ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y
DƯỢC
KHÚC THỊ TUYẾT
HƯỜNG
NGHIÊN CỨU THỰC TRẠNG NHIỄM
GIUN TRUYỀN QUA ĐẤT Ở HỌC SINH HAI
TRƢỜNG MẦM NON TẠI THÁI NGUYÊN
VÀ KẾT QUẢ TẦY GIUN BẰNG
THUỐC ALBENDAZOL
LUẬN VĂN THẠC SỸ Y HỌC
THÁI NGUYÊN - NĂM 2009
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y
DƯỢC
KHÚC THỊ TUYẾT
HƯỜNG
NGHIÊN CỨU THỰC TRẠNG NHIỄM
GIUN TRUYỀN QUA ĐẤT Ở HỌC SINH HAI
TRƢỜNG MẦM NON TẠI THÁI NGUYÊN
VÀ KẾT QUẢ TẦY GIUN BẰNG
THUỐC ALBENDAZOL
LUẬN VĂN THẠC SỸ Y HỌC
Tôi xin chân thành cảm ơn Trường CĐ Y Thái Nguyên – nơi tôi đang công
tác, gia đình, những người bạn thân thiết đã luôn giúp đỡ, động viên, khích lệ, chia
sẻ khó khăn trong thời gian tôi học tập và hoàn thành luận văn.
Xin được lượng thứ và góp ý cho những khiếm khuyết, chắc chắn còn nhiều
trong luận văn này.
Thái Nguyên, ngày 06 tháng 10 năm 2009
Tác giả
Khúc Thị Tuyết Hường
MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa
Lời cảm ơn
Các chữ viết tắt
Đặt vấn đề 1
Ch ƣ ơng 1
- Tổng quan
3
1.1. Đặc điểm sinh
học của
giun đũa,
giun tóc
và
giun
giới 8
1.4.2. Ở
Việt
Nam
10
1.5.Điều trị bệnh
GTQĐ 12
1.5.1. Nguyên tắc 12
1.5.2. Các
thuốc
điều trị bệnh
GTQĐ 12
1.6. C ác biện pháp
phòng bệnh
GTQĐ 16
1.7. Một số đặc điểm của 2 trường mầm non nghiên cứu 18
Chƣơng 2 - Đối tƣợng và phƣơng pháp nghiên cứu 20
2.1. Đối tượng nghiên cứu 20
2.2. Địa
điểm
3.1. Tỷ lệ nhiễm
các
loại giun
26
3.2. Kết quả tẩy
giun
33
3.3. Nhiễm giun đũa, tóc,
móc
và các yếu tố liên quan 38
Ch ƣ ơng 4 - Bàn
luận 41
Kết l
u ậ
28
Bảng 3.4. Tỷ lệ nhiễm các loại giun theo dân tộc
29
Bảng 3.5. Tỷ lệ đơn nhiễm và nhiễm phối hợp các loại giun đũa, tóc, móc
theo trường
30
Bảng 3.6.Tỷ lệ đơn nhiễm và nhiễm phối hợp các loại giun theo nhóm tuổi
31
Bảng 3.7. Cường độ nhiễm các loài giun của trẻ tại 2 trường (tính theo trung
bình cộng)
32
Bảng 3.8. Cường độ nhiễm các loài giun của trẻ tại 2 trường theo nhóm
tuổi32
Bảng 3.9. Kết quả tẩy giun chọn lọc bằng Albendazol sau 3 tuần
33
Bảng 3.10. Tỷ lệ nhiễm, tái nhiễm giun đũa
34
Bảng 3.11. Tỷ lệ nhiễm, tái nhiễm giun tóc
35
Bảng 3.12. Tỷ lệ nhiễm, tái nhiễm giun móc
36
Biểu đồ 3.5. Tỷ lệ đơn nhiễm và nhiễm phối hợp các loại giun đũa, tóc, móc
theo trường
30
Biểu đồ 3.6. Tỷ lệ đơn nhiễm và nhiễm phối hợp các loại giun theo nhóm
tuổi
31
Biểu đồ 3.7. Tỷ lệ nhiễm, tái nhiễm giun đũa 34
Biểu đồ 3.8. Tỷ lệ nhiễm, tái nhiễm giun tóc 35
Biểu đồ 3.9. Tỷ lệ nhiễm, tái nhiễm giun móc 36
ĐẶT VẤN ĐỀ
Nhiễm ký sinh trùng đường ruột, đặc biệt là các loại giun đũa, tóc, móc,
kim còn rất phổ biến ở hầu hết các nước đang phát triển. Theo tổ chức Y tế thế
giới, khoảng 1/4 dân số thế giới bị nhiễm giun, tuỳ từng vùng, từng khu vực
mà
tỷ lệ nhiễm có khác nhau, dao động từ 25% đến 95% và phụ thuộc vào
nhiều
yếu tố: địa lý, khí hậu, tập quán vệ sinh, trình độ dân trí, điều kiện kinh
tế [1].
