Đề tài: Xã hội hóa dịch vụ y tế tại TPHCM thực trạng và giải pháp - Pdf 22

Trang 1
TIỂU LUẬN
MÔN: DỊCH VỤ CÔNG
Đề tài: “Xã hội hóa dịch vụ y tế tại TPHCM - thực trạng và
giải pháp”.
LỜI NÓI ĐẦU
Trong tất cả các chính sách phát triển đất nước thì chính sách xã hội hóa dịch vụ
công cộng được xem chính sách mang tầm quan trọng chiến lược hành đầu của Đảng và
Nhà nước ta. Trong chính sách xã hội hóa dịch vụ công nói chung thì chính sách xã hội
hóa y tế là chính sách được đưa vào một trong ba chính sách đi đầu của đất nước đó là
giáo dục, y tế, văn hóa. Vì đây là chính sách phát triển đất nước trong thời kỳ mới – thời
kỳ hội nhập nâng cao đời sống nhân dân cải thiện dịch vụ công cộng xã hội.
Thực trạng xã hội hóa dịch vụ y tế hiện nay đang còn nhiều bất cập, cần có những
phương hướng giải pháp đưa ra để nâng cao chất lượng của ngành mà chính sách của
Đảng và Nhà nước là phương hướng giải quyết hàng đầu cho những tồ tại này. Tuy nhiên,
những chính sách của Đảng và Nhà nước đưa ra đã phù hợp và sát với thực tiễn hay chưa?
Có mang lại hiệu quả hay không? Có được người dân và toàn thể xã hội ủng hộ hay
không? đó lại là một chuyện, một vấn đề khác. Chính vì lẽ đó, chúng tôi xin viết về đề
tài “Xã hội hóa dịch vụ y tế – thực trạng và giải pháp” nhằm tìm hiểu và đưa ra những
nhận xét đúng đắn hơn, một cách nhìn sâu rộng hơn. Nhằm góp phần vào công cuộc xây
dựng và bảo vệ tổ quốc nói chung, chính sách phát triển y tế nói riêng và cụ thể hơn nữa
là chính sách xã hội hóa dịch vụ y tế trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh. Và nhất là góp
phần vào mục tiêu phát triển đất nước, xây dựng một tổ quốc xã hội chủ nghĩa dân giàu
nước mạnh xã hội công bằng dân chủ văn minh – một xã hội mà mọi người sống trong ấm
no, hạnh phúc, đời sống được nâng cao nhất là trong việc chăm sóc sức khỏe.
Đây không phải là một đề tài mới mẻ, tuy nhiên có nhiều vấn đề khó khăn trong
lúc giải quyết, bên cạnh đó xã hội luôn luôn vận động và phát triển nên chính sách cũng
như ngành y tế luôn thay đổi vì vậy khi phân tích không thể bỏ qua sai sót, kính mong
quý giảng viên và bạn đọc có những đóng góp để cho bài viết được hoàn thiện hơn. Xin
chân thành cảm ơn!
Trang 2

sóc sức khoẻ cho nhân dân. Vẫn còn một bộ phận nhân dân và lãnh đạo hiểu xã hội hóa y
tế đơn giản chỉ là sự huy động đóng góp của nhân dân thông qua các chính sách về thu
một phần viện phí và bảo hiểm y tế. Không ít nơi hiểu xã hội hoá là thu tiền sử dụng máy
móc, thiết bị y tế đắt tiền, máy đặc trị ("máy xã hội hoá"), là thu tiền giường bệnh
("giường bệnh xã hội hoá"), là tư nhân hoá các dịch vụ y tế
Việc nghiên cứu thực trạng và xây dựng mô hình huy động xã hội cho y tế nhằm
đảm bảo công bằng và hiệu quả trong chăm sóc sức khỏe là điều cần thiết.
I. NHẬN BIẾT VẤN ĐỀ
Từ khi giải phóng đất nước năm 1975 đến nay, đất nước ta đang gặp nhiều khó
khăn trên tất cả các lĩnh vực kinh tế - xã hội, an ninh quốc phòng. Trong đó có vấn đề về
y tế, đặc biệt là chính sách xã hội hóa dịch vụ y tế trong toàn lãnh thổ.
Nhận biết vấn đề và phản ứng kịp thời là một trong những phẩm chất quan trọng
hàng đầu của mọi quốc gia, mọi tổ chức và mọi cơ thể sống trong cuộc đấu tranh để sinh
tồn và phát triển. Thế nhưng, trên thực tế, không phải chủ thể nào cũng có được phẩm
chất quan trọng đó. Vẫn thường xẩy ra những trường hợp sau đây:
- Không nhận biết vấn đề đang phát sinh;
- Nhận biết vấn đề quá chậm;
- Hiểu sai vấn đề.
