BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
LÊ THỊ PHƯƠNG QUYÊN GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN NGÀNH DU LỊCH
TỈNH HẬU GIANG ĐẾN NĂM 2020
Chuyên ngành: Quản trị kinh doanh
Mã số : 60 34 05 LUẬN VĂN THẠC SĨ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS. NGUYỄN ĐỀ THANH
NHA TRANG –NĂM 2012
1. APEC : Diễn đàn hợp tác kinh tế Châu Á - Thái Bình Dương
2. Asian : Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á
3. BVHTTDL : Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch
4. ĐBSCL : Đồng bằng sông Cửu Long
5. FDI : Vốn đầu tư trực tiếp
6. GDP : Tổng sản phẩm quốc nội
7. HĐND : Hội đồng nhân dân
8. QLNN : Quản lý nhà nước
9. SVHTT & DL : Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch
10. TCDL : Tổng cục du lịch
11. WTO : Tổ chức thương mại thế giới
12. VHTT : Văn hóa thông tin
13. VHTTDL : Văn hóa, thể thao và du lịch
14. VESAK : Lễ Phật đản
15. VNĐ : Đồng Việt Nam
16. UBND : Uỷ ban nhân dân
iv
MỤC LỤC
Trang
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT SỬ DỤNG TRONG LUẬN VĂN iii
MỤC LỤC iv
DANH MỤC BẢNG BIỂU vii
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: NHỮNG LÝ LUẬN CHUNG VỀ DU LỊCH 5
1.1 Du lịch và vai trò của phát triển du lịch trong sự phát triển 5
2.2.3.3 Các phương tiện vận chuyển 30
2.2.4 Cơ sở hạ tầng 30
2.2.5 Nguồn nhân lực ngành du lịch 30
2.2.6 Sản phẩm du lịch và quảng bá xúc tiến du lịch 32
2.2.7. Đầu tư phát triển du lịch 34
2.2.8 Thực trạng hoạt động du lịch tại tỉnh Hậu Giang 35
2.2.8.1 Khách du lịch 35
2.2.8.2 Thu nhập du lịch 37
2.3 Đánh giá chung về thực trạng phát triển du lịch tại tỉnh Hậu Giang 38
2.3.1 Những thành tựu đạt được 38
2.3.2 Những hạn chế và nguyên nhân 40
2.3.2.1 Hạn chế 40
2.3.2.2 Nguyên nhân 40
2.4 Phân tích các điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội, thách thức ngành du lịch Hậu
Giang 42
2.4.1 Điểm mạnh 42
2.4.2 Điểm yếu 42
2.4.3 Cơ hội 44
2.4.4 Thách thức 45
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 47
Chương 3: GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN DU LỊCH TẠI TỈNH HẬU GIANG
ĐẾN NĂM 2020 48
3.1 Quan điểm phát triển du lịch 48
3.1.1 Quan điểm phát triển du lịch của Đảng và Nhà nước ta 48
vi
3.1.2 Quan điểm phát triển du lịch của tỉnh Hậu Giang 49
3.1.2.1 Quan điểm trước mắt 49
3.1.2.2 Quan điểm lâu dài 50
3.2 Giải pháp phát triển du lịch tại tỉnh Hậu Giang đến năm 2020 50
DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1: Lao động du lịch tỉnh Hậu Giang từ 2005 - 2011 31
Bảng 2.2. Hiện trạng khách du lịch đến Hậu Giang thời kỳ 2005 - 2011 35
Bảng 2.3. Lượng khách du lịch của Hậu Giang so với một số địa phương trong vùng 36
Bảng 2.4. Thu nhập từ du lịch và cơ cấu doanh thu của du lịch Hậu Giang 37
1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Du lịch ngày càng trở thành lĩnh vực kinh tế mũi nhọn, là “con gà đẻ quả trứng
vàng” vì hoạt động du lịch không những ngày càng góp phần mang lại lợi ích kinh tế
to lớn cho đất nước mà còn đem lại hiệu quả tích cực cho xã hội.
