Luận văn tốt nghiệp
LỜI MỞ ĐẦU
Việt Nam đang trên con đường thực hiện CNH-HĐH đất nước, với mục
tiêu của Đảng là đến năm 2020, nước ta về cơ bản là một nước công nghiệp theo
hướng hiện đại. Để thực hiện được điều này thì nền kinh tế cần tăng trưởng và
phát triển hơn nữa. Một trong những nhân tố quyết định đến sự phát triển của
nền kinh tế chính là sự phát triển bền vững của các doanh nghiệp. Tuy nhiên việc
phát triển doanh nghiệp về cả chiều rộng và chiều sâu đều đòi hỏi một lượng vốn
lớn. Chính vì vậy, nhu cầu vốn đã và đang là một nhu cầu vô cùng cấp thiết cho
việc xây dựng cơ sở hạ tầng, trang thiết bị cũng như chuyển dịch cơ cấu kinh tế.
Một trong những công cụ đắc lực đáp ứng nhu cầu này chính là cho vay TDH.
Hệ thống NHTM Việt Nam có một vị trí quan trọng trong việc đáp ứng
nhu cầu vốn cho nền kinh tế. Nhận thấy tầm quan trọng của cho vay TDH, các
NHTM đã triển khai thực hiện rất nhiều biện pháp nhằm chuyển dịch cơ cấu cho
vay, tăng dần tỷ trọng cho vay TDH, giúp các doanh nghiệp phát triển theo chiều
sâu. Điều này chẳng những tạo điều kiện có thể nâng cao năng lực sản xuất kinh
doanh cũng như quy mô hoạt động, phục vụ đắc lực cho công cuộc thực hiện
CNH-HĐH mà còn tạo cơ sở phát triển cho chính các NHTM.
Việc phát triển cho vay TDH như chúng ta đã thấy không chỉ mang lại lợi
ích cho toàn bộ nền kinh tế mà còn trực tiếp mang lại lợi ích cho ngân hàng. Tuy
vậy, trong thực tế, hoạt động cho vay TDH còn gặp nhiều khó khăn, đặc biệt là
về chất lượng cho vay TDH. Dư nợ cho vay TDH thường chiếm tỷ trọng thấp
trong cơ cấu dư nợ cho vay của ngân hàng; tỷ lệ nợ xấu, nợ quá hạn TDH còn
cao khiến ảnh hưởng không nhỏ đến sự phát triển của NH và của nền kinh tế.
Do vậy, giải pháp nâng cao chất lượng cho vay TDH luôn là một vấn đề
nóng bỏng được nhiều người quan tâm, giải quyết. Đây cũng là một đề tài của
1
Luận văn tốt nghiệp
nhiều cuộc trao đổi, thảo luận, nghiên cứu nhằm giải quyết vấn đề trên.
Nhận thức được tầm quan trọng và ý nghĩa lớn lao của vấn đề trên, với
1.1.1. Khái niệm Ngân hàng Thương Mại
Lịch sử hình thành và phát triển của NHTM gắn liền với sự hình thành và
phát triển của nền sản xuất hàng hóa. NHTM ra đời là kết quả của một quá trình
hình thành và phát triển lâu dài. Nó là sản phẩm của một nền sản xuất hàng hóa,
là một bộ phận không thể tách rời và tồn tại như một tất yếu trong nền kinh tế
hiện đại.
Theo luật các Tổ chức tín dụng của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt
Nam: “Hoạt động ngân hàng là việc kinh doanh, cung ứng thường xuyên một
hoặc một số các nghiệp vụ: Nhận tiền gửi; Cho vay; Cung ứng dịch vụ thanh
toán qua tài khoản.”. Và NHTM là loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả các
hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của Luật
này nhằm mục tiêu lợi nhuận.
1.1.2. Các hoạt động của Ngân hàng Thương mại
Trong nền kinh tế thị trường hiện nay, các NHTM hoạt động đa năng trên
nhiều lĩnh vực, tuy nhiên nó tập trung vào ba lĩnh vực chính: hoạt động huy động
vốn, hoạt động sử dụng vốn, hoạt động trung gian.