Trường hợp thứ nhất là không phát hiện ra con bệnh; trường hợp thứ hai là phát
hiện ra con bệnh quá muộn; trường hợp thứ ba là chẩn đoán sai bệnh. Hậu quả của các
trường hợp này, có lẽ, đã rõ và ai cũng biết.
Việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật là một trong những cách phản ứng của
Nhà nước đối với những vấn đề đặt ra trong cuộc sống. "Làm luật phần nào đó cũng
giống như bốc thuốc, phải hiểu đúng bệnh mới bốc đúng thuốc" (Vũ Mão –Tạp chí Cộng
sản số 8-1995., 5-6.)
Tuy nhiên, đến nay chúng ta vẫn chưa có được một cơ chế và một hệ thống các
tiêu chí tương đối phát triển và khoa học để nhận biết các vấn đề đang phát sinh trong
cuộc sống. Hiện nay, chúng ta nhận biết các vấn đề chủ yếu thông qua các số liệu thống
kê (bỏ qua sự băn khoăn về mức độ chính xác của các số liệu này), báo cáo tổng kết của
Trang 4

II. PHÂN TÍCH VẤN ĐỀ
Trong kinh tế - chính trị học, xã hội hoá được hiểu là chuyển cái riêng thành cái
chung, cái cá thể thành cái xã hội; xã hội hoá (ruộng đất) là quá trình chuyển tư hữu thành
công hữu; xã hội hoá (lao động) là quá trình từ hợp tác giản đơn lên trình độ hợp tác có
phân công, chuyên môn hoá trên phạm vi toàn xã hội. Trong xã hội học và tâm lý, giáo
dục học, xã hội hoá là quá trình con người cá thể tiếp nhận các tri thức, chuẩn mực và giá
trị để trở thành một thành viên đầy đủ của xã hội, tức là quá trình chuyển hoá hệ thống tự
nhiên - sinh vật thành hệ thống xã hội - văn hoá để trở thành con người xã hội.
Xã hội hóa là vận động và tổ chức sự tham gia rộng rãi của nhân dân, của toàn xã
hội vào hoạt động cung cấp dịch vụ công nhằm từng bước nâng cao mức hưởng thụ về
dịch vụ của nhân dân.
Xã hội hóa dịch vụ y tế là tổ chức vận động sự tham gia của các tổ chức đoàn thể
trong xã hội cũng như các nhà đầu tư vào việc cung cấp dịch vụ y tế dẻ từng bước nâng
cao dịch vụ này góp phần phục vụ mức hưởng thụ dịc vụ và nâng cao sức khỏe cho nhân
dân.
1. Cơ sở pháp lý cho việc xã hội hóa ngành y tế
Một số văn bản chủ yếu liên quan đến chủ trương xã hội hóa y tế:
- Đối với y tế ngoài công lập, ngoài các lĩnh vực thuế, đăng ký kinh doanh, các quy
chế chuyên môn y, dược… việc quản lý nhà nước về y tế tư nhân có pháp lệnh hành nghề
y dược tư nhân và các văn bản hướng dẫn thực hiện.
- Xã hội hóa y tế thực hiện theo Nghị quyết 90/NĐ-CP năm 1997, Nghị quyết
05/NQ-CP năm 2005, Nghị định 53/2006/NĐ-CP năm 2006 (thay thế Nghị định
73/1999/NĐ-CP năm 1999)
- Quyền tự chủ, chịu trách nhiệm theo Nghị định 43/2006-NĐ-CP năm 2006.
- Chỉ thị 06/CT-TW của Ban Bí thư TW về tăng cường mạng lưới y tế cơ sở
- Các văn bản chuyên biệt được nêu theo từng vấn đề.
2. Thực trạng y tế
Từ khi thực hiện đường lối đổi mới, dưới sự lãnh đạo của Đảng, với nỗ lực to lớn
của toàn dân tộc, nước ta đã phát triển toàn diện trên tất cả các lĩnh vực, trong đó có
ngành y tế. Sau nhiều năm thực hiện Chiến lược phát triển ngành y tế, y tế nước ta đã

hội cho ngành y tế, vừa phát triển và vừa hội nhập. Do đó đã có những hạn chế trong lĩnh
Trang 7
vực quản lý, chính sách, chất lượng khám chứa bệnh, bảo hiểm y tế, thủ tục hành chính về
đầu tư, cơ chế chuyển đổi từ cơ sở công lập thành cơ sở ngoài công lập… và đòi hỏi
ngành y tế và những ngành có liên quan phải nổ lực nhiều hơn, cùng phối hợp thật nhịp
nhàng mới theo kịp sự phát triển.
