TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
KHOA: QUẢN TRỊ
BÀI TIỂU LUẬN MÔN
TỐ TỤNG HÌNH SỰ
Đề tài: Thực trạng, những bất cập và hướng
sửa đổi trong xét xử người chưa thành niên
phạm tội ở Việt Nam.
LỚP QUẢN TRỊ - LUẬT K35
Năm Học: 2012-2013
Giảng viên hướng dẫn: GV. Lê Thuỳ Dương
1
MỤC LỤC
Lời nói đầu ………………………………………………………………… 3
I. Những vấn đề lý luận và pháp lý về thủ tục tố tụng đối với người
chưa thành niên phạm tội…………………………………………4
1. Khái niệm người chưa thành niên……………………………….4
2. Khái niệm người chưa thành niên trong luật hình sự Việt Nam 6
3. Quy định của pháp luật TTHS đối với người chưa thành niên phạm
tội……………………………………………………………… 8
II. Những bất cập và đề xuất……………………………………… 18
1. Tình hình phạm tội…………………………………………… 18
2. Những bất cập trong TTHS đối với người chưa thành niên phạm
tội……………………………………………………………… 22
3. Hướng đổi mới trong xét xử người chưa thành niên phạm tội….26
Tài liệu tham khảo………………………………………………………… 32
2
LỜI NÓI ĐẦU
Hiện nay, tình hình người chưa thành niên phạm tội ở Việt Nam đang tăng
một cách báo động, không chỉ tăng về số lượng, quy mô mà còn tăng về mức độ
nguy hiểm, thủ đoạn, và càng ngày độ tuổi vi phạm còn nhỏ dần. Chức năng của
và quốc gia ghi nhận như sau :
- Theo qui tắc 2.2 của các qui tắc tối thiểu phổ biến của Liên hợp quốc về việc
áp dụng pháp luật đối với người chưa thành niên phạm pháp do Đại hội đồng
thông qua ngày 29/11/1985 (Qui tắc Bắc Kinh ) thì : Người chưa thành niên
là trẻ em hoặc người ít tuổi (tùy theo từng hệ thống pháp luật). Căn cứ vào
điều kiện kinh tế xã hội, truyền thống và hệ thống pháp luật của mỗi quốc
gia, độ tuổi tối đa của người được coi là “trẻ em” có thể khác nhau nhưng
nhìn chung đều không quá 18 tuổi.
- Công ước về quyền trẻ em đã làm rõ hơn khái niệm người chưa thành niên
đưa ra trong qui tắc Bắc Kinh. Điều 1 công ước đã khẳng định : “Trong
phạm vi công ước này, trẻ em có nghĩa là người dưới 18 tuổi, trừ trường hợp
luật pháp áp dụng đối với trẻ em đó qui định tuổi thành niên sớm hơn.”
4
- Điều 20 Bộ Luật Dân sự Việt Nam qui định: “Người từ đủ 18 tuổi trở lên là
người thành niên. Người chưa đủ 18 tuổi là người chưa thành niên.”
- Điều 119 Bộ Luật Lao động Việt Nam cũng nhất quán với quan điểm trên :
“Người lao động chưa thành niên là người lao động dưới 18 tuổi.”
- Bên cạnh đó, Nghị định số 141/HĐBT ngày 13/11/1986 của Hội đồng bộ
trưởng (nay là chính phủ) ban hành qui chế về buộc phải chịu thử thách đối
với người chưa thành niên phạm tội đã xác định tại điều 1 như sau : “ Người
chưa thành niên là người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi.”
- Mặt khác, tại điều 68 Bộ luật Hình sự năm 1999 cũng đã qui định người
chưa thành niên là người từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi.
Như vậy thông qua các văn bản có giá trị pháp lí nêu trên cho phép ta khẳng
định rằng: “Người thành niên là người từ đủ 18 tuổi trở lên.Người chưa thành niên
là người dưới 18 tuổi.”
b. Đặc điểm của tâm sinh lí của người chưa thành niên :
Người chưa thành niên là người trong độ tuổi chuyển tiếp từ trẻ em sang người lớn.
