Bộ Giáo dục và Đào tạo
Trờng Đại học Nha trang
Dơng Long Trì Nghiên cứu quy trình thu thập
số liệu thống kê khai thác hải sản
theo phơng pháp của FAO
Luận văn thạc sĩ Chuyên ngành : Công nghệ khai thác thủy sản
Mã số : HH2003
3.2.1. Chọn mẫu ngẫu nhiên đơn giản 18
3.2.2. Chọn mẫu ngẫu nhiên hệ thống 18
3.2.3. Chọn mẫu phân nhóm 19
3.2.4. Chọn mẫu cả khối 19
3.2.5. Chọn mẫu nhiều cấp 20
3.2.6. Sai số trong điều tra chọn mẫu 21
3.3. Phơng pháp nghiên cứu 21
Phần 4 - Nội dung v kết quả nghiên cứu 23
4.1. Hiện trạng thu thập số liệu thống kê khai thác thủy sản
ở Việt Nam
23
4.1.1. Phơng pháp thu thập số liệu thống kê khai thác thủy sản tại cơ quan
thống kê ngành
24
4.1.1.1. Chỉ tiêu thống kê khai thác thủy sản 24
4.1.1.2. Phơng pháp thu thập số liệu thống kê khai thác thủy sản 25
a. Thu thập số liệu thờng xuyên 25
b. Điều tra định kỳ hằng năm 29
4.1.1.3. Đánh giá phơng pháp thu thập số liệu khai thác thủy sản hiện tại
32
a. Chỉ tiêu và biểu mẫu thống kê 32 2
b. Phơng pháp thu thập số liệu 33
4.2. Phơng pháp điều tra chọn mẫu trong khai thác thủy
sản của FAO
34
4.2.1. Công thức ớc tính sản lợng thủy sản khai thác 35
58
4.4.2.3. Bớc 3 : Lập kế hoạch thực hiện điều tra mẫu 59
4.4.2.4. Bớc 4- Tiến hành thu thập số liệu 65
4.4.2.5. Bớc 5 - Ước tính sản lợng thủy sản khai thác 67
4.5. kết quả áp dụng thử nghiệm quy trình thu thập số liệu
tại huyện Vân đồn (Quảng Ninh)
72
4.5.1. Thông tin tóm tắt về địa điểm nghiên cứu 72
4.5.1.1. Một số thông tin về khai thác thủy sản của tỉnh Quảng Ninh 72
4.5.1.2. Một số thông tin về huyện Vân Đồn 73 3
4.5.2. Thực hiện quy trình thu thập số liệu thống kê khai thác thủy sản tại
huyện Vân Đồn
75
4.5.2.1. Chuẩn bị điều tra 75
4.5.2.2. Tiến hành điều tra 80
4.5.2.3. Kết quả điều tra mẫu 81
Phần 5 - kết luận v thảo luận 86
5.1. Đánh giá kết quả nghiên cứu 86
5.1.1. Về quy trình thu thập số liệu thống kê khai thác thủy sản 86
5.1.1.1. Phơng pháp thu thập số liệu 86
5.1.1.2. Kết quả thu thập số liệu 87
5.1.1.3. Nguồn lực thực hiện quy trình 88
5.1.2. Quy trình xây dựng đã giải quyết đợc những vấn đề tồn tại trong
thu thập số liệu thống kê khai thác thủy sản
89
5.1.2.1. Đa ra đợc quy trình thu thập dựa trên cơ sở khoa học 90
5.1.2.2. Nội dung số liệu đầy đủ, chi tiết phản ánh đợc thực trạng hoạt
4
Phần 1 - Mở đầu
1.1. Lý do chọn đề ti
Trong hơn một thập kỷ qua, ngành thủy sản Việt Nam đã có những
bớc phát triển nhanh chóng cả về số lợng và chất lợng, trở thành ngành
kinh tế quan trọng trong nền kinh tế quốc dân. Cùng với sự tăng trởng của
ngành thuỷ sản, thống kê thủy sản đã có những đóng góp quan trọng nhằm
cung cấp thông tin thống kê cho các cơ quan quản lý và lập kế hoạch ở các
cấp. Số liệu thông tin thống kê thủy sản là những căn cứ đầu vào không thể
thiếu của quá trình hình thành các quyết định quản lý và lập kế hoạch phát
triển thủy sản bền vững. Tuy nhiên, hoạt động thống kê hiện tại về năng lực sản xuất thủy sản,
nhất là thống kê sản lợng khai thác thủy sản, lại cha theo kịp và đáp ứng
đầy đủ nhu cầu của hoạt động điều hành và quản lý phát triển nghề cá bền
vững. Đặc biệt khi muốn đa thủy sản thành một nghề có quản lý thì lại rất
thiếu thông tin số liệu, trong đó có số liệu thống kê về sản lợng khai thác
thủy sản.