Trong những năm qua được sự quan tâm của Đảng, Nhà nước và sự nỗ lực của
các cấp lãnh đạo địa phương, du lịch Hậu Giang đã có những bước phát triển nhanh
chóng, đóng góp không nhỏ đối với sự phát triển kinh tế - xã hội, chuyển dịch cơ cấu
kinh tế của tỉnh. Tuy nhiên, du lịch Hậu Giang còn vẫn còn nhiều hạn chế, bất cập nên
chưa phát triển tương xứng với tiềm năng vốn có, du lịch chưa thu hút mạnh các nguồn
lực nhằm tạo ra các sản phẩm du lịch hấp dẫn, có khả năng cạnh tranh cao giữa các
tỉnh trong khu vực và cả nước.
Hậu Giang là tỉnh được chia tách từ tỉnh Cần Thơ (cũ) từ đầu năm 2004 thuộc
tiểu vùng du lịch đồng bằng sông Cửu Long, là địa phương có nhiều tiềm năng phát
triển du lịch, đặc biệt là du lịch sinh thái miệt vườn.
Hậu Giang có vị trí vệ tinh trong khu vực và chịu ảnh hưởng lớn của du lịch
thành phố Cần Thơ, là một địa bàn trọng điểm phát triển du lịch miền Tây Nam bộ,
đóng vai trò quan trọng đối với du lịch cả nước.
Từ năm 2004 đến nay, kinh tế xã hội của tỉnh đã có sự phát triển tương đối
nhanh và ổn định. Trong đó, cơ sở vật chất, hạ tầng kỹ thuật phục vụ du lịch được chú
trọng và không ngừng phát triển. Tuy nhiên ngành du lịch của tỉnh Hậu Giang là lĩnh
vực kinh tế còn khá non trẻ, đóng góp kinh tế chung cho tỉnh còn khá khiêm tốn. Để
Những đề tài, công trình nghiên cứu trên đã góp phần làm sáng tỏ cơ sở lý luận,
quan điểm, đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước và thực trạng du lịch của các
địa phương trong thời gian qua.Tuy nhiên, chưa có công trình khoa học nào đi vào
nghiên cứu du lịch ở tỉnh Hậu Giang. Trên cơ sở kế thừa những kết quả nghiên cứu
của các nhà khoa học đi trước, tác giả của luận văn mong muốn góp phần vào việc giải
bài toán làm cho ngành du lịch Hậu Giang phát triển và đạt hiệu quả kinh tế cao trong
những năm tới.
3
3. Mục tiêu nghiên cứu:
3.1 Mục tiêu tổng quát
Nhằm phát triển du lịch ngang tầm với tiềm năng và thế mạnh sẵn có của vùng,
góp phần quan trọng vào phát triển kinh tế - xã hội. Phấn đấu trong thời gian tới, du
lịch trở thành ngành kinh tế quan trọng và Hậu Giang trở thành địa bàn động lực để
đẩy mạnh phát triển du lịch của vùng.
3.2 Mục tiêu cụ thể
Trên cơ sở phân tích, đánh giá hiện trạng phát triển du lịch của tỉnh Hậu Giang
trong thời gian qua, từ đó đưa ra những quan điểm và giải pháp phát triển ngành du
lịch Hậu Giang đến năm 2020, tác giả hy vọng đề tài sẽ là luận cứ khoa học làm cơ sở
cho các cấp Đảng và chính quyền của tỉnh trong việc quy hoạch, phát triển du lịch Hậu
Giang trong thời kỳ đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hóa - hiện đại hóa.
4. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được những mục tiêu đặt ra, luận văn tập trung hoàn thành những nhiệm
vụ chủ yếu sau đây:
- Hệ thống hóa những kiến thức lý luận cơ bản về du lịch.
