Mục lục
Mục lục 1
Lời mở đầu 4
Ch ơng I
Các vấn đề lý luận về phát triển kinh tế trang trại gia đình
và sự cần thiết phát triển loại hình kinh tế trang trại
gia đình ở tỉnh Yên Bái.
I. Những vấn đề lý luận cơ bản về kinh tế trang trại 6
1. Quan niệm về trang trại và kinh tế trang trại 6
2. Những đặc trng cơ bản của kinh tế trang trại gia đình 7
3. Những tiêu chuẩn để xác định thế nào là một trang trại gia đình 10
4. Phân loại trang trại gia đình 11
5. Những điều kiện cần thiết cho sự hình thành và phát triển kinh tế trang trại
gia đình.
12
5.1. Môi trờng thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp hàng hóa đợc tạo lập và
không ngừng đợc củng cố, hoàn thiện và phát triển.
12
5.2. Điều kiện của bản thân các hộ gia đình nông dân 13
II. Sự tất yếu của phát triển kinh tế trang trại gia đình ở Yên Bái trong
thời kỳ CNH-HĐH nông nghiệp, nông thôn
15
1. Các yếu tố ảnh hởng đến sự hình thành và phát triển kinh tế trang trại gia
đình ở Yên Bái
15
1.1. Điều kiện tự nhiên 15
bảo vệ cảnh quan, môi trờng sinh thái.
28
III. Kinh tế trang trại gia đình ở một số nớc Châu á và Việt Nam. Những
bài học kinh nghiệm đối với tỉnh Yên Bái.
29
1. Quá trình hình thành và phát triển kinh tế trang trại gia đình ở một số nớc
Châu á.
29
1.1. Kinh tế trang trại gia đình ở một số nớc công nghiệp phát triển 29
1.2. Kinh tế trang trại gia đình ở một số nớc đang phát triển 31
2. Quá trình hình thành và phát triển kinh tế trang trại gia đình ở Việt Nam 32
2.1. Kinh tế trang trại gia đình của cả nớc
32
2.2. Kinh tế trang trại gia đình của vùng Trung du miền núi phía Bắc 32
3. Một số bài học về phát triển kinh tế trang trại gia đình đối với tỉnh Yên Bái 34
3.1. Kinh tế trang trại gia đình - sản phẩm của thời kỳ công nghiệp hóa 34
3.2. Địa bàn và nội dung sản xuất kinh doanh của kinh tế trang trại gia đình. 35
3.3. Quy mô của kinh tế trang trại gia đình.
36
- 2 -
3.4. Kinh tế trang trại gia đình và mối quan hệ với tổ chức HTX, doanh
nghiệp ngoài quốc doanh.
36
53
4.3. Cơ cấu sản xuất
54
5. Kết quả và hiệu quả sản xuất của các trang trại.
54
- 3 -
5.1. Tổng thu của các trang trại.
54
5.2. Giá trị sản phẩm hàng hóa của các trang trại.
55
5.3. Tổng thu nhập của các trang trại.
56
5.4. Tạo việc làm và tăng thu nhập cho ngời lao động 58
II. Đánh giá tác động của các chính sách đến phát triển kinh tế trang trại
gia đình ở Yên Bái.
59
1. Chính sách đất đai.
59
2. Chính sách lao động
61
Phơng hớng và giải pháp phát triển kinh tế trang trại
gia đình ở Yên Bái đến năm 2005.
I. Quan điểm, định hớng và mục tiêu phát triển kinh tế trang trại gia đình
ở Yên Bái đến năm 2005.
76
1. Các quan điểm và định hớng phát triển.
76
2. Mục tiêu phát triển.
77
2.1. Mục tiêu chung.
77
2.2. Mục tiêu cụ thể.
77
II. Một số giải pháp chủ yếu thúc đẩy phát triển kinh tế trang trại gia đình
ở Yên Bái đến năm 2005.
78
1. Về quy mô đất đai.
79
1.1 Đối với chính quyền tỉnh Yên Bái.
79
1.2. Đối với các trang trại.
6. Về thị trờng.
90
6.1. Đối với các cơ quan chức năng.
90
6.2. Đối với các trang trại gia đình.
92
7. Đối mới và tăng cờng sự lãnh đạo của Đảng, vai trò quản lý của Nhà nớc và
thực hiện quy chế dân chủ ở Yên Bái.