Hoạt động huy động vốn là hoạt động đầu vào của NH. Trong quá trình
hoạt động của mình, NHTM phần lớn dựa vào việc huy động các nguồn vốn tạm
thời nhàn rỗi trong nền kinh tế thông qua các hình thức khác nhau: tiết kiệm có kỳ
hạn, không kỳ hạn, tiền gửi thanh toán, phát hành chứng chỉ nhận tiền gửi, trái
3
Luận văn tốt nghiệp
phiếu, kỳ phiếu của NH. Tiếp nhận các nguồn vốn tài trợ, vốn ủy thác của chính
phủ, của các tổ chức kinh tế. Khi huy động được vốn NH sẽ tìm kiếm lợi nhuận, vì
NH cũng là một tổ chức kinh tế. NH sẽ sử dụng vốn để cho vay và đầu tư.
Hoạt động cho vay là hoạt động quan trọng nhất quyết định sự thành bại
của ngân hàng. Vì đây là hoạt động sinh lời chủ yếu của ngân hàng. Đây cũng là
hoạt động chứa đựng nhiều rủi ro nhất. Hoạt động cho vay gồm cho vay ngắn hạn,
trung hạn, dài hạn bằng VND, cho vay xuất nhập khẩu, tái chiết khẩu bộ chứng từ,
sản cho bên đi vay sử dụng trong một thời hạn thỏa thuận, bên đi vay có trách
nhiệm hoàn trả vô điều kiện vốn gốc và lãi cho bên cho vay khi đến hạn thanh
toán.
Có thể phân loại cho vay theo nhiều tiêu chí khác nhau. Căn cứ theo thời
hạn cho vay thì có thể phân thành: Cho vay ngắn hạn, cho vay trung hạn, cho vay
dài hạn. Trong đó cho vay trung và dài hạn được định nghĩa như sau: “Cho vay
trung và dài hạn trong hoạt động tại NHTM được hiểu là các khoản cho vay có kỳ
hạn lớn hơn một năm trở lên (Trong đó từ 1 đến 5 năm được coi là cho vay trung
hạn và trên 5 năm đuợc coi là cho vay dài hạn)”
Cho vay TDH chủ yếu nhằm đáp ứng nhu cầu vốn cố định của khách hàng
để mua sắm máy móc, thiết bị, xây dựng cơ sở vật chất, kĩ thuật của doanh
nghiệp. Từ đó cải tiến công nghệ sản xuất, nâng cao chất lượng sản phẩm, mở
rộng sản xuất, nâng cao sức cạnh tranh. Có thể nói, cho vay TDH là một phương
thức tài trợ quan trọng về mặt tài chính của ngân hàng cho các doanh nghiệp,
nhằm thỏa mãn các cơ hội kinh doanh, nâng cao tiềm lực doanh nghiệp, tạo đà
phát triển cho nền kinh tế.
5
Luận văn tốt nghiệp
1.2.2. Những đặc điểm của cho vay trung và dài hạn của NHTM
Cho vay trung và dài hạn của NHTM có một số đặc điểm sau:
Một là: Vốn đầu tư lớn, thời gian đầu tư dài và thu hồi vốn chậm
Như chúng ta đã biết, các khoản cho vay trung và dài hạn chủ yếu để tài
trợ cho các nhu cầu đầu tư vào bất động sản, công cụ lao động hay đầu tư đổi
mới nâng cao công nghệ của doanh nghiệp. Chính vì vậy các khoản cho vay này
thường có vốn đầu tư rất lớn và với một thời gian đầu tư dài (trên 1 năm). Bên
cạnh đó, nguồn trả nợ gốc và lãi chủ yếu cho khoản nợ này là khấu hao và lợi
nhuận của dự án đầu tư. Ngân hàng phải tài trợ vốn trong suốt thời gian xây
dựng dự án và chỉ thu hồi được vốn đầu tư khi dự án đã đi vào hoạt động và thu
được kết quả,do vậy thời gian thu hồi vốn thường rất dài.
chủ thể kinh tế vô cùng quan trọng trong nền kinh tế quốc dân. Do vậy, việc
nâng cao hiệu quả hoạt động của hai chủ thể này góp phần thúc đẩy sự phát triển
chung của nền kinh tế. Hiện nay với sự ra đời và phát triển của hệ thống NHTM,
hoạt động cho vay TDH ngày càng chiếm một vị trí quan trọng ảnh hưởng đến
sự phát triển của nền kinh tế. Hoạt động cho vay TDH như là một công cụ sử
dụng hiệu quả nhất lượng tiền nhàn rỗi trong dân cư phục vụ cho quá trình tài
sản xuất mở rộng, phù hợp với quá trình vận động vốn.