- Thu thập, nghiên cứu, phân tích thực trạng phát triển du lịch tại tỉnh Hậu
Giang.
- Đề xuất những giải pháp để phát triển du lịch tại tỉnh Hậu Giang.
5. Đối tượng nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu thực trạng du lịch của Tỉnh trong những năm qua và đưa
Ngoài phần mục lục, mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung
chính của luận văn được chia thành 3 chương:
- Chương 1. Những lý luận chung về du lịch.
- Chương 2. Thực trạng hoạt động du lịch tại tỉnh Hậu Giang.
- Chương 3. Giải pháp để phát triển du lịch tại tỉnh Hậu Giang.
5
Chương 1
NHỮNG LÝ LUẬN CHUNG VỀ DU LỊCH
1.1 Du lịch và vai trò của phát triển du lịch trong sự phát triển
1.1.1 Du lịch
Trên thế giới có rất nhiều khái niệm khác nhau về du lịch:
Theo liên hiệp quốc tế các tổ chức lữ hành chính thức (International Union of
Official Travell Oragnization UIOTO): Du lịch được hiểu là hành động du hành đến
một nước khác với địa điểm cư trú thường xuyên của mình nhằm mục đích không phải
làm ăn, tức không phải làm một nghề hay một việc kiếm tiền sinh sống.
Tại hội nghị liên hiệp quốc về du lịch họp tại Roma - Italia (21/8 - 5/9/1963),
các chuyên gia đưa ra định nghĩa về du lịch: Du lịch là tổng hợp mối quan hệ, hiện
tượng và các hoạt động kinh tế bắt nguồn từ các cuộc hành trình và lưu trú của cá nhân
hay tập thể ở bên ngoài nơi ở thường xuyên của họ hay ngoài nước họ với mục đích
hòa bình. Nói họ đến lưu trú không phải là nơi làm việc của họ.
Theo các nhà du lịch Trung Quốc thì: Hoạt động du lịch là tổng hòa hàng loạt
quan hệ và hiện tượng lấy sự tồn tại và phát triển kinh tế, xã hội nhất định làm cơ sở,
lấy chủ thể du lịch, khách thể du lịch và trung gian du lịch làm điều kiện.
Theo I.I.Pirôgionic, 1985 thì: Du lịch là một dạng hoạt động của dân cư trong
thời gian rỗi liên quan với sự di chuyển và lưu lại tạm thời bên ngoài nơi cư trú thường
xuyên nhằm nghỉ ngơi, chữa bệnh, phát triển thể chất và tinh thần, nâng cao trình độ
Nhiều nước trên thế giới trong đó có Việt Nam đã chuyển sang chế độ làm việc
5 ngày một tuần. Như vậy thời gian rỗi của người dân ngày càng tăng và do đó họ có
nhiều điều kiện để tham gia vào các cuộc hành trình du lịch. Điều này cho phép các tổ
chức du lịch thu hút được nhiều khách du lịch đến cơ sở của mình.
- Điều kiện vật chất:
Thu nhập là yếu tố quan trọng có ảnh hưởng quyết định tới nhu cầu đi du lịch.
Bởi để thực hiện được chuyến đi du lịch thì cần phải có một lượng tiền cần thiết, nên
mức sống của con người càng cao thì việc đi du lịch sẽ trở thành một nhu cầu không thể
thiếu và ngược lại. Điều kiện cơ sở vật chất cũng ảnh hưởng đến việc bố trí khai thác
chương trình du lịch cho du khách có thu nhập khác nhau.
7
- Trình độ văn hóa của du khách:
Sự phát triển của du lịch phụ thuộc vào trình độ văn hóa chung của nhân dân ở
một đất nước. Khách du lịch là những người có trình độ văn hóa nhất định, đi du lịch họ
muốn khám phá, tìm hiểu thế giới xung quanh, mở rộng giao lưu… Trái lại người có
trình độ văn hóa thấp mặc dù có nhiều thời gian nhàn rỗi, có nhiều tiền, họ cũng ít nghĩ
tới việc đi du lịch.