Đây được coi là bước đệm đánh dấu sự phát triển và trưởng thành trong nhân cách
con người. Ở lứa tuổi này ta có thể phân chia làm hai nhóm dựa vào đặc điểm riêng
chưa thành niên, làm cho họ dễ xúc động, tính khí thất thường. Lòng kiên trì và
khả năng tự kiềm chế rất thấp nên việc bị lôi kéo vào các tệ nạn xã hội là điều rất
dễ xảy ra. Hơn nữa, ở cái độ tuổi không phải là trẻ em nhưng cũng chưa phải là
người lớn thì con người ta rất linh động, nhạy cảm, trí tưởng tượng phong phú vì
vậy ranh giới giữa đúng và sai rất nhạt nhòa, dễ bị lẫn lộn.
Về mặt động cơ, hành vi của người chưa thành niên thường rất đơn giản. Họ dễ bị
ảnh hưởng bởi môi trường xung quanh, nhạy bén tinh thần, có tính hay học đòi, bắt
chước, nhưng chưa có khả năng chọn lọc và điều khiển những hành vi ứng xử của
mình một cách chính chắn. Người chưa thành niên phạm tội nói chung đều có
những đặc điểm tâm sinh lí của một người chưa thành niên bình thường nhưng do
họ bị tiếp xúc với một môi trường không tốt, tiếp xúc với những yếu tố tiêu cực
trong cuộc sống nên nhân cách giảm sút và có những biểu hiện cực đoan. Tuy
nhiên hành vi phạm tội đấy không chỉ xuất phát từ yếu tố môi trường mà nó là sự
kết hợp giữa 2 yếu tố môi trường và cá nhân người phạm tội.
2. Khái niệm người chưa thành niên phạm tội trong luật hình sự Việt Nam:
Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội, được quy định trong Bộ luật hình
sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý,
xâm phạm các quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ. Về mặt nguyên tắc, mọi
người phạm tội đều bình đẳng trước pháp luật, không phân biệt nam, nữ, dân tộc,
6
tín ngưỡng, tôn giáo, thành phần, địa vị xã hội. Tuy nhiên, đối với trường hợp
người phạm tội là người chưa thành niên, Nhà nước có chính sách xử lý riêng, căn
cứ vào đặc điểm đặc thù của sự phát triển tâm sinh lý con người ở độ tuổi này cũng
như đường lối, chính sách, pháp luật về bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em.
Một người chỉ được coi là người chưa thành niên phạm tội khi họ thỏa mãn các
điều kiện dưới đây:
- Họ là người chưa thành niên.
- Đã đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự.
- Đã thực hiện hành vi mà luật hình sự quy định là tội phạm.
Theo quy định của pháp luật Việt Nam, người chưa thành niên là người dưới
các hình phạt và biện pháp tư pháp thay thế hình phạt áp dụng đối với họ.
3. Qui định của pháp luật TTHS đối với người chưa thành niên phạm tội :
a. Nguyên tắc xử lí đối với người chưa thành niên phạm tội:Đi:ều 69 Bộ
luật hình sự
Điều 69 Bộ luật hình sự quy định 6 nguyên tắc xử lý đối với người chưa thành
niên phạm tội, trong đó thứ nhất là nguyên tắc xử lý chung, thứ hai là nguyên tắc
miễn trách nhiệm hình sự, thứ ba là nguyên tắc vừa miễn trách nhiệm hình sự vừa
quyết định hình phạt, còn nguyên tắc thứ tư, thứ năm và thứ sáu là nguyên tắc
quyết định hình phạt. Sau đây là sáu nguyên tắc xử lý đối với người chưa thành
niên phạm tội được quy định tại Điều 69 Bộ luật hình sự và phân tích kỹ các
nguyên tắc quyết định hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội.
1. Việc xử lý người chưa thành niên phạm tội chủ yếu nhằm giáo dục, giúp đỡ
họ sửa chữa sai lầm, phát triển lành mạnh và trở thành công dân có ích cho
xã hội.