1.2.3.1. Đối với doanh nghiệp
- Cho vay TDH tạo điều kiện cho việc ứng dụng tiến bộ khoa học kĩ thuật:
Ngày nay khoa học kĩ thuật đóng vai trò vô cùng quan trọng trong quá
trình sản xuất hàng hóa.Việc đối mới nâng cao ứng dụng công nghệ kĩ thuật
trong sản xuất có một vai trò hết sức to lớn, tuy nhiên nó đòi hỏi một lượng vốn
7
Luận văn tốt nghiệp
đầu tư rất lớn mà hầu hết các doanh nghiệp không thể tự trang trải. Và nhu cầu
vốn này hầu hết được tài trợ bởi các khoản cho vay TDH. Nếu các doanh nghiệp
sử dụng một cách hợp lí khoản cho vay này thì sẽ có thể nâng cao được vị thế
của bản thân doanh nghiệp trên thị trường, điều này cũng góp phần nâng cao chất
lượng cho vay TDH của doanh nghiệp.
- Cho vay trung và dài hạn là nguồn tài trợ giúp doanh nghiệp có điều
kiện mở rộng quy mô sản xuất, mở rộng thị trường:
Hiện nay nhu cầu đầu tư vốn vào xây dựng cơ bản nhằm mở rộng quy mô
sản xuất, mở rộng thị trường của các doanh nghiệp là rất lớn. Các doanh nghiệp
có nhiều cách để trang trải cho nhu cầu vốn này như tích lũy vốn tự có; phát
hành cổ phiếu, trái phiếu; đi vay vốn NH Đi vay vốn NH là một phương án mà
rất nhiều doanh nghiệp lựa chọn. Trong đó để tài trợ cho nhu cầu vốn này của
doanh nghiệp chính là các khoản cho vay TDH. Đi vay NH có lợi thế là có thể
huy động được một lượng vốn lớn trong thời gian ngắn, với chi phí dịch vụ
không cao, thủ tục không quá phức tạp. Nếu tận dụng tốt vốn vay thì sẽ tạo đà
duy trì phạm vi hoạt động của mình và ngày càng khẳng định vai trò, vị thế của
mình trong nền kinh tế. Đa dạng hóa hoạt động cho vay, đa dạng hóa khách hàng,
thời hạn vay sẽ giúp NH đứng vững và phát triển trong nền kinh tế thị trường với
sự cạnh tranh gay gắt của các NH khác. Mặt khác, cho vay TDH còn là công cụ
cạnh tranh hiệu quả của ngân hàng nhằm thu hút khách hàng về phía mình, sử
dụng các dịch vụ do mình cung cấp.
-Cho vay trung, dài hạn còn là cách thức khả thi để giải quyết nguồn vốn
huy động còn dư thừa tại mỗi NHTM.
9
Luận văn tốt nghiệp
Vì vậy cần phải nâng cao chất lượng cho vay trung, dài hạn để giải quyết vấn
đề huy động và sử dụng vốn có hiệu quả, thu được lợi nhuận qua đó phát triển hoạt
động cuả mình, tăng cường khả năng cạnh tranh với các ngân hàng khác.
1.2.3.3. Đối với nền kinh tế
- Cho vay TDH thúc đẩy quá trình tích tụ và tập trung, điều hòa cung cầu
về vốn trong nền kinh tế:
Là trung gian tài chính, các ngân hàng tập trung các nguồn vốn tiền tệ nhàn
rỗi trong nền kinh tế và cho vay đối với các đối tượng có nhu cầu. Nó giúp các
doanh nghiệp nói riêng và cả nền kinh tế nói chung hoạt động một cách liền mạch
không ngắt quãng và là một kênh truyền dẫn vốn có hiệu quả. Hoạt động cho vay
thúc đẩy quá trình chu chuyển tiền tệ, thúc đẩy tái sản xuất mở rộng.