Ở các nước khí hậu nhiệt đới rất thuận tiện cho sự sinh trưởng và phát
triển của
giun truyền qua đất và các nước có nền kinh tế chậm phát triển,
điều kiện vệ
sinh môi trường còn thấp thì tỷ lệ nhiễm giun truyền qua đất cao
hơn.
giun truyền qua đất ở trẻ em tại hai trường mầm non tỉnh Thái
Nguyên.
2. Đánh giá kết quả tẩy giun chọn lọc bằng thuốc Albendazol.
CHƢƠNG 1
TỔNG QUAN
1.1. Đặc điểm sinh học của giun đũa, giun tóc và giun móc
1.1.1. Giun đũa (Ascaris lumbricoides)
Giun đũa (cả giun đực và giun cái) đều sống ký sinh và ăn dưỡng chấp ở
ruột non của người. Giun cái đẻ trứng, trứng theo phân ra ngoại cảnh. Sau một
thời gian ở ngoại cảnh, nhờ tác dụng của nhiệt độ, độ ẩm, ánh sáng…phôi
phát triển thành ấu trùng, trứng có ấu trùng từ ngoại cảnh lại nhiễm vào người
qua đường tiêu hoá. Vào đến ruột non ấu trùng thoát vỏ, chui qua thành ruột
vào hệ thống tuần hoàn theo tĩnh mạch cửa lên gan, lên tim, lên phổi, chui vào
phế nang, lên khí quản, lên hầu, rồi xuống thực quản, ruột non phát triển
thành giun trưởng thành. Giun trưởng thành sống trong cơ thể người khoảng
12 - 18 tháng.
Trên thế giới có khoảng 1471 triệu người nhiễm giun đũa, đây là nguồn
mầm bệnh khổng lồ, thường xuyên được thải ra môi trường. Tiềm năng sinh
sản của giun cái rất cao khoảng 240000 trứng mỗi ngày, người ta ước tính
hàng ngày môi trường bị ô nhiễm khoảng 10
14
trứng giun đũa. Tuỳ thuộc vào
các yếu tố nhiệt độ, độ ẩm, áp suất không khí và các tia tử ngoại của ánh sáng
mà trứng giun đũa có thể tồn tại nhiều năm (6 -9 năm) ở điều kiện thích hợp
hoặc vài giờ ở điều kiện bất lợi. Trứng giun đũa có thể phát triển được từ
12
0
C - 36
0
C nhưng thích hợp nhất là 24
tràng và đôi khi ở ruột thừa. Khi ký sinh giun cắm đầu vào thành ruột để hút
máu, phần đuôi ở ngoài lòng ruột. Giun cái đẻ trứng, trứng theo phân ra ngoại
cảnh, khi gặp điều kiện thuận lợi trứng sẽ phát triển đến giai đoạn trứng có ấu
trùng lúc đó mới có khả năng lây nhiễm vào người theo đường tiêu hoá. Thời
gian phát triển ở ngoại cảnh trung bình khoảng 2 tuần. Khi người nuốt phải
trứng có ấu trùng vào ruột, ấu trùng thoát vỏ ở ruột non rồi đi dần xuống đại
tràng, manh tràng phát triển thành giun trưởng thành và ký sinh ở đó. Thời
gian từ khi nhiễm phải trứng tới khi giun tóc bắt đầu đẻ trứng khoảng 1 tháng.
Giun sống trong người 5 - 6 năm. Như vậy, giun tóc chỉ có một vật chủ và cần
giai đoạn phát triển trứng ở ngoại cảnh.
Nhiệt độ thích hợp để trứng phát triển thành trứng có ấu trùng gây nhiễm
là 25
0
C - 30
0
C, thời gian phát triển là 17 - 30 ngày. Nếu nhiệt độ quá 50
0
C
phần
lớn trứng sẽ bị hỏng, nhiệt độ trên 30
0
C kéo dài thì trứng sẽ chết sau 1
tháng.
1.1.3. Giun móc(A ncylostoma duoe nale)
- Giun móc trưởng thành sống ký sinh ở tá tràng và có thể ở phần đầu
của
ruột non. Chúng dùng mỏ ngoạm vào niêm mạc ruột để chiếm thức ăn.