93
Phần kết luận
95
Phụ lục bảng biểu.
96
- 6 -
Phụ lục: Những chủ trơng, chính sách lớn của đảng và Nhà n-
ớc về phát triển nông nghiệp, nông thôn, phát triển
kinh tế trang trại.
101
Tài liệu tham khảo.
104
Lời mở đầu
vấn đề cần phải giải quyết. Chính vì vậy, trong thời gian thực tập tại Viện Quy
hoạch và Thiết kế Nông nghiệp, em đã lựa chọn đề tài nghiên cứu Một số giải
pháp chủ yếu phát triển kinh tế trang trại gia đình tỉnh Yên Bái đến năm 2005 để
hoàn thành luận văn tốt nghiệp.
Mục tiêu của luận văn là phân tích, đánh giá thực trạng, từ đó phát hiện
những thành tựu cũng nh những tồn tại, hạn chế trong phát triển kinh tế trang trại
gia đình tỉnh Yên Bái thời kỳ 1995-2000 và kết hợp với quan điểm, phơng hớng,
mục tiêu phát triển kinh tế trang trại gia đình đề xuất những giải pháp nhằm thúc
đẩy sự phát triển của kinh tế trang trại gia đình tỉnh Yên Bái tới năm 2005.
Để đạt đợc mục tiêu nh trên, trong luận văn Những giải pháp chủ yếu cho
phát triển kinh tế trang trại tỉnh Yên Bái tới năm 2005 đã sử dụng một số ph-
ơng pháp nghiên cứu nh sau:
- Phơng pháp thu thập, xử lý, phân tích, đánh giá và tổng hợp thông tin.
- Phơng pháp chuyên gia.
- Phơng pháp toán
Ngoài phần mở đầu, kết luận, nội dung chính của luận văn đợc kết cấu thành 3
chơng:
Chơng I: Các vấn đề lý luận về phát triển kinh tế trang trại gia đình và
sự cần thiết phát triển loại hình trang trại này ở tỉnh Yên Bái.
Chơng II: Thực trạng phát triển kinh tế trang trại gia đình tỉnh Yên Bái
thời kỳ 1996 - 2001.
Chơng III: Phơng hớng và giải pháp phát triển kinh tế trang trại gia đình
tỉnh Yên Bái giai đoạn 2002 - 2005.
- 8 -
Chơng I
Các vấn đề lý luận về phát triển kinh tế trang trại
gia đình và sự cần thiết phát triển kinh tế
trang trại gia đình ở tỉnh Yên Bái.
I. Những vấn đề lý luận cơ bản về kinh tế trang trại gia đình :
- Có t cách pháp nhân (đợc Nhà nớc cho phép).
- Có nội dung đăng ký kinh doanh cụ thể với Nhà nớc (nuôi trồng cây con gì?
Dịch vụ nông nghiệp nào? )
- Có hàng hóa đa ra thị trờng.
- Có quy mô phù hợp, có bộ máy quản lý tơng ứng.
- Có hạch toán kinh tế rõ ràng.
- Có nghĩa vụ dứt khoát với Nhà nớc (thuế và các khoản lệ phí).
- Có lợi ích ngày càng tăng thêm trên cơ sở lợi nhuận ngày càng nhiều.
- Tất cả đợc thực hiện theo luật định trên cơ sở hành lang pháp lý minh bạch.
2. Những đặc trng cơ bản của kinh tế trang trại gia đình :
Thứ nhất, hoạt động sản xuất kinh doanh của các trang trại gia đình chủ yếu
nhằm tạo ra ngày càng nhiều những nông sản hàng hóa, đáp ứng yêu cầu của thị tr-
ờng, có quan hệ chặt chẽ và nhanh nhạy với thay đổi của thị trờng.
Khác với hộ tiểu nông đơn thuần chỉ là hộ sản xuất nông nghiệp, không kinh
doanh nhằm mục đích kiếm lợi nhuận và mở rộng phát triển sản xuất. Trang trại gia
đình vừa sản xuất vừa kinh doanh. Sản phẩm đầu vào, đầu ra phục vụ cho sản
xuất kinh doanh phần lớn phải dựa vào thị trờng. Nông sản phẩm sản xuất ra chỉ để
lại một phần nhỏ để tiêu dùng trong gia đình, còn phần lớn trở thành hàng hóa trên
thị trờng.