Nội dung giám sát được sắp xếp thành ba nhóm vấn đề: Y tế công lập, Y tế ngoài
công lập và cuối cùng là những khó khăn, vướng mắc.
2.1. Y tế công lập
Hiện nay, trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh các bệnh viện công lập cũng như
dân lập phát triển rất mạnh, nhưng đáng chú ý đầu tiên là các bệnh viện công lập. trên
thực tế ta thấy, bệnh viện công là những bệnh viện lớn và rất được mọi người tin tưởng và
timg đến. không chỉ được khám và chữa trị chuẩn mà sự phục vụ cũng rất tận tình và chu
đáo. Cũng vì những ưu điểm này mà bệnh viện công đã thu hút rất đông bệnh nhân đến
đây, điều đó đã làm cho sự ùn tắc tại các bệnh viện, số bệnh nhân thì đông mà không đủ
phương tiện, cơ sở vật chất đáp ứng cho nhu cầu của bệnh nhân. Tình trang hai bệnh nhân
phải nằm trên một giường bệnh là chuyện bình thường, chưa kể đến ngoài hành lang cũng
phải trải chiếu để ở lại điều trị. Cũng do số lượng đông đúc mà xẩy ra tình trạng “thiếu
thầy”, một bác sĩ phải điều trị chăm sóc cho rất nhiều bệnh nhân nên đã kéo theo tình
trạng kém chất lượng trong các bệnh viện công.
Cũng vì những điều này đã đưa ra những câu hỏi là làm sao để đáp ứng tốt hơn cho
dịch vụ y tế, làm sao cho người dân khỏi chụi cảnh mệt nhọc khi vào bệnh viện, có cần
phải xã hội hóa y tế công hay không? Đó cũng là những câu hỏi mà đang có rất nhiều dư
luận khác nhau. Tuy nhiên, hiện nay chúng ta đã xã hội hóa một phần dịch vụ y tế công.
Một số bệnh viện đã cổ phần hóa cho tư nhân đầu tư vào, cho các cán bộ công nhân viên
chức góp vốn để đầu tư.
* Mô hình dịch vụ y tế trong Bệnh viện công:
Từ năm 1989 trở về trước, ngân sách nhà nước cung cấp gần như toàn bộ nguồn tài
chính cho hoạt động của các cơ sở y tế công lập, người bệnh được khám, chữa bệnh
không phải trả tiền. Nhưng do nguồn ngân sách nhà nước còn hạn hẹp, không đảm bảo

bộ công chức, quỹ phúc lợi tập thể của đơn vị mua sắm máy móc, trang thiết bị chuyên
môn kỹ thuật hiện đại được thực hiện ở nhiều Bệnh viện của thành phố và tại các Trung
tâm Y tế Quận/Huyện trước khi thực hiện, đơn vị phải lập dự án gởi Sở Y tế trình Ủy ban
Trang 9
Nhân dân Thành phố phê duyệt và tùy theo giá trị mua sắm đơn vị phải đảm bảo thực hiện
đúng thủ tục qui trình treo qui định.
* Một số nguyên tắc chung:
- Giá thu dịch vụ y tế do Giám đốc đơn vị tự quyết định trên cơ sở đảm bảo đầy đủ
các chi phí và có tích lũy.
- Tổng số nguồn thu của các mô hình nêu trên (trừ giường thỏa thuận) được phân
bố như sau:
+ Chi phí tiền thuốc, hóa chất, vật tư tiêu hao, nguyên vật liệu…
+ Chi phí sửa chữa, bảo trì máy móc, trang thiết bị.
+ Chi phí cho hoạt động dịch vụ như: trả công người lao động, chi phí quản lý, văn
phòng phẩm, điện, nước…
+ Trích khấu hao tài sản để hoàn vốn (hoặc lập quỹ phát triển sự nghiệp).
+ Trả lãi suất theo tỷ lệ vốn góp.
+ Nộp đầy đủ các khoản thuế theo qui định hiện hành.
+ Phần thu nhập còn lại: Đối với đơn vị đã thực hiện Nghị định 10/CP thì trích
100% bổ sung vào kinh phí hoạt động. Đối với đơn vị chưa thực hiện Nghị định 10/CP thì
trích 35% bổ sung kinh phí hoạt động và trích 65% bổ sung quỹ khen thưởng, phúc lợi.
- Về quản lý tài chính: đơn vị phải mở đầy đủ sổ sách kế toán để theo dõi khoản
thu này; hạch toán và báo cáo theo qui định; lập đầy đủ chứng từ để kiểm tra, đối chiếu
khi cần; nộp đầy đủ các khoản thuế theo qui định.