Nghề khai thác thủy sản, có những đặc thù riêng là hoạt động trên quy
mô nhỏ, phân tán dọc theo bờ biển, tàu thuyền đa dạng kiêm nghề nhiều,
thành phần sản lợng khai thác gồm nhiều loài thủy sản. Ngoài các cảng cá
lớn đợc đầu t xây dựng, còn quá nhiều bến cá nhỏ. Việc thống kê sản
lợng khai thác thủy sản thờng gặp nhiều khó khăn.
Vì vậy, việc xác dịnh phơng pháp và hình thành quy trình thu thập số
liệu thống kê khai thác hải sản phù hợp với điều kiện thực tiễn hoạt động
nghề cá ở Việt Nam là rất cần thiết nhằm góp phần nâng cao hiệu quả công
tác thống kê ngành, cải thiện chất lợng, độ tin cậy, tính kịp thời của số liệu
thống kê khai thác thủy sản có thể áp dụng trong điều kiện thực tiễn nghề cá
nớc ta.
1.4.2. ý nghĩa thực tiễn
Quy trình, phơng pháp thu thập số liệu thống kê khai thác hải sản
trong khuôn khổ nghiên cứu của đề tài sẽ góp phần cải thiện chất lợng, độ
tin cậy và tính kịp thời của số liệu thống kê nghề cá, nâng cao hiệu quả hoạt
động của hệ thống thống kê thủy sản đáp ứng yêu cầu quản lý và phát triển
bền vững của ngành thủy sản. 7
Phần 2 - Tổng quan vấn đề nghiên cứu
2.1. Tình hình nghiên cứu ở khu vực
Hiện nay, nhiều quốc gia trong khu vực đang bắt đầu quá trình phát
triển và quản lý nghề cá bền vững trên cơ sở các chính sách và chơng trình
đổi mới. Do vậy, thông tin thống kê thủy sản, trong đó có thông tin thống kê
khai thác hải sản, có tầm quan trọng nh là đầu vào thiết yếu cho quản lý và
số liệu thống kê nghề cá, nhất là trong khai thác thủy sản.
Để có hớng dẫn chung về thống kê khai thác thủy sản, Tổ chức
Lơng thực và Nông nghiệp Liên hiệp quốc (FAO) đã nghiên cứu, xây dựng
phơng pháp luận điều tra chọn mẫu áp dụng trong khai thác thủy sản tại các
nớc đang phát triển, trong đó có Việt Nam. Tổ chức nghề cá khu vực là
Trung tâm Phát triển nghề cá Đông Nam á (SEAFDEC) đã tổ chức nhiều hội
nghị, hội thảo khu vực để tìm giải pháp cải thiện chất lợng số liệu thống kê
trong lĩnh vực khai thác thủy sản, trong đó có phơng pháp điều tra mẫu. Tuy
nhiên, cho đến nay vẫn cha có đợc quy trình thu thập số liệu thống nhất áp
dụng trong khu vực và cũng cha có nghiên cứu, đánh giá kết quả áp dụng
phơng pháp này trong điều kiện của từng quốc gia.
2.2. Nghiên cứu trong nớc
Hệ thống thống kê trong ngành thủy sản bao gồm cơ quan thống kê
thuộc Bộ Thủy sản và bộ phận thống kê tại các Sở Thủy sản địa phơng. Do
hạn chế về nguồn lực (tài chính, nhân lực, phơng pháp thống kê) nên số liệu
thống kê có nhiều bất cập, thiếu tính đồng bộ, liên tục và độ tin cậy không
cao.
