trích đoạn Ảnh hưởng của thức ăn đến dị hình xương
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status