* Công tác tài chính trong bệnh viện công:
Nguồn tài chính phục vụ cho hoạt động chi thường xuyên sự nghiệp y tế gồm:
- Nguồn ngân sách nhà nước cấp (trong đó kể cả nguồn viện trợ không hoàn lại)
cho chi thường xuyên.
- Nguồn thu sự nghiệp y tế gồm thu một phần viện phí (kể cả thu Bảo hiểm y tế),
thu phí và lệ phí (y tế dự phòng, vệ sinh môi trường, kiểm nghiệm dược phẩn), học phí

phụ thuộc vào ngân sách nhà nước.
Giá thu viện phí theo qui định của Thông tư số 14/TTLB ngày 30 tháng 9 năm
1995 của Liên bộ ban hành từ năm 1995 đến nay đã quá lạc hậu, không còn phù hợp với
thực tế, lại được lấy làm căn cứ để cơ quan bảo hiểm xã hội thanh toán chi phí khám chữa
Trang 11
bệnh cho người có thẻ BHYT dẫn đến tình trạng các cơ sở y tế bội chi ngày càng tăng và
đã ảnh hưởng đến nguồn tài chính của đơn vị.
Ngày 26 tháng 1 năm 2006 Liên bộ Y tế - Tài chính – Lao động Thương binh và
Xã hội ban hành tạm thời khoảng 1.000 biểu giá kèm theo Thông tư số 03/2006/TTLT bổ
sung cho Thông tư liên bộ số 14/TTLB. Sở Y tế đã phối hợp với các Sở ngành có liên
quan trình Ủy ban nhân dân Thành phố chấp thuận theo khung giá trần tối đa và đang tổ
chức xét duyệt biểu giá thu 1 phần viện phí cho từng đơn vị trực thuộc theo qui định phân
tuyến chuyên môn kỹ thuật.
Tại Nghị định số 03/CP; Nghị định số 204/CP và Nghị định 118/CP của Chính phủ
qui định đối với ngành y tế sử dụng tối thiểu 35% số viện phí sau khi trừ thuốc, máu, dịch
truyền, hóa chất để thực hiện lương tăng thêm và Thông tư số 02 của Bộ Tài chính qui
định sử dụng từ nguồn 35% số thu viện phí để chi cho phụ cấp ưu đãi ngành là chưa hợp
lý do giá thu viện phí chưa kết cấu các khoản chi này mà mới chỉ thu 1 phần chi phí trực
tiếp sử dụng cho người bệnh. Do hiện nay chỉ mới thu một phần viện phí nên mức thu
chưa được tính đủ và số thu chưa được bù đắp chi phí mà Bệnh viện đã chi cho người
bệnh, cụ thể mức thu chỉ được tính 1 số chi phí trực tiếp để thực hiện dịch vụ như hóa
chất, test, kít xét nghiệm, phim X quang, vật tư tiêu hao, điện, nước, chưa cho phép thu
tiền lương, khấu hao tài sản cố định, chi phí quản lý… Và số thu viện phí thực chất không
phải tăng thu cho ngành y tế mà toàn bộ số thu này được sử dụng trực tiếp lại cho người
bệnh thông qua việc mua thuốc, máu, hóa chất, dịch truyền, vật tư tiêu hao y tế, trả chi phí
điện, nước, dụng cụ vệ sinh.
Số tiền viện phí thu được chủ yếu là tiền thuốc, máu, dịch truyền, vật tư tiêu hao
của người bệnh sử dụng, chiếm khoảng 60 – 70% tổng số thu viện phí, nếu phải sử dụng
35% số thu để chi lương tăng thêm, mà khoản chi này ngày càng tăng (vì nhà nước tăng
lương tối thiểu hàng năm) thì Bệnh viện sẽ không còn kinh phí để chi trả cho các hoạt

Năm Số thẻ
BHYT
Số tiền mua
thẻ BHYT
Chi phí KCB
cho người
nghèo
Bội chi quỹ
KCB.NN
Miễn giảm VP
tại BV
2003 273.134 thẻ 13,656 tỉ 32,515 tỉ 18.859 tỉ 32,681 tỉ
2004 232.371 thẻ 11,618 tỉ 56,200 tỉ 44,582 tỉ 36 tỉ
2005 269.477 thẻ 13,473 tỉ 63,159 tỉ 49,686 tỉ 39,6 tỉ
2006 270.991 thẻ 16,259 tỉ 27,3 tỉ (6 tháng
đầu năm)
2.2. Y tế ngoài công lập
* Số lượng:
Trên địa bàn thành phố các cơ sở hành nghề y dược tư nhân có số lượng quy mô,
hình thức các loại hình hành nghề ngày càng đa dạng và phong phú. Đối với các cơ sở
quy mô lớn, các bệnh viện tư nhân trong thời gian gần đây phát triển nhanh. Các đơn vị tư
nhân được vay vốn từ nguồn Quỹ Đầu tư thành phố, để đầu tư phát triển cơ sở vật chất và
trang thiết bị hiện đại phục vụ cho việc chẩn đoán và điều trị bệnh. Cho đến hiện nay, có
năm nhà đầu tư nước ngoài tham gia xây dựng thành lập Bệnh viện tại thành phố. Tuy
nhiên, hình thức và quy mô chưa nổi bật, chưa thể hiện sự vượt trội so với các đơn vị tư
nhân trong nước.