- Giao thông vận tải thuận tiện:
Đây là nhân tố rất quan trọng, các phương tiện giao thông vận tải không tốt,
không đáp ứng nhu cầu du khách sẽ rất khó khai thác các tiềm năng du lịch ở từng địa
phương, từng quốc gia.
- Chính trị ổn định:
Là điều kiện đặc biệt quan trọng có tác dụng hoặc thúc đẩy hoặc kìm hãm sự
phát triển của du lịch trong nước và quốc tế. Một quốc gia có nền chính trị vững chắc,
có đường lối hòa nhập cộng đồng, làm bạn với tất cả các nước…. sẽ góp phần thúc đẩy
du lịch phát triển.
Với việc trở thành thành viên WTO, uỷ viên không thường trực của Hội đồng
Liên hiệp quốc và những thành tựu kinh tế vĩ mô, sự ổn định chính trị, Việt Nam đang
chiếm được cảm tình của thế giới. Việc tổ chức thành công các sự kiện của quốc tế
trọng trong việc thu hút đầu tư du lịch. Khách du lịch đến để tham quan, học tập kinh
nghiệm sản xuất kinh doanh, đồng thời mở rộng giao lưu thương mại.
- Các sự kiện đặc biệt, các ngày lễ hội truyền thống của địa phương.
Đây là nhân tố quan trọng, khả năng thu hút đông đảo khách du lịch. Không chỉ
thế, các nhà kinh doanh du lịch tận dụng triệt để để quảng cáo, quảng bá các sản phẩm
du lịch đặc thù.
* Các loại hình du lịch:
- Căn cứ vào quốc tịch của du khách bao gồm du khách trong nước và du khách
nước ngoài. Riêng, du khách nước ngoài gồm 2 loại:
+ Du lịch chủ động: là khách nước ngoài đến Việt nam làm ăn mua bán các dịch vụ
bằng ngoại tệ loại này đem lại hiệu quả cao cho địa phương, đất nước mà du khách đến.
9
+ Du lịch bị động: là khách nước ngoài đến Việt nam du lịch bằng chính thu
nhập của họ gắn liền với việc chi tiêu ngoại tệ.
- Căn cứ vào nhu cầu của khách du lịch bao gồm:
+ Du lịch chữa bệnh: là nhu cầu của khách đến chữa bệnh, phục hồi sức khỏe…
+ Du lịch thể thao: là nhu cầu của khách gắn liền với một môn thể thao. Trong
đó, có du lịch thể thao chủ động như: tham gia thi đấu một môn thể thao nào đó và du lịch
thể thao bị động là du khách đến xem một giải thi đấu cụ thể.
+ Du lịch nghỉ ngơi: chỉ đơn giản là muốn gắn liền thiên nhiên và thay đổi không
khí môi trường sống hàng ngày.
+ Du lịch văn hóa: khách loại này thường tham quan các di tích lịch sử, kiến trúc,
kinh tế, xã hội, phong tục, tập quán của nhân dân nơi họ viếng thăm.
+ Du lịch công vụ: là khách du lịch đi dự hội nghị, hội thảo, hội chợ, lễ kỹ
niệm… và họ thường có nhu cầu rất cao về các loại hình dịch vụ phục vụ như: ăn nghĩ,
tham quan, vui chơi, giải trí…
+ Du lịch có tính chất xã hội: là loại du khách đi thăm viếng người thân, quê
hương, dự các đám tiệc hoặc các loại hình tín ngưỡng tâm linh.