- Cho vay TDH có vai trò quan trọng trong quá trình chuyển dịch cơ cấu
kinh tế:
Các ngân hàng có thể căn cứ vào chiến lược kinh doanh của mình cũng như
chính sách của NHNN mà đầu tư vào các ngành nghề kinh tế mũi nhọn, nâng cao
tiềm lực kinh tế và năng lực canh tranh của nền kinh tế trong nước. Việc này góp
phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo một hướng phù hợp hơn, tiến bộ hơn.
- Cho vay TDH góp phần thúc đẩy hoạt động thị trường vốn ngắn hạn.
Cho vay TDH đầu tư vào máy móc thiết bị và xây dựng cơ sở của doanh
doanh tiền tệ và các dịch vụ tài chính, NHTM cũng phải quan tâm đến chất lượng
sản phẩm dịch vụ của mình, đặc biệt là chất lượng cho vay, vì cho vay là hoạt
động mang lại lợi nhuận chủ yếu cho NH. Trong phạm vi đề tài, chúng ta tập
trung vào chất lượng cho vay TDH của NHTM.
11
Luận văn tốt nghiệp
Chất lượng cho vay trung và dài hạn là chất lượng của các khoản vay có
thời hạn trên một năm, được đánh giá là có chất lượng tốt khi vốn vay được sử
dụng đúng mục đích phục vụ cho các hoạt động sản xuất kinh doanh đem lại
hiệu quả, đảm bảo trả nợ cho ngân hàng đúng hạn vừa bù đắp được chi phí vừa
có lợi nhuận vừa đem lại hiệu quả kinh tế xã hội.
Một khoản cho vay trung và dài hạn được đánh giá là có chất lượng cao khi:
- Mục tiêu đầu tư phù hợp với chiến lược phát triển của nền kinh tế, xã hội,
phù hợp thị trường.
- Có biện pháp phòng ngừa rủi ro phù hợp với tính chất pháp lí của từng
hình thức cho vay.
- Có tính hiệu quả kinh tế trực tiếp các căn cứ để tính toán dựa trên thông
tin đáng tin cậy.
- Thủ tục cho vay, đầu tư chặt chẽ về mặt pháp lý.
- Trong quá trình khai thác vốn, doanh nghiệp sử dụng hiệu quả vốn vay, trả
nợ ngân hàng đúng lịch trình cả gốc và lãi.
- Doanh nghiệp được đầu tư có kinh nghiệm sản xuất, có khả năng cạnh
tranh cao.
Như vậy ta thấy chất lượng cho vay trung và dài hạn không phải tự nhiên
mà có được, mà nó là kết quả của một quá trình hoạt động giữa con người trong
một tổ chức và giữa các tổ chức với nhau. Đây là một khái niệm tương đối trừu
tượng nhưng nó cũng phần nào được thể hiện qua một vài chỉ tiêu tính toán cụ thể
ta sẽ đề cập ở phần sau.
1.3.2. Các chỉ tiêu đánh giá chất lượng cho vay trung và dài hạn của
13
Luận văn tốt nghiệp
khách hàng trong các khoản cho vay TDH. Con số và tốc độ của doanh số cho
vay TDH qua các năm phản ánh quy mô và xu hướng của hoạt động cho vay
TDH là mở rộng hay thu hẹp.
Doanh số thu nợ TDH phản ánh lượng vốn mà NH đã thu hồi trong kì
Dư nợ TDH phản ánh lượng vốn mà khách hàng còn nợ tại ngân hàng tại
một thời điểm cụ thể:
Dư nợ TDH cuối kì = Dư nợ TDH đầu kì + Doanh số cho vay TDH trong
kì – Doanh số thu nợ TDH trong kì
Các chỉ tiêu về doanh số cho vay TDH, dư nợ TDH tuy có phản ánh khả
năng của ngân hàng trong hoạt động cho vay TDH, tuy vậy nó chưa thể khẳng
định chất lượng cho vay TDH của ngân hàng là cao hay thấp. Việc đánh giá chất
lượng cho vay TDH là cao hay thấp còn phụ thuộc vào việc xem xét và đánh giá
các chỉ tiêu dưới đây.