- Hiện tại, phơng pháp thu thập, xử lý số liệu trong thống kê thủy sản
chủ yếu dựa vào chế độ ghi chép ban đầu, kinh nghiệm, suy luận trên cơ sở 9
chuyên ngành (thời vụ, thời tiết, ng trờng, trình độ nuôi trồng thuỷ sản, đối
tợng nuôi trồng thuỷ sản). Trên cơ sở kết quả kiểm tra tình hình thực tế, kết
hợp với các thông tin, số liệu thu thập đợc, các cán bộ làm thống kê thủy
sản tổng hợp số liệu, tình hình, phân tích và lập báo cáo thống kê theo biểu
mẫu.
- Trong lĩnh vực thủy sản, hệ thống thống kê Nhà nớc (Tổng cục
Thống kê và các Cục Thống kê địa phơng) cũng tiến hành thu thập số liệu
thống kê thủy sản. Phơng pháp sử dụng chủ yếu dựa vào các báo cáo của
phạm vi nghiên cứu, đề tài cha xây dựng đợc phơng pháp thu thập, xử lý
số liệu cho thống kê thủy sản nói chung, và khai thác thủy sản nói riêng.
Trong sự phát triển nhanh chóng của ngành thủy sản, sản phẩm thông
tin thống kê thuỷ sản nói chung và số liệu thống kê thủy sản nói riêng đã và
đang là căn cứ quan trọng để đánh giá, phân tích hiện trạng cũng nh xu
hớng phát triển của ngành phục vụ yêu cầu ra quyết định và lập kế hoạch
của ngành theo hớng phát triển thủy sản bền vững và có quản lý. Tuy vậy,
số liệu và thông tin thống kê còn thiếu tính hệ thống, tản mạn, độ tin cậy
không cao, không kịp thời.
2.3. Những hạn chế trong thống kê khai thác thủy sản
2.3.1. Hạn chế chung của hệ thống thống kê thủy sản
Mặc dù hệ thống thống kê thủy sản đã có những đóng góp quan trọng
cho sự phát triển của ngành trong nhiều năm qua, nhng công tác thống kê
vẫn cha đáp ứng đợc yêu cầu quản lý ngành theo hớng phát triển bền
vững, hiệu quả và hội nhập quốc tế. Bên cạnh những nỗ lực nhằm cải tiến,
nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống nhằm cung cấp thông tin-số liệu
thống kê tin cậy, kịp thời đáp ứng đòi hỏi ngày càng cao của hoạt động quản
lý ngành, công tác thống kê đã bộc lộ nhiều hạn chế. Đó là : 11
- Nguồn nhân lực của các cơ quan chịu trách nhiệm thống kê thủy sản
ở cấp ngành và địa phơng thiếu cả về số lợng và chất lợng.
Cán bộ làm
công tác thống kê ở Bộ và ở các Sở Thủy sản chủ yếu là kiêm nhiệm, hoạt
động dựa vào kinh nghiệm, cha đợc đào tạo về kiến thức thống kê.
- Hệ thống thống kê của ngành thủy sản, bao gồm cơ quan thống kê
ngành và các bộ phận thống kê của các Sở Thủy sản địa phơng, cha thành
một hệ thống thống nhất.
- Chỉ tiêu thống kê và số liệu thống kê thu thập thiếu tính thống nhất và
báo về hiện trạng hoạt động khai thác, trên cơ sở đó đa ra chính sách,
quyết định và lập kế hoạch phát triển phù hợp.
- Thiếu phơng pháp và quy trình thu thập, phân tích số liệu khoa học.
Phơng pháp thu thập và xử lý số liệu dựa vào chế độ ghi chép ban đầu, kinh
nghiệm, suy luận trên cơ sở chuyên ngành (thời vụ, thời tiết, ng trờng ).
cho độ tin cậy của số liệu hiện có không cao. Việc tính toán, xử lý còn mang
nhiều tính chủ quan của ngời thực hiện. Do vậy, kết quả phân tích, đánh giá
hiện trạng, cung cấp thông tin dự báo thờng không sát với thực tế của hoạt
động sản xuất trên biển.
- Công tác thu thập số liệu thống kê không thờng xuyên dẫn đến tính
cập nhật không cao. Nội dung số liệu thu thập thiếu tính thống nhất nên việc
theo dõi, so sánh, phân tích số liệu theo chuỗi thời gian gặp khó khăn.