Trong trường hợp điều tra, truy tố, xét xử hành vi phạm tội của người chưa
thành niên, các cơ quan nhà nước có thẩm quyền phải xác định khả năng nhận thức
của họ về tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nguyên nhân và
điều kiện gây ra tội phạm.
Yêu cầu của nguyên tắc này là đặt mục đích giáo dục, giúp đỡ người chưa thành
niên phạm tội sửa chữa sai lầm, phát triển lành mạnh và trở thành công dân có ích
8
cho xã hội. Do đó, việc áp dụng hình phạt đối với người chưa thành niên cũng phải
thể hiện sao cho đảm bảo việc giáo dục, giúp đỡ họ sửa chữa sai lầm. chứ không
nhằm trừng trị.
2. Người chưa thành niên phạm tội có thể được miễn trách nhiệm hình sự, nếu
người đó phạm tội ít nghiêm trọng, gây hại không lớn, có nhiều tình tiết
5. Không xử phạt tù chung thân hoặc tử hình đối với người chưa thành niên
phạm tội. Khi xử phạt tù có thời hạn, Tòa án cho người chưa thành niên
phạm tội được hưởng mức nhẹ hơn mức án áp dụng đối với người đã thành
niên phạm tội tương ứng.
Không áp dụng hình phạt tiền đối với người chưa thành niên phạm tội ở độ tuổi
từ 14 đến dưới 16 tuổi. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với người chưa thành
niên phạm tội. Đây là nguyên tắc xử lý, nhưng lại là căn cứ quyết định hình phạt
đối với người chưa thành niên phạm tội. Trước hết thái độ của Nhà nước ta là dứt
khoát không áp dụng hình phạt tử hình và tù chung thân đối với người chưa thành
niên phạm tội, thể hiện tính nhân đạo trong luật hình sự nước ta, quy định này thể
hiện được nguyên tắc không lấy trừng trị là mục đích của hình phạt đối với người
chưa thành niên phạm tội quy định ở nguyên tắc thứ nhất.
6. Án đã tuyên đối với người chưa thành niên phạm tội khi chưa đủ 16 tuổi, thì
không tính để xác định tái phạm hoặc tái phạm nguy hiểm. Đây cũng là
nguyên tắc nhằm đảm bảo sự phát triển bình thường, không thành kiến đối
với người chưa thành niên phạm tội ở độ tuổi là trẻ em.
b. Các quyết định hình phạt áp dụng đối với người chưa thành niên
phạm tội:
Thủ tục tố tụng hình sự đối với tội phạm nói chung và người chưa thành niên
phạm tội nói riêng bao gồm các thủ tục điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án. Ngoài
những thủ tục chung của Bộ luật TTHS thì cũng như Bộ luật Hình sự, Bộ luật
TTHS giành riêng một chương quy định về tố tụng hình sự và chính sách xử lý đặc
biệt với người chưa thành niên phạm tội (tại Chương XXXII). Trong đó quy định
rõ Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán tiến hành tố tụng đối với người chưa
thành niên phạm tội phải là người có những hiểu biết cần thiết về tâm lý học, khoa
học giáo dục cũng như về hoạt động đấu tranh phòng, chống tội phạm của người
chưa thành niên. Khi tiến hành điều tra, truy tố, xét xử người chưa thành niên
được áp dụng quy định hình phạt tù chung thân hoặc tử hình, thì mức hình phạt cao
nhất được áp dụng không quá mười tám năm tù; nếu là tù có thời hạn thì mức hình
phạt cao nhất được áp dụng không quá ba phần tư mức phạt tù mà điều luật quy
định.
11
- Đối với người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi khi phạm tội, nếu điều luật
được áp dụng quy định hình phạt tù chung thân hoặc tử hình, thì mức hình phạt cao
nhất được áp dụng không quá mười hai năm tù; nếu là tù có thời hạn thì mức hình
phạt cao nhất được áp dụng không quá một phần hai mức phạt tù mà điều luật quy
định.