+ Chỉ tiêu về dư nợ:
Dư nợ cho vay TDH
Tỷ trọng dư nợ trung và dài hạn = x100%
Tổng dư nợ cho vay
Tỷ trọng dư nợ TDH giúp chúng ta có thể so sánh quy mô cho vay trung và
dài hạn so với quy mô cho vay ngắn hạn của NH. Tỷ lệ này cao chứng tỏ quy mô
cho vay TDH của NH lớn. Tùy theo chiến lược kinh doanh của NH mà tỉ lệ này có
thể thay đổi theo từng thời kì. Hiện nay các ngân NH phổ biến giữ tỷ trọng này ở
mức khoảng 30% trở xuống để đảm bảo an toàn vốn trong kinh doanh.
Tổng dư nợ TDH
Hệ số sử dụng vốn TDH =
Tổng nguồn vốn TDH
14
độ rủi ro trong cho vay TDH của ngân hàng.
- Nợ xấu trung và dài hạn:
Nợ xấu là các khoản nợ thuộc các nhóm 3,4,5 theo quy định tại Điều 6,
Điều 7 – Quyết định số 493 – NHNN.
Nợ xấu trung và dài hạn
Tỷ lệ nợ xấu trung và dài hạn (1)= x 100%
Tổng dư nợ trung và dài hạn
Tỷ lệ này phản ánh tỷ trọng nợ xấu trong tổng dư nợ trung và dài hạn. Chỉ tiêu
này càng thấp càng tốt. Tuy nhiên trong hoạt động cho vay nói chung và cho vay
trung và dài hạn nói riêng luôn tồn tại những rủi ro nhất định không tránh khỏi. Vì
vậy các ngân hàng cũng cần chấp nhận một tỷ lệ nợ xấu trung và dài hạn nhất
định. Thường các ngân hàng duy trì tỷ lệ này ở mức dưới 5%.
Nợ xấu trung và dài hạn
Tỷ lệ nợ xấu trung và dài hạn (2) = x 100%
Tổng thu nợ trung và dài hạn
Phản ánh khả năng thu nợ của các khoản vay TDH thể hiện ở các khoản vay
đã đến hạn trả nhưng không đủ khả năng hoàn trả của người đi vay, về bản chất
cho biết sự luân chuyển nguồn vốn đã cho vay tại một thời điểm và sự biến động
của độ an toàn về vốn sử dụng tỷ lệ nghịch với sự tăng giảm của tỷ trọng trên.
* Nhóm chỉ tiêu về thu nhập:
Thu nhập từ hoạt động cho vay là một trong những nhóm chỉ tiêu phản ánh
chất lượng cho vay. Tuy hiện nay các ngân hàng có xu hướng là tăng tỷ trọng thu
nhập của hoạt động dịch vụ, tuy nhiên về cơ bản thì hoạt động cho vay vẫn là hoạt
động mang lại thu nhập chính của ngân hàng. Để xem xét chất lượng cho vay
16
Luận văn tốt nghiệp
TDH, chúng ta sẽ xem xét một số chỉ tiêu thuộc nhóm chỉ tiêu về thu nhập sau:
- Chỉ tiêu 1:
Thu nhập từ hoạt động cho vay TDH
Con người luôn là yếu tố quyết định đến sự thành bại của công việc.
Nghiệp vụ hoạt động ngân hàng càng phát triển thì đòi hỏi chất lượng nhân sự
ngày càng cao hơn. Để thực hiện tốt hoạt động cho vay TDH thì yêu cầu cán bộ
tín dụng phải được đào tạo chính quy, chuyên sâu để có thể đưa ra quyết định
chính xác về việc cho vay dự án. Bên cạnh đó, cán bộ ngân hàng cần phải có
lương tâm và đạo đức nghề nghiệp.