- Căn cứ vào phương tiện giao thông mà khách sử dụng: thông thường khách có
tiếp tục tiến bước với tốc độ cao trên con đường phát triển. Sự tăng trưởng nhanh chóng
góp phần tăng đầu tư cả trong khu vực nhà nước và tư nhân, nhưng cũng tạo ra khoảng
cách giữa khu vực thành thị và nông thôn, muốn tìm kiếm cơ hội tham gia từ sự phát
triển nhanh chóng nhằm kiếm thêm thu nhập bổ sung vào nguồn thu nhập, các tổ chức,
cá nhân đã tăng cường khả năng tiếp cận đến các dịch vụ xã hội.
Chính quyền các cấp nhận thức rõ vấn đề này, tập trung phát triển những ngành
có thể tạo ra việc làm, nâng cao sức sản xuất và tốc độ tăng trưởng một cách nhanh
chóng và bền vững. Một trong những ngành như vậy, có thể khẳng định có tiềm năng
nhất là du lịch. Bởi vì, Việt Nam là một đất nước xinh đẹp và tuyệt vời với nền văn hóa
đậm đà, phong cảnh đẹp và con người mến khách.
Xuất phát từ những vấn đề đó, Nhà nước Việt Nam xác định du lịch là ngành
kinh tế tổng hợp quan trọng trong sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước, mang nội
11
dung văn hóa sâu sắc, có tính liên ngành, liên vùng và xã hội hóa cao. Chính phủ xác
định phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn nhằm đáp ứng nhu cầu tham
quan, giải trí, nghĩ dưỡng, phục hồi sức khỏe của nhân dân và khách du lịch quốc tế; góp
phần nâng cao dân trí, tạo việc làm và phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Điều này
phản ánh vai trò quan trọng mà du lịch đã và đang tiếp tục mang lại cho nền kinh tế
quốc dân.
Du lịch được mệnh danh là “con gà đẻ trứng vàng” bởi vì nó đóng vai trò lớn
đối với sự phát triển kinh tế. Thu nhập du lịch tăng lên hàng năm bất chấp suy thoái
kinh tế và những khủng hoảng về tài chính toàn cầu. Theo thống kê của TCDL, năm
2007, lượng khách quốc tế đến Việt Nam đạt 4,2 triệu lượt, đem về cho đất nước
51.000 tỷ đồng, tương đương 4 tỷ USD. Năm 2008, đón 4,8 triệu lượt khách quốc tế,
thu nhập du lịch đạt 64.000 tỷ đồng.
Hiệu quả chiều sâu về nhiều mặt của du lịch ngày càng rõ nét: ở đâu du lịch
phát triển, ở đó diện mạo đô thị, nông thôn được chỉnh trang, sạch đẹp hơn, đời sống
nhân dân được cải thiện rõ rệt. Hoạt động du lịch đã thúc đẩy các ngành khác phát
triển, tạo ra khả năng tiêu thụ tại chỗ cho hàng hoá và dịch vụ; mỗi năm, hàng chục lễ
2008. Du lịch là một trong 5 ngành có thu nhập ngoại tệ lớn nhất đất nước chiếm trên
55% cơ cấu xuất khẩu dịch vụ.
Cùng với sự phát triển kinh tế - xã hội, Du lịch đang có những bước phát triển
mạnh, ngày càng đóng góp lớn hơn cho nền kinh tế. Hoạt động du lịch diễn ra sôi động
từ đô thị đến nông thôn, từ vùng ven biển, hải đảo đến vùng núi, cao nguyên. Sự phát
triển du lịch góp phần thay đổi diện mạo đô thị và nông thôn, tạo thêm nhiều việc làm
cho các tầng lớp dân cư trong xã hội.
Tính đến nay, các hoạt động du lịch đã thu hút trên 1 triệu lao động trực tiếp và
gián tiếp, ở đâu phát triển du lịch, ở đó đời sống của cộng đồng dân cư được cải thiện,
trình độ dân trí được nâng cao, góp phần quan trọng vào xóa đói giảm nghèo, cải thiện
cuộc sống cho nhân dân.