Là ngời nông dân, chủ trang trại gia đình và chủ hộ tiểu nông đều có cùng một
mối quan tâm lo lắng về diễn biến thời tiết, khí hậu, yếu tố khách quan quyết định
sự thành bại của mùa màng. Nhng là ngời kinh doanh, chủ trang trại còn phải quan
tâm nhiều hơn đến nhu cầu thị trờng, sự diễn biến lên xuống của giá cả. Điều kiện
tự nhiên chi phối và quyết định phơng hớng sản xuất, phơng thức canh tác của hộ
tiểu nông. Sản xuất kinh doanh của trang trại cũng chịu sự chi phối, quyết định của
điều kiện tự nhiên, ngoài ra còn chịu sự chi phối, quyết định lớn hơn, nhanh nhạy,
táo bạo hơn của thị trờng.
Thứ hai, kinh tế trang trại gia đình là đơn vị sản xuất kinh doanh một chủ
trong nông nghiệp, không hình thành cơ cấu bộ máy tổ chức quản lý. Chủ yếu sử
dụng lao động của gia đình. Việc thuê mớn lao động thờng xuyên hoặc thời vụ chỉ
sản phẩm d ra để bán và phải vì mục tiêu kinh doanh làm trọng nên phần khối lợng
sản phẩm d ra bán phải lớn hơn, nhiều hơn khối lợng sản phẩm tiêu dùng nội bộ.
Hơn thế nữa, để có thể tìm kiếm nhiều lợi nhuận, sản xuất kinh doanh phải đi vào
chuyên môn hoá, tập trung hóa. Ngành sản xuất đợc đầu t, tập trung chuyên môn
hóa cao là ngành có thị trờng tiêu thụ tơng đối ổn định, có triển vọng mở rộng, phù
- 11 -
hợp với điều kiện sản xuất của địa phơng, của trang trại. Tuy nhiên, do trang trại gia
đình là đơn vị kinh tế một chủ nên hoạt động sản xuất kinh doanh hầu nh dựa trên
nguồn lực tự có của gia đình, sự thuê mớn lao động, vay vốn sản xuất kinh doanh
chỉ ở mức tối cần thiết. Quy mô sản xuất, trình độ chuyên môn hóa, tập trung hóa ở
mức nhỏ hơn, thấp hơn nhiều so với các công ty, xí nghiệp, nông trờng
Trên thực tế, quy mô, trình độ tập trung chuyên môn hóa của các trang trại gia
đình rất khác nhau, tuỳ thuộc vào điều kiện tự nhiên, kinh tế-xã hội, trình độ phát
triển và lịch sử phát triển trang trại của mỗi nớc, mỗi vùng, mỗi địa phơng.
Thứ t, kỹ thuật sản xuất trong các trang trại gia đình luôn đợc chú trọng đổi
mới một cách phù hợp. Tập đoàn cây trồng, vật nuôi, mùa vụ sản xuất, kỹ thuật
canh tác đợc thay đổi hợp lý tuỳ theo mục đích của chủ trang trại. Sản xuất mang
tính linh động. Do đó, hiệu quả kinh tế của các trang trại gia đình đem lại thờng cao
hơn hiệu quả kinh tế của các mô hình sản xuất khác trong nông nghiệp.
Kinh tế trang trại gia đình là một phần của nền kinh tế hàng hóa, luôn phải
chấp nhận cạnh tranh trên thị trờng. Bởi vậy phải năng động và luôn đổi mới. Việc
áp dụng những tiến bộ kỹ thuật trở thành một đòi hỏi bức thiết, nhất là các lĩnh vực
có ảnh hởng lớn, liên quan trực tiếp đến năng suất cây trồng, vật nuôi, chất lợng sản
phẩm nh giống mới, máy móc công cụ, quy trình canh tác, phòng trừ dịch bệnh, chế
biến sản phẩm.
Cùng với việc thờng xuyên áp dụng những tiến bộ khoa học, kỹ thuật, chuyển
giao công nghệ trong sản xuất, chủ trang trại còn phải không ngừng học hỏi, nâng
cao trình độ quản lý, năng lực hạch toán sản xuất kinh doanh, phân tích thông tin,
tìm hiểu, dự đoán biến động thị trờng, gây đợc chữ tín trong quan hệ làm ăn Đây
các tỉnh miền Bắc và miền Trung phải có diện tích từ 3 ha trở lên còn ở các
tỉnh Nam Bộ phải có diện tích từ 5 ha trở lên.