Từ những hạn chế trong thực tiễn của hoạt động thống kê thủy sản nói
chung và thống kê khai thác thủy sản nói riêng, Đề tài đã tập trung nghiên
cứu xây dựng quy trình thu thập số liệu thống kê trong khai thác thủy sản dựa
trên phơng pháp điều tra chọn mẫu của FAO. Nội dung nghiên cứu cụ thể :
- Đánh giá hiện trạng thống kê khai thác thủy sản của ngành thủy sản 13
- Xây dựng quy trình thu thập số liệu thống kê khai thác hải sản trên
cơ sở phơng pháp điều tra mẫu của FAO.
- Thử nghiệm áp dụng quy trình tại địa điểm nghiên cứu (huyện Vân
Đồn, Quảng Ninh).
- Đánh giá kết quả và đề xuất biện pháp thực hiện trong lĩnh vực thống
kê thủy sản của ngành.
- Điều tra toàn bộ (tổng điều tra) là phơng pháp thu thập tài liệu, số
liệu ở tất cả các đơn vị thuộc đối tợng nghiên cứu. Loại điều tra này có u
điểm là thu thập đầy đủ, chi tiết các số liệu về từng đơn vị và cho phép xác
định quy mô (độ lớn) của hiện tợng. Tuy nhiên, phơng pháp này cũng đòi
hỏi tốn kém cả về chi phí và thời gian. Chất lợng tài liệu thu đợc không cao
do diện điều tra quá rộng. Hơn nữa, trong nhiều trờng hợp, không cần thiết
phải điều tra toàn bộ thậm chí có những trờng hợp không thể tiến hành điều
tra toàn bộ đợc. 15
- Điều tra không toàn bộ là phơng pháp thu thập tài liệu, số liệu của
một số đơn vị nhất định đợc chọn ra từ tổng thể chung. Do cách chọn các
đơn vị để điều tra thực tế khác nhau nên có các loại điều tra khác nhau nh
điều tra chọn mẫu, điều tra trọng điểm hoặc điều tra chuyên đề, trong đó
điều tra chọn mẫu là loại điều tra phổ biến, thờng đợc sử dụng nhất
Trong thực tế, khi phải nghiên cứu một tập hợp các phần tử đồng nhất
theo những dấu hiệu nhất định, đôi khi ngời ta phải sử dụng phơng pháp
thống kê toàn bộ tập hợp đó và tiến hành phân tích từng phần tử. Tuy nhiên,
trong rất nhiều trờng hợp, đặc biệt là trong thống kê khai thác thuỷ sản,
phơng pháp thống kê toàn bộ là rất khó khả thi.
Trong khai thác thuỷ sản, nhất là nghề cá quy mô nhỏ, các bến cá
thờng nằm phân tán dọc bờ biển, nên sản lợng cá về bến không tập trung ở
các cảng lớn và cũng không về cùng một thời điểm. Do đó, nếu muốn thực
hiện tổng điều tra sản lợng thủy sản hằng tháng, cần bố trí một số lợng lớn
cán bộ điều tra ở tất cả các bến cá để ghi chép đầy đủ sản lợng của tất cả
các tàu đã đi biển trong tháng. Công việc này đòi hỏi lợng kinh phí và nhân
lực vợt quá khả năng ngân sách cho hoạt động thống kê. Hơn nữa, trong
thực tế, phép đo lờng bao giờ cũng có sai số (trừ phép đếm).
Ví dụ, để xác định khối lợng thủy sản khai thác đợc tại một bến cá,
nhanh hơn, phù hợp với tính kịp thời của thông tin.
Phạm vi nghiên cứu sâu hơn : Do thực hiện đối với các mẫu đợc
lựa chọn, nên có thể mở rộng nội dung điều tra, tài liệu thu thập
phản ánh đợc nhiều mặt của hiện tợng nghiên cứu.
Giảm sai sót phi chọn mẫu : Do không cần huy động nhiều ngời
tham gia, nên có thể dùng những ngời có chuyên môn và đợc đào
tạo kỹ về phơng pháp thu thập. Quá trình quan sát cũng vì thế cẩn 17
thận hơn và kết quả xử lý đạt hiệu quả cao hơn. Vì vậy, có thể hạn
chế sai sót do ghi chép, thu thập.