* Nhân sự:
Các bệnh viện ngoài công lập đăng ký tại Sở Y tế gồm thành viên của Ban Giám
đốc và các trưởng khoa, là những người đã nghỉ việc nhà nước, nghỉ hưu. Các lao động
khác, Bệnh viện tư nhân tự lập danh sách, đăng ký với phòng Lao động Quận Huyện và

phạm!
Tương tự, ở các quận 2, 7, 11, Thủ Đức , số lượng cơ sở hành nghề y dược tư
nhân được thanh kiểm tra trong năm 2010 cũng rất ít và số cơ sở bị phát hiện sai phạm
cũng đếm trên đầu ngón tay.
Nhiều ý kiến thắc mắc, liệu thanh tra phòng y tế các quận huyện có nghiêm túc
trong thực thi nhiệm vụ? Theo đại diện Phòng Y tế quận Thủ Đức, số lượng kiểm tra và
xử phạt ít do phải cân nhắc chỉ ra được những sai phạm để cơ sở “tâm phục khẩu phục”.
Trang 15
Hơn nữa còn nhiều lĩnh vực khác mà UBND quận yêu cầu phải tham gia nên chưa thể
toàn tâm cho công tác kiểm tra hành nghề y dược tư nhân.
Dược sĩ Trần Thị Thanh Loan, Phó Chánh thanh tra Sở Y tế TPHCM, cho biết
trong năm qua đã kiểm tra được 7.786/13.969 cơ sở (thấp hơn năm 2009 tới 258 cơ sở).
Trong đó riêng hành nghề y, vốn dĩ rất nhức nhối trong việc xảy ra nhiều trường hợp tai
biến dẫn đến tử vong, nhưng số lượng cơ sở được thanh tra cũng giảm tới 4% so với năm
2009.
Ghi nhận cho thấy, đã có không ít trường hợp rủi ro đáng tiếc trong hành nghề tại
các cơ sở y tế tư nhân xảy ra gần đây như vụ cắt nhầm buồng trứng của bệnh nhân Phạm
Thị Xuân tại Bệnh viện Đa khoa Phú Thọ (quận Tân Phú), hay vụ mổ mắt gây mù khiến
bệnh nhân là Việt kiều Huỳnh Hữu Thông đã đâm đơn kiện Bệnh viện Mắt Sài Gòn (quận
1), vụ mổ ruột thừa gây tử vong tại BV Đa khoa Hoàn Mỹ
Hầu như tháng nào, Sở Y tế TPHCM cũng nhận được đơn khiếu nại của người
bệnh hoặc thân nhân của họ liên quan đến những rủi ro khám chữa bệnh tại các cơ sở
hành nghề y tư nhân.
Tuy nhiên, đến khi sự việc xảy ra mới có sự “vào cuộc” của lực lượng thanh tra
chuyên ngành. Tuy rằng số cơ sở bị thanh kiểm tra cả năm mới chỉ đạt 55,7% nhưng đáng
báo động là số vi phạm tăng lên thấy rõ. Cụ thể trong số 2.920 cơ sở hành nghề y bị thanh
tra, phát hiện 688 cơ sở sai phạm (tăng 157 cơ sở so với năm 2009). Hay như thanh tra
4.236 cơ sở hành nghề dược, phát hiện 715 cơ sở sai phạm, tăng 83 cơ sở so với năm
2009.
Đặc biệt lo ngại là phần lớn mỹ phẩm hiện chưa được quản lý chặt chẽ trong quá

Thực hiện Chỉ thị 06/CT-TW của Ban Bí thư TW về tăng cường mạng lưới y tế cơ
sở, ngành y tế thành phố đã xây dựng và củng cố Trung tâm Y tế Quận/Huyện, Trạm Y tế
Phường/Xã về mọi mặt, trong đó đặc biệt chú ý đến việc đầu tư trang thiết bị và nhân sự.