- Đối với các trang trại chăn nuôi nh trâu bò phải có từ 50 con trở lên, lợn
100 con trở lên (không kể lợn sữa dới 2 tháng tuổi), gia cầm có từ 2000 con
trở lên (không kể số con dới 7 tháng tuổi).
- Đối với trang trại lâm nghiệp phải có từ 10 ha đất rừng trở lên.
- Đối với trang trại nuôi trồng thuỷ sản phải có từ 2 ha diện tích mặt nớc trở lên.
Thứ hai, có sử dụng lao động thờng xuyên từ 2 lao động/năm, nếu lao động
thời vụ phải quy đổi thành lao động thờng xuyên.
Thứ ba, chủ trang trại phải là những ngời có kiến thức, kinh nghiệm về nông,
lâm, ng nghiệp và trực tiếp điều hành sản xuất tại trang trại.
- 13 -
Thứ t, lấy sản xuất hàng hóa làm hớng chính và có thu nhập vợt trội so với
mức trung bình của kinh tế hộ tại địa phơng.
Căn cứ vào 4 tiêu chuẩn trên, số lợng trang trại tại thời điểm điều tra của toàn
tỉnh Yên Bái: 366, Thanh Hóa: 1.867, Bình Dơng: 1.284, Bình Phớc: 1.949. Tuy
nhiên, theo quan niệm của các địa phơng (thờng không áp dụng đồng thời cả 4 tiêu
chuẩn của Tổng cục Thống kê mà chỉ áp dụng riêng lẻ từng điều kiện), số lợng
trang trại có tại địa phơng trong thời điểm điều tra của Yên Bái : 7.266, Thanh Hóa:
4.280, Bình Dơng: 1.284, Bình Phớc: 3.541. Nh vậy, sự chênh lệch về số lợng trang
trại giữa tỉnh và Tổng cục Thống kê rất lớn: ở Yên Bái gấp 19,7 lần, Thanh Hóa 2,2
lần và Bình Phớc gấp 1,8 lần.
Theo các nhà nghiên cứu, trong điều kiện sản xuất nông nghiệp nớc ta hiện
nay, trang trại đợc xác định là những hộ nông dân có mục đích hoạt động chủ yếu là
hoạt động sản xuất kinh doanh hàng hóa, có quy mô diện tích canh tác từ 1 ha trở
lên và đạt giá trị sản phẩm hàng hóa hàng năm từ 20 triệu đồng trở lên.
Việc cha thống nhất về tiêu chuẩn để xác định một trang trại gia đình sẽ gây
khó khăn trong việc đánh giá hoạt động của các trang trại và so sánh giữa các trang
trại thuộc các vùng khác nhau. Vấn đề đặt ra là cần có sự thống nhất về tiêu chuẩn
5. Những điều kiện cần thiết cho sự hình thành và phát triển kinh tế trang trại
gia đình:
5.1. Môi trờng thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp hàng hóa đợc tạo lập và
không ngừng đợc củng cố, hoàn thiện và phát triển.
Môi trờng thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp hàng hóa có thể đợc nghiên cứu
trên bình diện rộng, với nhiều nội dung phong phú. Song môi trờng đợc xem nh
những điều kiện kinh tế-xã hội thiết yếu nhất đối với sự hình thành và phát triển của
các trang trại gia đình ở tầm vĩ mô bao gồm:
Thứ nhất, nền kinh tế quốc dân phải đợc cơ cấu và phát triển theo hớng công
nghiệp hóa, hiện đại hóa: Sự ra đời và phát triển của công nghiệp đã làm nảy sinh
nhu cầu sản xuất cung ứng hàng hóa, tức là đã đặt hàng cho sản xuất nông nghiệp,
là thị trờng tiêu thụ ổn định, rộng lớn của sản xuất nông nghiệp. Không những vậy,
đại công nghiệp còn có sức mạnh cải tạo nền nông nghiệp lạc hậu tự cung tự cấp
thành nền nông nghiệp hàng hóa phát triển, đặt nông nghiệp vào tuyến đờng ray,
vào quỹ đạo của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Nh vậy là công nghiệp
hóa mở đờng cho kinh tế trang trại gia đình phát triển. Trình độ công nghiệp hóa
càng cao thì kinh tế trang trại gia đình phát triển càng mạnh.