Tuy nhiên, điều tra chọn mẫu cũng có hạn chế :
Do tiến hành thu thập số liệu trên một số đơn vị điều tra mẫu để suy
rộng cho tổng thể nên luôn xuất hiện sai số chọn mẫu. Sai số này càng lớn
khi mẫu đợc lựa chọn không mang tính chất đại diện cho tổng thể.
Có thể thấy, phơng pháp điều tra chọn mẫu có nhiều u điểm nh tính
kịp thời cao, tiết kiệm chi phí và nguồn nhân lực, nội dung điều tra có thể mở
rộng, số liệu thu mẫu có độ tin cậy cao và không đòi hỏi công tác tổ chức
lớn. Do vậy, sử dụng điều tra chọn mẫu trong khai thác thủy sản là phơng
pháp thu thập, xử lý số liệu phù hợp với thực tiễn.
Bên cạnh thực hiện điều tra chọn mẫu để thu thập số liệu thờng
xuyên, việc tiến hành tổng điều tra trong lĩnh vực thủy sản vẫn rất cần thiết
để đánh giá lại toàn bộ hiện trạng của ngành, trong đó có khai thác thủy sản,
làm cơ sở dữ liệu nền thực hiện các hoạt động điều tra chọn mẫu. Tuy nhiên,
do tổng điều tra đòi hỏi nguồn nhân lực lớn, chi phí cao và lại thực hiện trên
phạm vi rộng, nên tổng điều tra không thể tiến hành thờng xuyên đợc.
Tổng điều tra nên đợc thực hiện 3 năm hoặc 5 năm một lần. Để thực hiện
tổng điều tra có kết quả cần có phơng án điều tra cụ thể và kế hoạch thực
hiện chi tiết.
Ví dụ : Điều tra sản lợng khai thác thuỷ sản của một xã, việc chọn
mẫu đợc thực hiện nh sau :
- Lập danh sách tàu, thuyền khai thác thuỷ sản và sắp xếp theo tên chủ
tàu trong bảng chữ cái hoặc theo thứ tự số đăng ký của tàu, thuyền. 19
- Chọn ngẫu nhiên tàu, thuyền đầu tiên. Ví dụ, trong danh sách theo
tên chủ tàu, chọn ngời có số thứ tự là 2. Khoảng cách quy định lựa
chọn là 5. Các tàu đợc chọn tiếp theo sẽ có số thứ tự lần lợt là 7,
12, 17,
Hạn chế của cách này là dễ có sai số hệ thống, nếu tổng thể không
đợc sắp xếp theo thứ tự ngẫu nhiên mà theo một ý định chủ quan nào đó.
Tuy nhiên, do thực hiện đơn giản, nên chọn mẫu ngẫu nhiên hệ thống thờng
đợc dùng ở cấp chọn mẫu cuối cùng khi tổng thể tơng đối đồng nhất.
3.2.3. Chọn mẫu phân nhóm
Trớc khi chọn, tổng thể đợc phân ra thành các nhóm có cùng mức
độ đồng nhất theo một hoặc vài tiêu chí nào đó. Tiếp đó, chọn ra các phần tử
đại diện cho từng nhóm để thực hiện điều tra.
Ví dụ, trớc khi thực hiện điều tra sản lợng thủy sản khai thác, tiến
hành phân loại tàu thuyền theo nhóm công suất, theo nghề, Đây là những
yếu tố ảnh hởng đến đối tợng và sản lợng đánh bắt. Sau đó, sử dụng hai
cách chọn mẫu ngẫu nhiên ở trên để chọn ra các đơn vị điều tra cuối cùng.
3.2.4. Chọn mẫu cả khối
Tổng thể nghiên cứu đợc chia thành nhiều khối đơn vị và tiến hành
chọn ngẫu nhiên một số khối. Thực hiện điều tra tất cả các đơn vị trong khối
đã chọn. Để thực hiện theo cách này, tổng thể phải đợc chia thành các khối
theo nguyên tắc :
- Mỗi đơn vị của tổng thể chỉ đợc phân vào một khối
- Mỗi khối chứa nhiều đơn vị khác nhau về dấu hiệu nghiên cứu, sao
nêu trên với nhau. 21
3.2.6. Sai số trong điều tra chọn mẫu
Vì kết quả điều tra chọn mẫu là cơ sở để suy rộng cho tổng thể, nên
trong điều tra chọn mẫu sẽ xuất hiện sai số. Đó là sự khác biệt giữa số liệu
thu đợc từ mẫu điều tra với số liệu thực của tổng thể. Thờng có hai loại sai
số : sai số chọn mẫu và sai số không chọn mẫu.