Theo ước tính, khoảng 80% trường hợp đau ốm sẽ được giải quyết có hiệu quả ngay tại
tuyến cơ sở (quận, huyện, phường, xã, thôn), như vậy giảm được sự quá tải của tuyến
trên, là cơ sở để phát triển dịch vụ y tế gia đình.
Trang 17
Nhiều Trung tâm y tế quận, huyện đã được trang bị các máy móc kỹ thuật cao từ
các nguồn vốn khác nhau: ngân sách, vay vốn kích cầu, hợp tác đầu tư. Tuy nhiên vẫn thu
hút chưa nhiều và chưa đáp ứng nhu cầu của nhân dân.
Ngành Y tế thành phố dũng đang mua sắm trang thiết bị cho trạm y tế phường, xã
theo danh mục của Bộ Y tế ban hành để đến năm 2010 đạt chuẩn quốc gia về trang thiết
bị tại trạm y tế phường, xã.
Hiện nay 100% các trạm y tế phường - xã đã có ít nhất 1 bác sĩ, tuy nhiên việc
tuyển nhân sự cho tuyến y tế cơ sở rất khó khăn vì lương thấp và chưa có chế độ đãi ngộ
tương xứng.
2.4. Tình hình thực hiện Bảo hiểm y tế tại các bệnh viện
Bảo hiểm y tế là một chiến lược an sinh xã hội vì mục tiêu cao nhất của Bảo hiểm
y tế là mọi người khi bị bệnh đều phải được điều trị. Người đăng ký tham gia bảo hiểm y
tế ngày càng gia tăng, các cơ sở y tế đã nỗ lực đáp ứng yêu cầu nhằm góp phần thực hiện
bảo hiểm y tế toàn dân trong tương lai. Tuy nhiên vẫn còn một số các vướng mắc:
- Các quy định ban hành không đồng bộ, thay đổi thường xuyên; chi phí dịch vụ y
tế thực hiện theo thông tư 14 quá thấp dẫn đến chất lượng phục vụ người bệnh chưa cao;
Hệ thống bảo hiểm y tế không bố trí nhân sự giải quyết khâu hành chính, nhân viên y tế
phải kiêm nhiệm; vì vậy người dân ngại khám chữa bệnh bằng bảo hiểm y tế.
- Số lượng thẻ đăng ký bảo hiểm y tế ngày càng tăng nhất là việc thực hiện bảo
hiểm tự nguyện, cộng với tình trạng thiếu hụt nhân sự y tế đã dẫn đến sự quá tải ở hầu hết
các cơ sở khám chữa bệnh.
- Phương thức thanh toán giữa cơ quan bảo hiểm xã hộ và cơ sở khám chữa bệnh
còn chậm, nhiều rủi ro cho bệnh viện, chưa khuyến khích bệnh viện tiết kiệm chỉ tiêu và

Tăng cường các hoạt động chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ nhân dân. Vận động mọi
người tham gia chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ cho bản thân, gia đình và cộng đồng.
Khuyến khích các cá nhân, tổ chức trong nước và nước ngoài hoạt động từ thiện, cung
cấp, hỗ trợ các thiết bị y tế và hỗ trợ khám chữa bệnh.
Đẩy nhanh tiến độ phát triển và nâng cao chất lượng bảo hiểm y tế; củng cố và mở
rộng bảo hiểm y tế bắt buộc theo hướng đa dạng hoá các loại hình bảo hiểm y tế đáp ứng
nhu cầu của nhân dân; phát triển mạnh bảo hiểm y tế cộng đồng dựa chủ yếu vào sự đóng
góp của người tham gia bảo hiểm, có sự trợ giúp của Nhà nước và các nguồn tài trợ khác;
Trang 19
khuyến khích các loại hình bảo hiểm y tế tự nguyện. Mở rộng diện các cơ sở y tế đăng ký
khám chữa bệnh theo bảo hiểm y tế. Từng bước thực hiện người đóng bảo hiểm y tế tự
lựa chọn cơ sở khám chữa bệnh phù hợp. Nhà nước quy định chế độ thanh toán bảo hiểm
y tế, đồng thời có chính sách ưu đãi đối với các đối tượng chính sách, trẻ em dưới 6 tuổi,
trợ giúp người nghèo, đồng bào dân tộc ít người, vùng khó khăn.
Đổi mới chế độ viện phí trên cơ sở từng bước tính đúng, tính đủ các chi phí trực
tiếp phục vụ bệnh nhân. Từng bước chuyển đổi việc cấp kinh phí hoạt động thường xuyên
cho các cơ sở khám chữa bệnh sang cấp trực tiếp cho đối tượng thụ hưởng dịch vụ y tế do
Nhà nước cung cấp thông qua hình thức bảo hiểm y tế.