Thứ hai, sản xuất kinh doanh hàng hóa gắn liền với cơ chế thị trờng. Thiếu thị
trờng tự do, kinh tế hàng hóa sẽ phát triển phiến diện, thui chột. Trong sản xuất
- 15 -
nông nghiệp, không có sản xuất kinh doanh hàng hóa cũng đồng thời không tồn tại
kinh tế trang trại gia đình với đúng nghĩa của nó.
Thực trạng nền kinh tế nớc ta trớc thời kỳ đổi mới cũng nh đối với các nớc
thuộc hệ thống XHCN trớc đây là nh vậy. Chỉ từ khi từ bỏ mô hình kinh tế kế hoạch
hóa tập trung, chuyển sang kinh tế thị trờng, kinh tế hàng hóa trong đó có kinh tế
trang trại gia đình mới có điều kiện phát triển.
Thứ ba, những bất trắc của thị trờng có thể đem lại tổn thất cho các hộ gia
đình làm kinh tế trang trại. Nhà nớc phải phát huy vai trò quản lý nền kinh tế bằng
các chủ trơng, đờng lối, chính sách để hạn chế đến mức thấp nhất những thiệt hại
sản xuất kinh doanh. Tuy nhiên, trong điều kiện khí hậu bình thờng, năng lực sản
xuất của đất đai phụ thuộc vào trình độ thâm canh, vào tiến bộ khoa học kỹ thuật đ-
ợc áp dụng trong nông nghiệp. Vì vậy điều kiện về quy mô kinh doanh đất đai để
hình thành trang trại gia đình cũng có thể thay đổi theo thời gian.
Sự tập trung về tài sản, tiền vốn cũng là điều tối quan trọng đối với quá trình
hình thành và phát triển của các trang trại gia đình. Sản xuất kinh doanh hàng hóa
theo mô hình công thức T-H-T đòi hỏi phải có lợng vốn ban đầu nhất định để đầu
t các khoản chi phí đầu vào.
Thứ hai, chủ trang trại phải có năng lực, phẩm chất, trình độ của ngời quản
lý sản xuất kinh doanh. Đây là điều kiện hoàn toàn mang tính chủ quan, là nhân tố
quyết định sự thành bại trong sản xuất kinh doanh của các trang trại, bởi ngoài chức
năng là chủ gia đình, chủ trang trại còn là chủ một đơn vị sản xuất kinh doanh, trực
tiếp điều hành, quản lý mọi hoạt động sản xuất. Những yếu tố chủ yếu mà chủ trang
trại phải có là : Khát vọng làm giàu, năng lực quản lý và trình độ hiểu biết về kỹ
thuật nông nghiệp, kinh nghiệm của nhà nông.
Thứ ba, vấn đề an toàn lơng thực của các hộ gia đình phải đợc giải quyết đầy
đủ, vững chắc.
Đối với các hộ ở vùng trọng điểm lúa thuộc đồng bằng sông Cửu Long, đồng
bằng sông Hồng thì đó là lẽ tự nhiên bởi lợng thóc gạo hàng hóa đợc xác định sau
khi trừ đi lợng lơng thực đủ dùng cho gia đình. Tức là vấn đề an toàn lơng thực đã
đợc đảm bảo, đã đợc xác đinh trớc nhất trong quá trình cân đối. Nhng đối với các
hộ không chuyên môn hóa về sản xuất lơng thực, đặc biệt là các hộ ở trung du miền
núi nh tỉnh Yên Bái, vấn đề lơng thực đợc đặt ra theo một hớng tiếp cận khác: An
toàn lơng thực trên cơ sở kinh tế thị trờng, trên cơ sở trao đổi hàng hóa.
- 17 -
II. tính tất yếu khách quan của phát triển kinh tế trang
trại gia đình ở Yên bái trong thời kỳ cnh - hđh nông nghiệp,
nông thôn.
1. Các yếu tố ảnh hởng đến quá trình hình thành và phát triển kinh tế trang
đồi bát úp, độ cao dới 400 m, có tiềm năng phát triển nông nghiệp.
- Vùng địa hình bồn địa: Có đặc trng kiểu hồ cạn, địa hình lòng chảo có các
dãy núi bao quanh tạo thành những cánh đồng tơng đối độc lập, nằm rải rác trong
toàn tỉnh. Đây là những vùng sản xuất lúa tập trung của tỉnh Yên Bái.