Đối với trường hợp người chưa thành niên phạm nhiều tội, phải tuyên hình
phạt đối với từng tội, sau đó tổng hợp thành hình phạt chung. Trường hợp có tội
thực hiện trước khi đủ 18 tuổi, có tội thực hiện sau khi đủ 18 tuổi, thì việc tổng hợp
hình phạt thực hiện theo phương pháp sau đây:
- Nếu tội nặng nhất được thực hiện khi người đó chưa đủ 18 tuổi, thì hình
phạt chung không được vượt quá mức hình phạt cao nhất quy định trong Điều 74
Bộ luật hình sự nêu trên.
- Nếu tội nặng nhất được thực hiện khi người đó đã đủ 18 tuổi, thì hình phạt
chung áp dụng như đối với người đã thành niên phạm tội.
Về vấn đề giảm mức hình phạt đã tuyên, luật hình sự Việt Nam quy định
mức giảm nhiều hơn và điều kiện xét giảm cũng rộng rãi hơn so với những trường
hợp xét giảm hình phạt thông thường. Điều 76 Bộ luật hình sự quy định:
1.Người chưa thành niên bị phạt cải tạo không giam giữ hoặc phạt tù, nếu có nhiều
tiến bộ và đã chấp hành được một phần tư thời hạn, thì được Tòa án xét giảm;
riêng đối với hình phạt tù, mỗi lần có thể giảm đến bốn năm, nhưng phải bảo đảm
đã chấp hành ít nhất là hai phần năm mức hình phạt đã tuyên.
2. Người chưa thành niên bị phạt cải tạo không giam giữ hoặc phạt tù, nếu lập công
hoặc mắc bệnh hiểm nghèo, thì được xét giảm ngay và có thể được miễn chấp hành
phần hình phạt còn lại.
3. Người chưa thành niên bị phạt tiền nhưng lâm vào hoàn cảnh kinh tế đặc biệt
điều tra, truy tố, xét xử.
13
Khi áp dụng hình phạt tiền là hình phạt chính đối với người chưa thành niên
phạm tội, cần xác định tuổi của người bị kết án. Chỉ sau khi có đủ căn cứ xác định
người bị kết án đủ 16 tuổi mới được áp dụng hình phạt tiền, nếu còn nghi ngờ về
tuổi của người bị kết án và không có tài liệu gì khác để xác định tuổi thật của
người bị kết án thì không được áp dụng hình phạt tiền đối với họ.
Sau khi đã xác định chính xác người chưa thành niên đã đủ 16 tuổi, thì bước
tiếp theo là phải xác định xem người bị kết án có thu nhập hoặc có tài sản riêng hay
hay không ? Việc xác định này phải được thể hiện bằng văn bản của các cơ quan
Nhà nước có thẩm quyền và phải được lưu trong hồ sơ vụ án. Thu nhập và tài sản
riêng của người đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi phải đủ để thi hành khoản tiền phạt mà
Toà án quyết định. Nếu thu nhập hoặc tài sản riêng của người bị kết án không đủ
để thi hành khoản tiền phạt hoặc không đáng kể, thì Toà án không được áp dụng
hình phạt tiền đối với họ. Vì là hình phạt, nên tuyệt đối không được buộc cha mẹ
người bị kết án phải nộp thay khoản tiền phạt như đối với trường hợp Toà án buộc
người chưa thành niên bồi thường thiệt hại.
Mức tiền phạt mà Toà án áp dụng đối với người chưa thành niên phạm tội
không được quá một phần hai (1/2) mức tiền phạt mà điều luật quy định. Ví dụ:
Đặng Thanh H (17 tuổi) bị kết án về tội buôn lậu thuộc trường hợp quy định tại
khoản 1 Điều 153 Bộ luật hình sự có khung hình phạt tiền từ mười triệu đồng đến
một trăm triệu đồng, nếu Toà án chọn hình phạt tiền là hình phạt chính thì chỉ được
phạt Đặng Thanh H từ năm triệu động đến năm mươi triệu đồng.