Khuyến khích mở bệnh viện, phòng khám tư nhân, bác sĩ gia đình.
Huy động sự đóng góp của cộng đồng xã hội để phát triển các hoạt động sự
nghiệp, từng bước giảm dần bao cấp từ ngân sách nhà nước (NĐ43-2006).
Những nội dung nêu trên cho thấy, xã hội hoá trong lĩnh vực y tế là chủ trương về
sự chuyển đổi cơ chế quản lý có nội dung đa dạng và phức tạp.
Hưởng ứng chính sách của Đảng và Nhà nước, cũng như để nâng cao năng lực
chuyên môn, đáp ứng nhu cầu được chăm sóc, phục vụ sức khỏe của mọi tầng lớp nhân
dân. Sở Y tế TP.HCM đã xây dựng kế hoạch, chuyển đổi mô hình hoạt động của các đơn
vị sự nghiệp y tế công lập trực thuộc từ năm 2007 đến năm 2020. Ba mô hình chủ yếu để
ngành y tế thành phố tuân theo hoạt động là: 100% vốn sở hữu Nhà nước; y tế tư nhân
trong nước và nước ngoài; mô hình phối hợp công tư (trong đó có việc cổ phần hóa
(CPH) bệnh viện).

viên - phi lợi nhuận là giao quyền tự chủ hoàn toàn trong việc sử dụng vốn chủ sở hữu,
thúc đẩy cạnh tranh lành mạnh và khẳng định vai trò của y tế công trong hoạt động của
ngành. Nếu đạt được bảo hiểm y tế toàn dân thì việc chuyển đổi sang mô hình này là hết
sức cần thiết. Vì lúc đó, người dân không còn bị ảnh hưởng nhiều bởi gánh nặng chi phí
chăm lo cho sức khỏe.
Riêng việc cổ phần hóa bệnh viện trong mô hình phối hợp công tư thì được nhiều
người quan tâm hơn so với các hình thức khác trong chủ trương xã hội hóa hoạt động
ngành y tế. Bởi cổ phần hóa sẽ tạo điều kiện cho ngành y tế công phát triển ngang tầm
khu vực, nắm vai trò chủ đạo trong hệ thống y tế. Từ đó, dễ dàng huy động mọi nguồn lực
xã hội cùng tham gia đầu tư, chăm lo sức khỏe cho nhân dân. Cổ phần hóa sẽ giảm bớt
Trang 21
ngân sách trong lĩnh vực khám chữa bệnh để tăng cường đầu tư cho: Y tế dự phòng, tuyến
y tế cơ sở, đào tạo, các cơ sở khám chữa bệnh mang tính đặc thù phục vụ xã hội (Khu
điều trị Phong Bến Sắn, bệnh viện Nhân Ái, Nhiệt đới, Tâm thần, Phạm Ngọc Thạch, Ung
bướu ). Cổ phần hóa sẽ tạo điều kiện để toàn xã hội, đặc biệt các đối tượng chính sách,
người nghèo được hưởng thụ thành quả y tế ở mức độ ngày càng cao. Thuận lợi của mô
hình này là Nhà nước vẫn giữ vai trò chủ đạo với 60% vốn. Nhờ vào khả năng khám chữa
bệnh tốt hơn, bệnh nhân đến nhiều hơn thì càng dễ thu hút đầu tư, phát triển cạnh tranh
với các nước trong khu vực và quốc tế.
Trong mô hình phối hợp công tư thì còn có hình thức các cơ sở cung ứng dịch vụ
ngoài công lập. Với việc cung ứng dịch vụ y tế kỹ thuật cao, ngành y tế có thêm các cơ sở
khám chữa bệnh hiện đại, ứng dụng khoa học, kỹ thuật tiên tiến từ nguồn vốn huy động
trong xã hội. Người nghèo được hưởng thụ các dịch vụ này thông qua chế độ bảo hiểm y
tế và chế độ miễn giảm viện phí.