- Vùng hồ Thác Bà đợc tạo nên từ sau năm 1971, với diện tích mặt hồ rộng
23.000 ha; bao gồm 19.300 ha mặt nớc và 1.313 hòn đảo lớn nhỏ, có tiềm năng phát
triển thuỷ điện, nuôi trồng thuỷ sản, phát triển du lịch và có tác dụng tốt trong việc
cải thiện điều kiện khí hậu môi trờng của khu vực.
- 18 -
1.1.3. Khí hậu thời tiết :
* Đặc điểm khí hậu:
Yên Bái nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa, hàng năm hình thành 2 mùa rõ rệt
là mùa ma (nóng ẩm) từ tháng 4 đến tháng 10 và mùa khô (lạnh) từ tháng 11 đến
tháng 3 năm sau. Nhiệt độ, ánh sáng, lợng ma giữa hai mùa có sự chênh lệch khá
lớn gây ra cả thuận lợi và khó khăn cho sản xuất
Một đặc điểm khác biệt về khí hậu ở tỉnh Yên Bái so với các tỉnh khác là Yên
Bái có thể chia thành 5 tiểu vùng khí hậu là : Vùng Nam Trấn Yên-thành phố Yên
Bái ; Vùng đồi cao, núi thấp thuộc thung lũng sông Thao, sông Chảy ; Vùng trong và
vùng thợng huyện Văn Chấn ; Vùng núi cao Tây Nam Văn Chấn ; Vùng Lục Yên-
Yên Bình. Điều này tạo điều kiện cho tỉnh Yên Bái phát triển một nền nông nghiệp
với cơ cấu cây con đa dạng. Tuy nhiên việc phân chia thành nhiều tiểu vùng khí hậu
cũng gây không ít khó khăn cho tỉnh trong vấn đề áp dụng khoa học kỹ thuật vào sản
xuất, trong việc hình thành các vùng chuyên canh tập trung quy mô lớn.
* Đặc điểm ma:
Nhìn chung lợng ma ở Yên Bái tơng đối lớn, lợng ma bình quân nhiều năm
biến đổi từ 1.500-2.200 mm, tuỳ theo từng vùng khác nhau, tạo thuận lợi cho cây
trồng phát triển. Tuy nhiên, lợng ma phân bố không đều theo mùa, dẫn đến tỉnh
trang mùa ma thừa nớc gây ra hiện tợng lũ lụt, mùa khô thiếu nớc gây ra hiện tợng
khô hạn gây khó khăn không ít cho sản xuất và đời sống của nhân dân.
* Hệ thống sông ngòi :
Tỉnh Yên Bái có hệ thống sông ngòi dày đặc và phân bố tơng đối đều, trong đó
có 2 hệ thống sông chính là sông Thao và sông Chảy.
- Sông Thao là dòng chính của sông Hồng chảy qua địa phận tỉnh Yên Bái với
chiều dài 100 km và diện tích lu vực là 2.700 km
2
, có 48 ngòi là các phụ lu trong đó
có 4 phụ lu lớn là : ngòi Thia, ngòi Hút, ngòi Lâu, Ngoài Lao.
- Sông Chảy chảy qua Yên Bái với chiều dài 95 km, diện tích lu vực là : 2.200
km
2
. Phụ lu của sông Chảy có 32 con suối, vùng hạ lu là lòng hồ thuỷ điện Thác Bà.
* Nguồn nớc từ mạng lới sông suối:
Trên lãnh thổ Yên Bái hàng năm đón nhận 13 tỷ mét khối nớc ma từ các đỉnh
núi đến các khe lạch nhỏ tập trung lại tạo thành 83 ngòi cấp I đợc phân bố khắp
lãnh thổ, chia thành rất nhiều chi lu tạo ra nguồn nớc chủ yếu để phục vụ sản xuất
nông nghiệp, cấp nớc sinh hoạt cho đồng bào các dân tộc vùng cao đồng thời là
nguồn thủy năng để phát triển thuỷ điện nhỏ.
Mạng lới sông suối trong tỉnh Yên Bái khá dày đặc, phân bố khắp lãnh thổ Yên
Bái thuận lợi cho việc xây dựng các công trình thuỷ lợi cung cấp nớc phục vụ cho
sản xuất nông nghiệp, góp phần điều hoà khí hậu, tạo mạng lới giao thông vận
chuyển hàng hóa, phát triển chăn nuôi thuỷ sản ; các sông suối có độ dốc lớn nên có
tiềm năng phát triển thuỷ điện để cung cấp điện, nhất là ở các xã vùng sâu, vùng xa.