Khi xác định mức tiền phạt cụ thể, Toà án căn cứ vào tính chất và mức độ
nghiêm trọng của tội phạm được thực hiện, để quyết định một mức tiền phạt như
đối với người đã thành niên phạm tội, sau đó chia đôi số tiền phạt đó để quyết định
mức tiền phạt đối với người chưa thành niên phạm tội.
- Hình phạt cải tạo không giam giữ.
Khi áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ đối với người chưa thành niên
phạm tội, Toà án cũng phải căn cứ vào quy định tại Điều 31 Bộ luật hình sự về cải
đa là 18 năm tù. Nếu điều luật được áp dụng quy định là hình phạt tù có thời
hạn, thì mức hình phạt cao nhất được áp dụng không quá ba phần tư (3/4)
mức phạt tù mà điều luật quy định. Ví dụ: Võ Minh Q (16 tuổi 10 tháng)
phạm tội “bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản” thuộc trường hợp quy định tại
khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự có khung hình phạt từ năm năm đến mười
15
hai năm tù, Toà án chỉ được phạt Võ Minh Q mức hình phạt tối đa là chín
năm tù.
Đối với người chưa thành niên khi phạm tội từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi,
nếu điều luật được áp dụng có quy định hình phạt tù chung thân hoặc tử
hình, thì mức hình phạt cao nhất được áp dụng không quá mười hai (12) năm
tù.
Trường hợp người chưa thành niên phạm tội có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy
định tại khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự và được Toà án áp dụng Điều 47 Bộ luật
hình sự thì việc quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt sẽ
phức tạp hơn. Đây cũng là vẫn đề thực tiễn xét xử nhiều Toà án lúng túng “sợ” vi
phạm Điều 47 Bộ luật hình sự nên lại áp dụng một cách máy móc. Ví dụ: A mới 15
tuổi 8 tháng bị rủ rê lôi kéo cùng với một số người khác phạm tội lừa đảo chiếm
đoạt tài sản thuộc trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 139 Bộ luật hình sự có
khung hình phạt từ bảy năm đến mười lăm năm tù. Do A có nhiều tình tiết giảm
nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 46 đáng được khoan hồng lẽ ra hình phạt đối với với
A chỉ đáng 1 năm tù, nhưng vì Điều 47 Bộ luật hình sự quy định: “Toà án có thể
quyết định một hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt mà điều luật đã
quy định nhưng phải trong khung hình phạt liền kề nhẹ hơn của điều luật”, mà
khung hình phạt liền kề của khoản 3 Điều 139 là khoản 2 Điều 139 có mức hình
phạt từ 2 năm đến 7 năm tù, nên Toà án “không dám” phạt A dưới 2 năm tù. Một
số trường hợp Toà án cấp sơ thẩm áp dụng hình phạt dưới mức thấp nhất của
khung hình phạt liền kề thì bị Viện kiểm sát kháng nghị với lý do vi phạm Điều 47
Bộ luật hình sự và không ít trường hợp Toà án cấp phúc thẩm lại chấp nhận kháng
nghị tăng hình phạt đối với bị cáo chỉ vì lý do vi phạm Điều 47 Bộ luật hình sự.
của khung hình phạt phải tuân theo quy định tại Điều 47 Bộ luật hình sự.
Quy định của Bộ luật hình sự là một căn cứ quan trọng nhất, thể hiện nguyên
tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa khi quyết định hình phạt, quyết định hình phạt mà
không căn cứ vào các quy định của Bộ luật hình sự sẽ làm cho bản chất của hình
phạt thay đổi, mục đích của hình phạt không đạt được, dẫn đến những sai lầm
nghiêm trọng trong việc áp dụng pháp luật; bản án mà Toà án tuyên chẳng những
không đúng pháp luật mà còn không được dư luận đồng tình gây ra nhiều hậu quả
nghiêm trọng khác.
II. Những bất cập và đề xuất:
1. Tình hình phạm tội
17
Hiện nay, xu hướng phạm tội ngày càng được trẻ hóa với các hành vivi phạm pháp
luật mang tính tập thể, quy mô ngày càng lớn, tội phạm vị thành niên ngày càng
gia tăng và diễn biến phức tạp.