Một ngày giun cái đẻ khoảng 3000 trứng, trứng theo phân ra ngoại cảnh, gặp
protein, vitamin của ruột. Robert J. E. và CS [50] cho thấy tỷ lệ suy dinh
dưỡng ở nhóm trẻ nhiễm giun đũa là 49%, nhóm trẻ không nhiễm giun là
32%. Theo Thein Hlaing và CS [46], sau khi tẩy giun chiều cao và cân nặng
của trẻ thay đổi có ý nghĩa so với nhóm chứng. Theo Watkins W. E. [47], 6
tháng sau tẩy giun cân nặng trẻ tăng 0,18kg so với nhóm chứng nhưng chiều
cao và vòng cánh tay không thay đổi. Stephenson L.S cho thấy giun đũa gây
rối loạn hấp thu vitamin A, vitamin D, sắt Giun đũa còn gây ảnh hưởng
đến sự phát triển tinh thần của trẻ nhỏ, nhưng vấn đề này chưa được đánh
giá đầy đủ.
- Tác hại chính của giun móc trưởng thành là gây thiếu máu khó hồi phục
do
mất máu, nếu bệnh nhân nhiễm trên 50 con giun móc thì sẽ gây thiếu máu.
Theo Pawlowski Z. X. [43] giun móc hút 0,16 - 0,34ml/con/ngày. Nghiên cứu
của tác giả Trần Minh Hậu [7] thấy tỷ lệ thiếu máu do giun móc rất cao chiếm
80,9%. Giun tóc ký sinh ở manh tràng, cắm sâu phần đầu vào niêm mạc, gây
tổn thương niêm mạc ruột. Khi nhiễm nhẹ không có triệu chứng lâm sàng, khi
nhiễm trên 500 trứng/1gam phân có thể gây rối loạn tiêu hoá như đau bụng,
táo bón [2], [17]. Theo Hutchison S. E. [37], khi nhiễm trên 5000 trứng/1
gam phân thì có triệu chứng lâm sàng, khi nhiễm trên 20000 trứng/1 gam
phân thì có thể gây hội chứng lỵ, giun tóc gây thiếu máu, mỗi ngày giun tóc
hút 0,005ml/con.
1.3. Lịch sử nghiên cứu về nhiễm
GTQĐ
Mặc dù không thấy những vết tích của giun truyền qua đất trong những
tầng địa chất cổ xưa và trong các hoá thạch do cấu tạo của cơ thể giun sán
không bền vững nhưng vẫn có thể khẳng định giun sán là những ký sinh trùng
có lịch sử xuất hiện rất sớm ngay từ khi sơ khai hình thành trái đất và các sinh
vật
nhiễm giun đũa, 500 - 700 triệu người nhiễm giun móc và giun tóc, tình trạng
nhiễm 3 loại giun trên cũng tăng lên đáng kể theo nhịp độ tăng dân số của thế
giới.
Giun đũa phân bố rộng khắp trên thế giới, nhưng không đều, những vùng
có khí hậu nóng ẩm tỷ lệ nhiễm thường cao hơn những vùng có khí hậu mát
lạnh. Những nước nền kinh tế thấp, trình độ văn hoá còn lạc hậu thường có tỷ
lệ nhiễm cao. Vì vậy Schullz [26] gọi bệnh giun đũa là “vấn đề bị quên lãng
của những dân tộc bị quên lãng”.
Các nước Châu Âu, sau chiến tranh thế giới thứ hai, tình hình nhiễm giun
đũa cũng rất nghiêm trọng, đặc biệt là trẻ em. Kết quả điều tra ở Italia cho
thấy ở Rofrano tỷ lệ nhiễm là 75%, Naples 40%, Sanmarino 12%. Ở Bồ Đào
Nha tỷ lệ nhiễm là 40% - 80%. Nam Tư tỷ lệ trẻ em nhiễm là 20%. Ở nông
thôn Hà Lan tỷ lệ trẻ em nhiễm là 45%. Cộng hoà liên bang Đức tỷ lệ nhiễm
là 52%. Ở Pháp tỷ lệ nhiễm là 17,8% [38]. Sau chiến tranh điều kiện kinh tế,
văn hoá và xã hội ở các nước Châu Âu phát triển mạnh. Vì vậy đến những
năm 80 của thế kỷ 20 tỷ lệ nhiễm giun đũa ở trẻ em còn rất thấp 2% - 6%.