- 20 -
Song bên cạnh những mặt tốt thì về mùa lũ từ tháng 6-10 thờng gây ra lũ lụt
khu vực ven sông và các phụ lu lớn ( các suối lớn) gây thiệt hại đáng kể cho sản
xuất nông nghiệp, tài sản của nhân dân và các công trình thuỷ lợi. Mùa kiệt (tháng
10-tháng 4) mực nớc thấp phải dùng các biện pháp động lực để khai thác nguồn nớc
phục vụ cho sản xuất và đời sống.
chuyển dịch theo hớng tăng giá trị công nghiệp, dịch vụ và từng bớc hình thành các
loại sản phẩm hàng hóa chiến lợc với quy mô ngày càng lớn. Sự chuyển dịch trên là
đúng hớng, mang nhiều yếu tố tích cực, nó tác động thuận lợi cho nhiều loại hình
kinh tế phát triển, trong đó có kinh tế trang trại.
- 21 -
- Mức độ huy động GDP vào ngân sách còn có tỷ lệ thấp, chỉ trên dới 10%, do
đó tỷ lệ thu trên địa bàn so với tổng chi ngân sách mới đạt 27,74%, đó là tỷ lệ thấp,
biểu hiện thực trạng kinh tế còn ở mức độ nhỏ và còn cha tơng xứng với yêu cầu
của nền kinh tế xã hội.
- Mặc dù có thành tựu nổi bật trong các năm vừa qua, đã từng giải quyết đợc
nhu cầu lơng thực trên địa bàn, đạt trên 80%, song nhìn chung mức độ thu nhập của
hộ nông dân còn thấp. Theo ngành thống kê, giá trị sản xuất theo giá thực tế bình
quân đầu ngời Yên Bái năm 1999 là 3,54 triệu đồng và năm 2000 là 3,69 triệu
đồng, và nh vậy, mức thu nhập thực tế của ngời lao động chỉ đạt từ 2,1-2,5 triệu
đồng/ngời/năm và chỉ bằng khoảng 70% so với trung bình cả nớc.
- Yên Bái là một trong các tỉnh tham gia nhiều chơng trình quốc gia và quốc tế,
và thực tế đã thu đợc kết quả rất tốt. Trong các năm tới những thành tựu và kinh
nghiệm đã đạt đợc trong các chơng trình quốc gia và quốc tế sẽ còn phát huy tác
dụng, cung cấp vốn, kỹ thuật, thiết bị và đào tạo, tạo ra nguồn lực quan trọng để giúp
cho các ngành kinh tế của tỉnh mà trớc tiên là lĩnh vực nông nghiệp và nông thôn.
- Mặc dù so với yêu cầu, cơ sở hạ tầng ở Yên Bái, đặc biệt các vùng nông thôn
còn cha đáp ứng đợc nhu cầu phát triển, song tất cả những gì các ngành cùng đồng
bào dân tộc miền núi đã làm đợc, những gì đang có về cơ sở hạ tầng là những tài
sản quý, đã góp phần trực tiếp vào việc thúc đẩy sản xuất phát triển. Những năm tới
khi mà Nhà nớc quyết tâm huy động nhiều nguồn vốn đầu t cho phát triển hệ thống
cơ sở hạ tầng mà trớc tiên là cho các hạng mục : giao thông, điện thuỷ lợi, thì chắc
chắn hệ thống cơ sở hạ tầng sẽ đợc tăng cờng hơn và có tác dụng tốt cho sự nghiệp
phát triển kinh tế xã hội của tỉnh Yên Bái nói chung và phát triển kinh tế trang trại
gia đình nói riêng.
có.
1.2.4. Chính sách của Nhà nớc.
Đảng và Nhà nớc đã ban hành một loạt các chính sách tạo thuận lợi cho phát
triển kinh tế trang trại gia đình ở tỉnh Yên Bái nh:
- Nghị quyết số 03/2000/QĐ-CP ngày 2/2/2000 của Chính phủ về phát triển
kinh tế trang trại; Quyết định số 327-CT ngày 15/9/1992 của Chủ tịch hội đồng bộ
trởng về một số chủ trơng, chính sách sử dụng đất, đồi núi trọc, rừng, bãi bồi ven
biển và mặt nớc.