Nếu như những năm 2000 trở về trước, người chưa thành niên thường thực hiện
các hành vi trộm cắp, gây rối trật tự công cộng, cố ý gây thương tích không gây
nguy hại lớn thì những năm gần đây tính chất và mức độ của tội phạm lại nguy
hiểm hơn, vượt quá giới hạn của độ tuổi người chưa thành niên.
Điều đáng lo ngại là bên cạnh các tội phạm trộm cắp tài sản, lừa đảo chiếm đoạt tài
sản, cưỡng đoạt tài sản, cố ý gây thương tích, người chưa thành niên ngày càng
thực hiện các tội phạm mang tính nghiêm trọng và đặc biệt nghiêm trọng như: hình
thành những băng nhóm tội phạm có tổ chức, có cơ cấu chặt chẽ, cướp tài sản có
vũ khí nóng, hiếp dâm, mua bán sử dụng trái phép các chất ma túy, giết người với
thủ đoạn và hành vi hết sức man rợ.
Theo số liệu thống kê của Cục cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự xã hội (Bộ công
an) trên địa bàn cả nước:
- Trong 6 tháng đầu năm 2008 đã xảy ra 5.746 vụ, với khoảng 9.000 người
chưa thành niên vi phạm pháp luật hình sự, tăng 2% số vụ so với cùng kỳ
năm 2007.
- Theo thống kê chưa đầy đủ, chỉ tính riêng trong năm 2010, trên địa bàn cả
vị thành niên… những đối tượng chưa có sự phát triển hoàn thiện về nhận thức.
Nhiều ngành nghề kinh doanh mới ra đời đã mang lại nguồn lợi lớn cho nhà
đầu tư và cũng mang lại nguồn lợi không nhỏ cho Nhà nước như việc kinh doanh
nhà hàng khách sạn, nhà nghỉ, dịch vụ massage xông hơi, các quán internet, các
câu lạc bộ bia, vũ trường, quán ba, băng đĩa đồi trụy tràn lan trên thị trường không
được kiểm soát một cách chặt chẽ đã làm cho nhân cách và việc hoàn thiện nhân
cách của trẻ em bị méo mó.
Xã hội phân hóa giàu nghèo, một số bộ phận xài tiền hoang phí, có thể chi cả
chục triệu cho một đôi giày, hay một chiếc túi xách… trong khi một số bộ phận lại
không có cả cơm ăn. Chính vì thế đã tạo nên tâm lý bức xúc, họ cảm thấy bất công,
trở nên xem thường cuộc đời, xem thường xã hội, xem thường pháp luật dẫn đến
hành vi vi phạm.
Sự phát triển của internet, với những trò chơi bạo lực, những bộ phim đám
đá, giết người man rợ làm ảnh hưởng đến suy nghĩ và hành vi của người chưa
19
thành niên. Hay có thể như GS.TS Trịnh Duy Lân –Viện trưởng Viện Xã hội học
đã nói, chính những thông tin bạo lực, gây sốc trên báo chí, ví dụ như “Con giết
cha rồi chặt thành nhiều khúc ở Hải Dương” cũng có thể trở thành nguyên nhân
dẫn đến hành vi phạm tội của người chưa thành niên. Do những thông tin dạng này
xuất hiện nhiều và đậm nét trên báo chí sẽ làm cho trẻ “chết” về mặt cảm xúc, coi
việc đâm chém ngoài xã hội là một điều gì đó rất bình thường. Vì vậy mỗi khi rơi
vào tình trạng bị kích động hoặc gặp chuyện mâu thuẫn, lớp trẻ cũng giải quyết với
nhau bằng đao, kiếm… bằng bạo lực.
Đó chính là những nguyên nhân chính, trực tiếp làm gia tăng tình hình
trẻ hoá tội phạm trong thời gian gần đây.