- Sai số chọn mẫu là sai số do việc chọn các đơn vị mẫu không mang
tính đại diện gây ra. Trong thực tế, không có mẫu nào có thể đại diện chính
xác cho tổng thể. Để giảm sai số này chỉ có thể tăng quy mô của mẫu.
- Sai số không chọn mẫu là sai số xuất hiện không do quá trình chọn
mẫu gây ra. Sai số này do các nguyên nhân :
+ Đơn vị đợc điều tra trả lời sai vì hiểu không đúng nội dung, không
nhớ chính xác hoặc cố ý cung cấp thông tin sai.
+ Ngời thu thập số liệu ghi chép sai, bỏ sót một số đơn vị mẫu
+ Do phơng pháp đếm, đo lờng sai hay do quá trình hiệu chỉnh số
liệu sai
Ngợc với sai số chọn mẫu, sai số không chọn mẫu tăng khi số mẫu
tăng lên. Để giảm sai số này, khi tiến hành điều tra cần chuẩn bị kỹ nội dung
điều tra, tập huấn cho ngời thu mẫu và kiểm tra độ chính xác của quá trình
điều tra.
Trong thực tế, khó có thể hạn chế đồng thời cả hai sai số này. Khi tăng
số lợng mẫu điều tra, sai số chọn mẫu sẽ giảm nhng sai số không chọn
mẫu lại tăng và ngợc lại. Do vậy, việc lựa chọn quy mô mẫu có ý nghĩa
quan trọng đối với kết quả tính toán sản lợng thủy sản khai thác.
3.3. Phơng pháp nghiên cứu
Trên cơ sở phạm vi và nội dung nghiên cứu, Đề tài sử dụng phơng
pháp nghiên cứu sau :
4.1. Hiện trạng thu thập số liệu thống kê khai thác
thủy sản ở Việt Nam
Theo Luật Thống kê (có hiệu lực từ ngày 01/01/2004), hệ thống thống
kê Việt Nam bao gồm hệ thống thống kê Nhà nớc do Tổng cục Thống kê
thực hiện và hệ thống thống kê chuyên ngành.
Trong lĩnh vực thủy sản, ngoài số liệu thống kê thủy sản trong tổ hợp
số liệu toàn diện về mọi mặt hoạt động kinh tế - xã hội của quốc gia do Tổng
cục Thống kê với hệ thống ngành dọc từ Trung ơng đến địa phơng thực
hiện, hệ thống thống kê của ngành thủy sản thu thập, tổng hợp các số liệu chi
tiết chuyên ngành, cung cấp các thông tin cho công tác điều hành, quản lý
phát triển của ngành thủy sản.
Hệ thống thống kê thủy sản của ngành thuỷ sản bao gồm cơ quan chịu
trách nhiệm thống kê thủy sản ở cấp Bộ (do bộ phận Thống kê thuộc Vụ Kế
hoạch Tài chính tổ chức, chỉ đạo và thực hiện nhằm phục vụ công tác điều
hành quản lý và lập kế hoạch của ngành) và bộ phận thống kê thủy sản thuộc
các Sở Thủy sản địa phơng (chịu trách nhiệm thực hiện công tác thống kê
thủy sản của địa phơng). Ngoài ra, Chi cục Bảo vệ nguồn lợi thủy sản thuộc
Sở Thủy sản địa phơng là đơn vị theo dõi số liệu thống kê về tàu thuyền
khai thác thủy sản có đăng ký. Trung tâm Khuyến ng tỉnh (Sở Thủy sản)
cũng thu thập số liệu thống kê về nuôi trồng thuỷ sản trong phạm vi hoạt
động khuyến ng.
Trong phạm vi nghiên cứu, đề tài tập trung đánh giá, phân tích hiện
trạng thu thập số liệu thống kê trong lĩnh vực khai thác thủy sản. 24
4.1.1. Phơng pháp thu thập số liệu thống kê khai thác thủy sản tại cơ
quan thống kê ngành
Nh đã biết, dữ liệu thủy sản tin cậy đợc đánh giá là công cụ quan