Việc thống nhất, đẩy mạnh hợp tác, xây dựng phát triển sản phẩm du lịch liên
vùng hấp dẫn, hỗ trợ nhau trong công tác tuyên truyền quảng bá thu hút du khách,
cùng quan tâm tới vấn đề xóa đói giảm nghèo, tích cực đẩy mạnh xã hội hóa, bảo tồn
và phát huy bản sắc văn hóa của mỗi quốc gia, vùng lãnh thổ, thu hút rộng rãi sự tham
gia của cộng đồng để xây dựng các sản phẩm du lịch đặc sắc, tạo sức hấp dẫn du lịch
13
cho từng vùng miền, từng tiểu khu vực, huy động sự tham gia của nhiều thành phần
kinh tế, du lịch châu Á- Thái Bình Dương sẽ đạt được những thành quả sâu rộng hơn,
hướng tới mục tiêu xóa bỏ đói nghèo, phát triển bền vững, đem lại cuộc sống tốt đẹp
hơn cho nhân dân trong khu vực, củng cố tình đoàn kết gắn bó, hiểu biết lẫn nhau giữa
các dân tộc để phát triển kinh tế - xã hội.
1.2.3 Hiệu quả kinh tế
Trong những năm qua ngành du lịch đã có những bước phát triển vượt bậc, góp
phần giới thiệu quảng bá hình ảnh đất nước, con người tới bạn bè năm châu, đồng thời
là một ngành kinh tế quan trọng, mang lại thu nhập ngày một lớn cho xã hội. Ngành du
lịch Việt Nam đã hoàn thành tốt nhiệm vụ mà Đảng và Nhà nước giao phó, đã xây
dựng ngành trưởng thành và phát triển về mọi mặt, từng bước hội đủ điều kiện của một
ngành kinh tế mũi nhọn: Có tốc độ tăng trưởng GDP và tỷ trọng GDP tăng nhanh và
dân cư, đặc biệt là thanh niên mới lập nghiệp và phụ nữ.
1.3 Quan điểm về phát triển du lịch trong thời kỳ đổi mới
Quan điểm chủ đạo xuyên suốt đối với phát triển du lịch hiện nay là nhằm đưa
du lịch trở thành ngành kinh tế có đóng góp thực sự quan trọng vào công cuộc phát
triển đất nước, góp phần tích cực vào quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, vào nổ lực
xóa đói giảm nghèo cho người dân đảm bảo an ninh quốc phòng và góp phần đa dạng
hóa sản phẩm du lịch của cả nước nâng cao vị thế ngành du lịch trên cơ sở khai thác có
hiệu quả và bền vững những lợi thế về vị trí, tài nguyên của vùng.
1.4 Những thuận lợi và khó khăn trong hoạt động kinh doanh du lịch ở
Việt Nam
1.4.1 Những thuận lợi
Trước hết, phải khẳng định rằng, Việt Nam là một đất nước có nhiều tiềm năng
du lịch với nhiều cảnh quan tự nhiên đẹp, phong phú và đa dạng khắp trên mọi miền
đất nước, có sức hấp dẫn đối với du khách. Hơn nữa, Việt Nam đã từng trải qua các
cuộc kháng chiến thần kỳ để lại cho lịch sử dân tộc những dấu ấn hào hùng có sức lôi
cuốn du khách muốn tìm hiểu về lịch sử Việt Nam. Đặc biệt, dân tộc Việt Nam có
truyền thống hiếu khách đây là một trong những yếu tố gây hứng thú đối với du khách.
Hiện nay Đảng và Nhà nước Việt Nam luôn quan tâm tới việc tạo môi trường
đầu tư thông thoáng, tạo điều kiện thuận lợi và khuyến khích các thành phần kinh tế có
thể tham gia đầu tư vào lĩnh vực du lịch, cạnh tranh lành mạnh và bình đẳng trước
pháp luật.