Nguyên nhân về phía gia đình:
Xã hội phát triển, mỗi con người, mỗi gia đình đều quý trọng thời gian, công
việc, quan hệ, kiếm tiền… vì thế, các bậc cha mẹ, và những người lớn tuổi trong
gia đình không có nhiều thời gian để quan tâm, chăm sóc, chia sẻ những niềm vui
nỗi buồn và cả những tâm sự riêng tư trong cuộc sống của các thành viên trong gia
Tính chất của pháp luật quy định việc xử lý người chưa thành niên phạm tội
chủ yếu nhằm giáo dục, giúp đỡ họ sửa chữa sai lầm, phát triển lành mạnh và trở
thành công dân có ích cho xã hội. Do đó mà luật pháp không quy định khung phạt
cao nhất là tù chung thân và tử hình với người chưa thành niên phạm tội nghiêm
trọng hay đặc biệt nghiêm trọng. Chính vì kẻ hở đó của pháp luật đã không răn đe
được những đối tượng này, làm cho họ không khiếp sợ, dễ dàng tái phạm và nhởn
nhơ ngay cả khi đứng trước vành móng ngựa.
Nguyên nhân do chính từ bản thân người chưa thành niên:
Do tác động của các nguyên nhân kể trên đã tạo cho người chưa thành niên
sự lệch chuẩn về đạo đức: khuynh hướng và lối sống chạy theo đồng tiền, tôn sùng
tiện nghi vật chất, tuyệt đối hóa con người cá nhân, sống dối trá hai mặt… làm cho
người chưa thành niên trở nên vô cảm, lạnh lùng, thậm chí tàn ác.
Chạy theo trào lưu thể hiện cái tôi, thể hiện sự đẳng cấp, “số má” nên nhiều
người vị thành niên đã phạm tội với những nguyên nhân hết sức nhỏ nhặt.
21
2. Những bất cập trong tố tụng hình sự đối với người chưa thành niên phạm
tội:
Từ những số liệu thống kê và tình hình thực tế của thủ tục tố tụngở Việt
Nam nói chung và thủ tục tố tụng hình sự nói riêng, chúng tôi nhận thấy có những
bất cập sau:
i. Luật của nước ta chưa có văn bản pháp luật riêng về thủ tục tố tụng đối
với người chưa thành niên
Thủ tục tố tụng đối với người chưa thành niên về cơ bản được quy định
chung trong BLTTHS 2004 nhưng chỉ có một chương duy nhất (Chương XXXII từ
Điều 301 đến Điều 310) là quy định thủ tục tố tụng đối với người chưa thành niên.
Thực tế có rất nhiều nước trên thế giới có 1 bộ luật riêng về xét xử người chưa
thành niên. Điển hình như ở Nhật Bản có Luật chưa thành niên. Mục đích của Luật
người chưa thành niên không phải là trừng phạt những người chưa thành niên
phạm tội mà "giúp đỡ cho họ phát triển tốt, tiến hành những biện pháp bảo vệ để
thay đổi tính cách của người chưa thành niên phạm tội và tạo ra một môi trường
Mặc dù là nước thứ hai trên thế giới và là nước đầu tiên ở châu Á phê chuẩn công
ước về quyền trẻ em vào ngày 20-2-1990, nhưng cho đến hiện nay chúng ta vẫn
chưa xây dựng được đội ngũ những người có chuyên môn, các cơ quan, cơ sở đặc
biệt để giải quyết những vụ án về người chưa thành niên. Bên cạnh đó, mặc dù đã
được luật hóa một số công ước, điều ước vào hệ thống pháp luật của mình, nhưng
cũng vẫn chưa đáp ứng được nhiệm vụ hay thực hiện đầy đủ những nghĩa vụ như
đã cam kết trong các cam kết quốc tế. Với những nguyên nhân chủ yếu như số
lượng án hình sự nói chung, án do người chưa thành niên thực hiện nói riêng mỗi
năm tăng dẫn đến tình trạng thiếu người hoặc một người phải kiêm giải quyết
nhiều loại việc. Do quy định của pháp luật về tiêu chuẩn của người tiến hành tố
tụng giải quyết những vụ án loại này còn quá chung chung cho nên trên thực tế cơ
quan điều tra hầu như không phân biệt vụ án có người chưa thành niên hay không
trong việc phân công Điều tra viên điều tra vụ án.