Châu Á có tỷ lệ nhiễm giun đũa cao nhất, khoảng 70%. Châu Phi có 480
triệu người thì có 155 triệu người nhiễm giun đũa, chiếm tỷ lệ 32,3%. Trong
đó có khoảng 54 triệu trẻ em dưới 15 tuổi nhiễm giun, chiếm 11,3%. Các
nước Châu Mỹ có tỷ lệ nhiễm khoảng 8%. Tình trạng nhiễm giun đũa ở trẻ
em tại một số nước Đông Nam Á: Thủ đô Kuala Lumpur có tỷ lệ nhiễm
15,5%, ở Sulawesi có tỷ lệ nhiễm 59,8%, Sukaraja có tỷ lệ nhiễm 44%,
Philippin có tỷ lệ nhiễm 70,6%.
Cũng như giun đũa, giun tóc phổ biến khắp nơi trên thế giới, nhất là
những khu vực nóng ẩm. Ở một số nước nhiệt đới tỷ lệ nhiễm giun tóc tới
90%, còn ở các vùng khác tỷ lệ nhiễm từ 30% - 60%. Kể cả vùng ôn đới cũng
có một số nước giun tóc vẫn tồn tại. Nhìn chung tỷ lệ nhiễm cao vẫn ở trẻ em.
Tuỳ từng vùng, tỷ lệ nhiễm có khác nhau, nhưng tỷ lệ khá cao. Ở Jamaicar tỷ
lệ trẻ em nhiễm giun tóc là 38,3%, Guatemala tỷ lệ trẻ em nhiễm giun tóc là
82%, Ở Indonesia có tỷ lệ nhiễm từ 54,9% - 76,0%. Tỷ lệ nhiễm ở trẻ em
Hoàng Thị Kim và CS [14] nghiên cứu 500000 người trên cả nước thấy
tỷ lệ nhiễm các loại giun theo từng vùng như sau:
- Nhiễm giun đũa: Miền Bắc có tỷ lệ nhiễm cao, vùng đồng bằng từ
80% -
90%, vùng núi từ 50% - 70%. Miền Trung vùng đồng bằng 70,5%,
miền
núi 38,4%, vùng ven biển là 12,5%, Tây nguyên 10% - 25%. Miền Nam
vùng
đồng bằng có tỷ lệ nhiễm từ 45% - 60%.
- Nhiễm giun tóc: Miền Bắc vùng đồng bằng 58% - 89%, trung du 38% -
41%,
vùng núi 29% - 52%, ven biển 28% - 75%. Miền Trung vùng đồng bằng
27% - 47%, vùng núi 4,2% - 10,6%, ven biển 12,7%, Tây nguyên 1,7%. Miền
Nam: tỷ lệ nhiễm thấp hơn so với cả nước, vùng đồng bằng 0,5% - 1,2%.
- Nhiễm giun móc: Miền Bắc vùng đồng bằng 3% - 60%, trung du 58% -
64%,
vùng núi 61%, ven biển 67%. Miền Trung vùng đồng bằng 36%, vùng
núi
66%, ven biển 69%, Tây nguyên 47%. Miền Nam vùng đồng bằng 52%,
ven
biển 68%.
Theo nghiên cứu của Đỗ Dương Thái và CS [25], tỷ lệ nhiễm giun đũa ở
khoa Trung ương Thái Nguyên Đỗ Thị Liên và CS [16] xét nghiệm cho 4720
bệnh nhân thấy tỷ lệ nhiễm giun chung 92,16% trong đó giun móc chiếm
33,6%. Năm 2005, tại phường Túc Duyên Phạm Thị Hiển và CS [10] nghiên
cứu trên 128 mẫu thấy: tỷ lệ nhiễm giun đũa 27,34%, giun tóc 25,78% và
giun
móc 48,44%.
Tuy nhiên, ở Thái Nguyên hầu hết các tác giả điều tra tỷ lệ nhiễm giun
bằng phương pháp xét nghiệm tập chung trứng (Willis), sử dụng phương pháp
Kato – Katz mới chỉ áp dụng ở học sinh phổ thông và người lớn. Hơn nữa
chưa có tác giả nào áp dụng cách tính cường độ nhiễm để đánh giá mức độ
nhiễm giun.
1.5. Điều trị bệnh
GTQĐ
1.5.1. Nguyên tắc
* Chọn thuốc.
- Thuốc có tác dụng với nhiều loại giun cùng một lúc.
- Tuy nhiên nên chọn loại thuốc đạt yêu cầu sau.
+ Đạt hiệu quả cao.
+ Ít tác dụng phụ: độc với giun, không độc với người.
+ Sử dụng dễ dàng qua đường uống.
+ Dạng thuốc sử dụng đơn giản, tiện lợi, rẻ tiền.