- Chơng trình quốc gia 135 cho các xã đặc biệt khó khăn; Chơng trình giao
thông nông thôn; Chơng trình an ninh lơng thực; Chơng trình phát triển 4 vạn ha cà
phê chè các tỉnh miền núi phía Bắc; Chơng trình nạc hóa và Sind hóa đàn bò; Chơng
trình xoá đói giảm nghèo.
- Dự án 5 triệu ha rừng; Dự án phát triển chè các tỉnh miền núi phía Bắc; Dự án
phát triển rau quả; Dự án phát triển vùng nguyên liệu giấy vùng trung tâm Bắc bộ.
- 23 -
1.3. Đánh giá tổng quan :
Các yếu tố tự nhiên và kinh tế xã hội tỉnh Yên Bái tạo ra cả thuận lợi và khó
khăn cho quá trình phát triển kinh tế trang trại gia đình trong tỉnh. Tuy nhiên các
yếu tố thuận lợi là chủ yếu.
1.3.1. Các lợi thế.
Thứ nhất, vị trí địa lý của Yên Bái là một thuận lợi cho việc phát triển kinh tế
trang trại gia đình. Với nền kinh tế phát triển đa dạng, giao thông thuận lợi, là điểm
trung gian chu chuyển hàng hóa sẽ tạo cho kinh tế trang trại gia đình một thị trờng
tiêu thụ hàng hóa rất lớn.
Thứ hai, có thể khẳng định Yên Bái có sự đa dạng phong phú về nguồn tài
nguyên tự nhiên, để phát triển sản xuất nông nghiệp hàng hóa, phù hợp với các yếu
tố sinh thái
- Tài nguyên khí hậu đa dạng phù hợp với các loại cây trồng của vùng nhiệt
đới, á nhiệt đới và ôn đới.
xuất phát triển và ổn định.
Thứ năm, Yên Bái là tỉnh có nhiều tiềm năng, có điều kiện để phát triển nền
kinh tế đa dạng, và thực tế những năm đổi mới đã đạt đợc tốc độ tăng trởng kinh tế
vào loại khá cao. Bớc đầu đã xây dựng đợc hệ thống cơ sở hạ tầng tơng đối tốt, để
phục vụ cho nền sản xuất hàng hóa đang phát triển, đặc biệt ở các khu vực có nguồn
tài nguyên nông nghiệp tập trung, đó là điều kiện rất thuận lợi cho phát triển kinh tế
trang trại gia đình.
Thứ sáu, Yên Bái là tỉnh đợc hởng nhiều cơ chế chính sách u đãi của Nhà nớc
trong phát triển kinh tế trang trại.
1.3.2. Các yếu tố hạn chế:
Thứ nhất, trên 70% đất đai của Yên Bái là địa hình cao, dốc, độ chia cắt phức
tạp và đa dạng là yếu tố hạn chế rất lớn cho việc giao lu, vận chuyển hàng hóa và tổ
chức sản xuất, đặc biệt là sản xuất của các trang trại lại gắn bó chặt chẽ với đất đai,
con ngời trên từng địa bàn, đó là những khó khăn, trở ngại lớn cho quá trình phát
triển kinh tế trang trại gia đình, hoà nhập vào thị trờng, cần có sự tác động qua lại
giữa các vùng để hỗ trợ lẫn nhau để tạo ra sức mạnh tổng hợp trong quá trình phát
triển.
Do tính chất đa dạng, phức tạp của địa hình đã tạo ra ở Yên Bái có nhiều dạng
khí hậu khác nhau, gây khó khăn cho sản xuất vụ Đông và vụ Xuân.
Thứ hai, trong cơ cấu dân c, tỷ lệ dân số nông nghiệp ở Yên Bái chiếm 78%, với
nhiều thành phần dân tộc sinh sống. Tỷ lệ tăng dân số còn cao, khoảng 2,25% trung
bình toàn tỉnh, trong khi ở vùng cao tỷ lệ phát triển dân số tự nhiên là 4,5%, dân số
tăng nhanh gây khó khăn cho nền kinh tế. Theo thống kê, cuối năm 1999, tỷ lệ hộ đói
nghèo là 13,5%. Do điều kiện về kinh tế, với mức thu nhập của các trang trại ở Yên
- 25 -