• Việc phối hợp giữa các cơ quan tiến hành tố tụng khi giải quyết loại án do
người chưa thành niên thực hiện còn hạn chế, vẫn theo thủ tục chung mà
chưa chú ý đúng mức đến những thủ tục đặc biệt giành cho họ.
Do không được trang bị kiến thức đầy đủ về tâm lý, giáo dục người chưa
thành niên và phải xử lý nhiều loại án khác nhau cho nên những người được phân
23
công giải quyết loại án này thường không phân định được là đối với loại án người
chưa thành niên cần phải có sự chuẩn bị kỹ càng hơn. Do vậy, các cơ quan tiến
hành tố tụng chưa có sự phối hợp tích cực.Do chưa chú trọng đến đặc điểm tâm
sinh lý của người chưa thành niên nên trong quá trình hỏi cung bị can, nhiều điều
tra viên vẫn còn quát mắng, đe dọa, thậm chí đánh đập gây cho các em tâm lý sợ
hãi, căng thẳng. Việc giáo dục, cảm hóa người chưa thành niên phạm tội phải được
thực hiện ngay trong quá trình khởi tố, điều tra. Tuy nhiên, không phải người tiến
hành tố tụng nào cũng nhận thức rõ điều đó. Và một trong những nguyên nhân dẫn
đến tình trạng này là do họ phải giải quyết một lượng án lớn trong một thời gian
nhất định nên họ chưa có sự quan tâm đúng mức đến tầm quan trọng trong việc
giáo dục, giúp đỡ tới bị can là người chưa thành niên. Mặt khác, do chưa được đào
báo hiệu quả và tham gia đầy đủ vào quá trình tố tụng của bị cáo là người chưa
thành niên. Việc xét xử bị cáo là ngừoi chưa thành niên còn nhiều Tòa án đưa ra
xét xử lưu động đã làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của bị cáo là
ngừoi chưa thành niên. Những nghiên cứu gần đây cho thấy về hình thức phiên tòa
hiện chưa có bất kỳ phòng xử nào riêng biệt để tiến hành tố tụng liên quan tới
người chưa thành niên. Hầu hết các phiên tòa xét xử công khai, có quần chúng
nhân dân ngồi xem đã làm tăng cảm giác tâm lý sợ hãi, căng thẳng và bị kỳ thị
trong các em.Việc người chưa thành niên bị đưa ra xét xử trong môi trường giống
bị cáo đã thành niên hoặc trong cùng vụ án với bị cáo đã thành niên làm cho người
chưa thành niên bị ảnh hưởng tiêu cực từ phía bị cáo đã thành niên. Có thể họ sẽ
liều lĩnh và nguy hiểm hơn sau khi bị đưa ra xét xử.
iv. Những bất cập trong việc bào chữa:
Thời gian qua, Viện Khoa học xét xử TAND Tối cao đã nghiên cứu, xây
dựng báo cáo tổng quan về cơ sở lý luận và thực tiễn của sự cần thiết thành lập tòa
án chuyên trách đối với người chưa thành niên. Dự thảo báo cáo này cho rằng quá
trình lấy lời khai, xét hỏi người chưa thành niên cần sự có mặt của luật sư và người
giám hộ nhưng việc này chưa được thực hiện đúng. Thực tế có trường hợp cơ quan
điều tra mời luật sư và người giám hộ tham gia lấy lời khai nhưng là sau khi các
em… đã được lấy lời khai. Luật sư, người giám hộ chỉ ký vào bản cung để “hợp
thức”. Tất nhiên là không ít trường hợp họ cũng không được mời.
Ngoài ra, báo cáo còn nêu nhận định: Không có nhiều luật sư nổi tiếng tham
gia bào chữa cho bị can, bị cáo theo yêu cầu của cơ quan tiến hành tố tụng. Không
25