Công tác thẩm định dự án:
Mục đích của việc thẩm định dự án là giúp cho ngân hàng rút ra các kết
luận chính xác về tính khả thi của dự án, bao gồm hiệu quả kinh tế và khả năng
trả nợ ngân hàng từ đó ngân hàng có thể ra các quyết định cho vay hoặc từ chối.
Nếu việc thẩm định không được thực hiện đúng với trình tự, nội dung không đầy
đủ, chính xác thì khả năng xảy ra rủi ro đối với ngân hàng là rất lớn.
Công tác tổ chức của ngân hàng:
Công tác tổ chức không chỉ tác động đến chất lượng cho vay mà còn
tác động đến mọi hoạt động của ngân hàng. Nếu chỉ xét riêng ảnh hưởng đến
chất lượng cho vay, thì việc tổ chức thiếu khoa học sẽ tạo sự chồng chéo trong
việc phối hợp công việc giữa các bộ phận trong ngân hàng, ảnh hưởng tới thời
gian ra quyết định đối với một món vay. Vì vậy, công tác tổ chức trong ngân
hàng phải được hết sức coi trọng.
Thông tin tín dụng:
18
Luận văn tốt nghiệp
Những thông tin chính xác về khách hàng sẽ giúp cho ngân hàng dễ dàng
hơn trong việc ra quyết định cho vay hay không đồng thời cũng thuận tiện cho
ngân hàng trong quá trình kiểm tra, giám sát khoản vay Thông tin tín dụng
chính xác sẽ giúp ngân hàng hạn chế được rủi ro ở mức thấp nhất.
1.3.3.1.2. Những nhân tố thuộc về phía khách hàng vay vốn
Tiềm lực tài chính của khách hàng:
Thể hiện qua các chỉ tiêu như vốn tự có, hệ số nợ, khả năng thanh toán,
1.3.3.2. Nhân tố khách quan
* Môi trường tự nhiên - kinh tế - xã hội
- Môi trường tự nhiên: Môi trường tự nhiên tuy không ảnh hưởng trực
tiếp đến hoạt động của ngân hàng nhưng nó có ảnh hưởng đến hoạt động sản
xuất kinh doanh các doanh nghiệp vay vốn của ngân hàng. Từ đó có ảnh hưởng
đến khả năng trả nợ của doanh nghiệp cho ngân hàng.
- Môi trường chính trị, xã hội: Sự ổn định về chính trị, xã hội là một cơ
sở quan trọng để các nhà đầu tư xem xét quyết định đầu tư. Nếu môi trường
chính trị, xã hội ổn định thì các nhà đầu tư có thể yên tâm hơn trong việc mở
rộng đầu tư và do đó nhu cầu vốn trung và dài hạn tăng lên.
- Môi trường kinh tế: Để ngân hàng có thể huy động được nhiều nguồn
vốn, mở rộng hoạt động cho vay, phục vụ cho việc phát triển kinh tế, thì việc có
một nền kinh tế phát triển ổn định sẽ tạo điều kiện cho ngân hàng mở rộng quy mô
hoạt động của mình.
* Môi trường pháp lý:Môi trường pháp lí không chặt chẽ, nhiều kẽ hở
và bất cập sẽ tạo cơ hội cho các doanh nghiệp yếu kém làm ăn bất chính, lừa đảo
20
Luận văn tốt nghiệp
lẫn nhau và lừa đảo ngân hàng.
1.3.4. Sự cần thiết phải nâng cao chất lượng cho vay trung và dài hạn của
NHTM
Việc nâng cao chất lượng cho vay giữ một vai trò hết sức quan trọng không
chỉ với ngân hàng mà còn với cả các doanh nghiệp và nền kinh tế.
* Đối với ngân hàng:
Cho vay TDH là một trong các hoạt động mang lại nguồn thu chủ yếu cho
các NH. Chất lượng cho vay TDH của NH được nâng cao đồng nghĩa với việc NH
có thể đáp ứng được tốt hơn nhu cầu vốn của khách hàng, đồng thời giảm độ rủi ro
cho vay đối với khoản cho vay đó. Như vậy nâng cao chất lượng cho vay TDH
tạo thuận lợi cho sự phát triển lâu dài và bền vững của NH.
chương 2.