Tuy rằng cổ phần hóa có nhiều thiết thực trong cuộc sống và mang lại rất nhiều lợi
ích cho nhân dân, tuy nhiên còn rất nhiều khó khăn đang ở phía trước. Đối với mô hình
hoạt động 100% vốn sở hữu Nhà nước thì khó khăn là bộ máy quản lý còn thiếu kiến
thức, kỹ năng và kinh nghiệm trong việc quản lý bệnh viện theo cơ chế tự chủ. Việc thu
một phần viện phí đủ để trang trải các chi phí trực tiếp cho bệnh nhân, không bảo đảm
cho hoạt động thường xuyên khác. Do dó, các đơn vị tự chủ đẩy mạnh hoạt động xã hội

lại những hậu quả khó lường sau này cho tương lai quốc gia, nhất là giới trẻ nhỏ - mầm
non của đất nước sau này. Bởi rằng, những đứa trẻ lớn lên trong khỏe mạnh, có điều kiện
tiếp xúc với những điều kiện tốt nhất của cuộc sống chắc hẳn sẽ làm được nhiều việc
trong tương lai. Không như những đứa trẻ này, những trẻ em thiếu dinh dưỡng, không
được tiếp cận dịch vụ y tế sẽ làm cho nòi giống đất nước bị thoái hóa dần và ảnh hưởng
rất lớn đến dời sống kinh tế xã hội của đất nước.
Có thể khẳng định rằng Y tế là một thứ lợi ích công, sản phẩm của nó như một thứ
tài sản công. Đảng và nhà nước ta đã xác định mục tiêu cho việc xã hội hóa y tế là một
mục tiêu quan trọng.
5. Thành tựu đạt được
Nhờ có sự đầu tư, mà chủ yếu là xã hội hóa dịch vụ y tế mà từ năm 2009, nhiều
bệnh nhân, nhất là diện bảo hiểm y tế, không khỏi xúc động khi đến khám chữa bệnh tại
Trang 23
BV Nhân dân 115. Không chỉ có cơ ngơi khang trang hơn, phòng ốc được bố trí phù hợp
hơn mà còn là sự phục vụ ngày càng tận tình của đội ngũ y bác sĩ. Ngay như tại khoa
khám đã xây dựng hẳn một quy trình thăm khám tiện ích bằng “số hóa” từ thủ tục khám
đến nhận thuốc, xét nghiệm lâm sàng.
Cũng nhờ sự xã hội hóa y tế và áp dụng kỹ thuật công nghệ cao mà năm 2010, BV
Nhân dân 115 đã đánh dấu sự tiến bộ trong ghép tạng khi lần đầu tiên đội ngũ Khoa
Thận-Niệu đã tự ghép thận thành công mà không nhờ đến chuyên gia nước ngoài, phẫu
thuật nội soi lồng ngực, hay như đã ứng dụng kỹ thuật Penumbra (hút máu ðông) trong
ðiều trị ðột quỵ rất hoàn hảo mà ngay các nýớc trong khu vực nhý Singapore, Thái Lan,
Indonesia vẫn chýa làm ðýợc.
Với nhiệm vụ là bệnh viện chuyên khoa sâu của khu vực phía Nam, năm qua, bệnh
viện Ung bướu TPHCM cũng không ngừng nỗ lực để phát triển các kỹ thuật điều trị. Từ
việc đầu tư máy xạ trị trong suất liều cao đến máy xạ hình xương và các thiết bị tiên tiến
khác đã giúp bệnh viện điều trị có hiệu quả hơn một số căn bệnh ung thư mà lâu nay vốn
dĩ vô phương cứu chữa như ung thư vú, ung thư vòm hầu họng…
Với sự đầu tư về kỹ thuật cao cùng với tay nghề của đội ngũ y bác sĩ ngày càng
tiến bộ, tỷ lệ bệnh nhân kéo dài sự sống và khỏe mạnh được tăng lên.

vụ và chất lượng khám chữa bệnh cho nhân dân. Tuy nhiên, đôi lúc mục đích lại không
đạt được như ý muốn. chính phủ cho phép mở ra thì cần phải có những chủ trương biện
pháp cụ thể hơn trong việc khám chữa bệnh. sự buông lỏng đã làm cho các bệnh viện, cơ
sở y tế sai phạm rất nhiều, thậm chí là tràn lan, sự thu phí quá cao, chất lượng còn yếu
kém trong khám chữa bệnh và quản lý. Chính sách thì rất tốt nhưng lại hiệu lực còn nhiều
hạn chế.
Sự ảnh hưởng của cơ chế thị trường đã đẩy sự liên kết giữa nhà nước và tư nhân
hay các bệnh viện tư với nhau đã gây ra hiện tượng “thị trường hóa” y tế. đây không phải
là điều xấu vì chính sách của chúng ta cũng là xã hội hóa dịch vụ y tế, tuy nhiên đang còn
nhiều bất cập. sự chi phối của đồng tiền mà bỏ qua mục tiêu của y tế. chính sách của
chính phủ cho liên kết nhằm được đảm bảo về cơ sở vật chất cũng như chất lượng khám
chữa bệnh. nhưng bên cạnh ra chính sách thì sự quản lý không chặt đã làm cho các bệnh
viện không thực hiện đúng quy định.
Trang 25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status