Đảng và Nhà nước đã và đang quan tâm tới phát triển cơ sở hạ tầng kinh tế, xã
15
hội, trong đó đặc biệt là hạ tầng giao thông vận tải, thông tin, dịch vụ du lịch, nơi vui
chơi giải trí, văn hóa… đây chính là sự quan tâm tạo những điều kiện cần thiết để phát
triển du lịch.
Sự cạnh tranh trong hội nhập là cơ hội để các doanh nghiệp kinh doanh trong
lĩnh vực du lịch vươn lên tự khẳng định và hoàn thiện mình, phải có ý thức nâng cao
hơn nữa chất lượng dịch vụ và đa dạng hóa sản phẩm du lịch nhằm đáp ứng nhu cầu
tour đến các nước Thái Lan, Malaysia, Singapore, mà mức độ hấp dẫn vẫn còn ở tình
trạng tiềm ẩn. Vì vậy, trước tình hình hiện nay, ngành du lịch cần một vị trọng tài đủ
uy tín để “điều hòa” giá cả đạt mức hợp lý và có khả năng cạnh tranh, giúp các công
cụ quảng bá “vẻ đẹp tiềm ẩn” hoạt động hiệu quả hơn.
Việc giảm giá tour để gia tăng tính cạnh tranh ngay thời điểm hiện nay có lẽ
cũng khó thu hút ngay du khách nước ngoài. Tuy nhiên, điều này lại hoàn toàn có thể
đẩy nhanh nguồn khách nội địa vào dịp cuối năm, đặc biệt là trong dịp hè. Cần liên kết
cả hệ thống, điều chỉnh giá dịch vụ khách sạn, máy bay từ đó giảm giá tour, tập trung
đặc biệt vào du lịch nội địa. Bên cạnh đó, phải đẩy mạnh quảng bá nhiều vào các loại
hình. Do vậy nên có chiến lược giảm giá du lịch và đầu tư vào những tour nghỉ mát,
tham quan mạo hiểm…
Các doanh nghiệp kinh doanh du lịch phải đối mặt với sự cạnh tranh ngày càng
gay gắt trong hoàn cảnh Việt Nam còn nhiều khó khăn hạn chế, như: hệ thống cơ sở hạ
tầng còn kém phát triển, hệ thống giao thông đường bộ, hàng không, cầu cảng… còn lạc
hậu, chất lượng thấp, mặc dù đã có sự quan tâm của Đảng và Nhà nước đầu tư cho xây
dựng cơ sở hạ tầng, do vậy, cước phí giao thông còn cao. Hệ thống thông tin viễn thông
chưa phát triển rộng khắp, chất lượng còn hạn chế trong khi giá dịch vụ lại cao hơn
nhiều so với các nước trong khu vực. Điện nước chưa đảm bảo được nhu cầu và giá quá
đắt. Hệ thống khách sạn, nhà nghỉ, các tiện nghi phục vụ nhu cầu nghỉ ngơi, ăn uống,
vui chơi, giải trí còn thiếu, chất lượng hạn chế. Chất lượng sản phẩm du lịch không cao,
sản phẩm chưa đa dạng và không phong phú. Các quy định pháp lý về quản lý du lịch
chưa đầy đủ và còn không ít bất cập đối với hoạt động kinh doanh du lịch.
Hầu hết các doanh nghiệp kinh doanh du lịch của Việt Nam thuộc loại nhỏ,
chất lượng dịch vụ hạn chế, năng lực quản lý thấp, khả năng cạnh tranh quốc tế yếu.
Trong khi hệ thống luật pháp Việt Nam lại chưa hoàn chỉnh, nhiều cơ sở kinh doanh
chưa tạo dựng được uy tín, làm ăn mang tính chụp giựt, chặt chém khách, có nhiều
nơi, hoạt động diễn ra tự phát, lộn xộn, thậm chí gây phiền toái cho khách, những tiêu
17
cực này làm ảnh hưởng đến du lịch Việt Nam, mặt khác ý thức tôn tạo và bảo vệ cảnh