22
Luận văn tốt nghiệp
CHƯƠNG 2:
THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG CHO VAY TRUNG DÀI HẠN TẠI NGÂN
HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN VIỆT NAM CHI
NHÁNH LÁNG HẠ THỜI GIAN GẦN ĐÂY
2.1. Tổng quan về Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt
Nam Chi nhánh Láng Hạ
2.1.1. Lịch sử hình thành và phát triển của Ngân hàng
Ngân hàng No&PTNT Việt Nam được thành lập theo Quyết định số
53/HĐBT ngày 26/3/1988 của Hội đồng Bộ trưởng nay là Chính phủ về việc
thành lập Ngân hàng chuyên doanh trong đó có Ngân hàng No&PTNT hoạt động
trong lĩnh vực nông nghiệp nông thôn.
Cùng với việc ra đời của một số Chi nhánh NHNo tại các thành phố
lớn, khu đô thị và trung tâm kinh tế trên mọi miền đất nước trong giai đoạn 1996 –
1997. Ngày 1/8/1996 tại Quyết định số 334/QĐ – NHNo – 02 của Tổng giám đốc
NHNo&PTNT Việt Nam, Chi nhánh NHNo&PTNT Láng Hạ được thành lập và
chính thức đi vào hoạt động từ 17/3/1997.Ngày 18/3/1997 lễ công bố quyết định
thành lập chi nhánh Láng Hạ được tổ chức tại trụ sở 44 Láng Hạ (nay là 24 Láng
Hạ - Quận Đống Đa – Hà Nội).
►Nguồn vốn ban đầu của chi nhánh trong những ngày đầu thành lập chỉ
có hơn 10 tỷ đồng, nhận bàn giao từ NH Phục vụ người nghèo, nay là NH Chính
sách Xã hội Việt Nam.
► Trụ sở hoạt động: Chi nhánh NHNo&PTNT Láng Hạ là chi nhánh cấp
I của NHNo&PTNT Việt Nam , trụ sở của chi nhánh đặt tại tòa nhà 44 Láng Hạ -
23
Luận văn tốt nghiệp
cầu và có những chuyển biến tích cực, song chưa thực sự ổn định và còn tiềm ẩn
nhiều yếu tố bất lợi tác động đến kinh tế nước ta. Kinh tế trong nước còn khó
khăn, thiên tai liên tiếp xảy ra, ảnh hưởng không nhỏ đến sản xuất và đời sống
dân cư. Đứng trước những khó khăn trên, Chính phủ đã chỉ đạo các ngành, các
cấp, các địa phương thực hiện nghiêm và đồng bộ các giải pháp, nỗ lực vượt qua
khó khăn, huy động hiệu quả các nguồn lực, tập trung thúc đẩy sản xuất, kinh
doanh và đạt được những kết quả nhất định. Hòa chung với những thành quả của
nền kinh tế Việt Nam, NHNo&PTNT Việt Nam Chi nhánh Láng Hạ cũng thực
hiện tốt hoạt động kinh doanh của mình, đạt được những mục tiêu nhất định
trong năm vừa qua.
2.1.3.1. Hoạt động huy động vốn
Để đáp ứng vốn cho khách hàng một cách nhanh nhất, đồng thời liên tục
mở rộng cho vay, chi nhánh đã thực hiện có hiệu quả các hình thức huy động
vốn.
Tổng nguồn vốn huy động của NHNo&PTNT Việt Nam không ngừng
tăng lên qua các năm. Năm 2009 tổng nguồn vốn huy động là 7.656 tỷ đồng
nhưng đến năm 2010 đã là 9.888 tỷ đồng, tăng 2.232 tỷ đồng ( tương ứng với
29,15%) so với năm 2009. Tiếp tục đà tăng đấy, tính đến ngày 31/12/2011, tổng
nguồn vốn huy động đạt 10.002 tỷ đồng, tăng 114 tỷ đồng (tương ứng với
1,15%) so với năm 2010.
Tình hình huy động vốn của NHNo&PTNT Việt Nam chi nhánh Láng Hạ
được thể hiện chi tiết qua bảng số liệu sau:
25