* Việc điều trị cho trẻ phải lựa chọn thuốc thích hợp, đạt hiệu quả cao và
theo
dõi tác dụng phụ chặt chẽ.
* Đối với cộng đồng cần có phác đồ phù hợp, dễ sử dụng, có thể điều trị
hàng
loạt tại cộng đồng và cũng đạt hiệu quả cao.
+ Chưa có báo cáo độc ở liều điều trị, tuy nhiên có vài tác dụng phụ nhẹ,
thoáng qua như: nhức đầu, chóng mặt, buồn nôn, đau bung, tiêu chảy.
*Mebendazol (Anelmin, Nemasole, Noverme, Fugaca, Paltelmin,
Vermox, Toloxin, ).
Mebendazol là dẫn xuất của Benzimidazol được phát hiện vào năm 1971
để điều trị giun kim và giun móc, sau đó là giun đũa và tóc vào năm 1973 bởi
Chavarria A và vào năm 1974 bởi Wolfe M.S, Wershing J.M [48].
- Áp dụng lâm sàng
+ Chỉ định và liều dùng:
. Điều trị giun đũa trẻ em và người lớn liều như nhau.
. Liều duy nhất 500mg hoặc 100mg/ngày x 1 - 3 ngày.
. Điều trị giun kim liều duy nhất 100mg và nhắc lại sau 2 - 4 tuần.
. Điều trị giun tóc và móc nếu nhiễm nhẹ liều duy nhất 500mg, nếu
nhiễm nặng liều 500mg x 3 ngày hoặc liều 100mg/lần x 2 lần/ngày trong 3
ngày. Sau 3 - 4 tuần xét nghiệm phân còn trứng thì điều trị lần 2.
. Điều trị giun móc liều 200mg/lần x 2lần/ngày x 4 ngày.
. Cách dùng: uống sau ăn, không phải ăn kiêng và không phải uống
thuốc
tẩy kèm.
+ Chống chỉ định:
. Phụ nữ có thai 3 tháng đầu.
. Trẻ em dưới 2 tuổi.
- Độc tính và tác dụng phụ:
+ Độc tính : LD 50 với chuột cống, lợn, thỏ > 1280mg/kg và mèo, chó là
640mg/kg.
+ Độc tính bán cấp trên chuột liều 40mg/kg hoặc 10mg/kg x 13 tuần thấy
chuột khoẻ và sống lâu hơn.
+ Trên người do ít bị hấp thu nên ít độc, hiện tại chưa xác định thuốc có
gây ung thư, quái thai hay không? Nhưng trên chuột gây biến dạng xương
. Điều trị với kén sán và các tổ chức như ở dưới da, thần kinh , nang sán
dự phòng trước khi phẫu thuật cắt bỏ kén liều 10mg/kg/ngày x 28 ngày liên
tục, lặp lại 3 – 4 lần, mỗi lần cách nhau 2 tuần.
. Cách dùng: Nhai viên thuốc và kèm ít nước, uống sau ăn, không phải ăn
kiêng và không phải uống thuốc tẩy kèm.
+ Chống chỉ định:
. Phụ nữ có thai 3 tháng đầu.
. Theo WHO và UNICEF (2008) [31], không dùng cho trẻ dưới 12 tháng.
. Dị ứng với thuốc.
. Bệnh nhân xơ gan.
. Trẻ mới được tẩy giun trong vòng 6 tháng qua.
- Độc tính và tác dụng phụ:
+ Độc tính cấp đối với chuột cống là > 10.000mg/kg, chuột nhắt
3.000mg/kg, thỏ 500mg/kg và với lợn > 900mg/kg.
+ Độc tính bán cấp và mạn tính với liều 30mg/kg ở chuột, 10mg/kg ở chó
liên tục trong 90 ngày không thấy có thay đổi hoạt động và sinh lý của con vật.
+ Tác dụng gây quái thai : trên cừu là 11mg/kg, trên bò là 25mg/kg, trên
thỏ là 30mg/kg, trên chuột là 10mg/kg, còn trên người thì chưa rõ.
+ Tác dụng phụ ít, nhẹ và thoáng qua như rối loạn thượng vị, tiêu chảy,
đau đầu, buồn nôn, mệt mỏi.
- Chế phẩm
+ Dạng thuốc viên nén hàm lượng 200mg hoặc 400mg.
+ Dạng dung dịch treo100mg/5ml
1.6. Các biện pháp phòng bệnh GTQĐ
Chương trình phòng chống bệnh giun truyền qua đất đã được đề ra từ
những thập niên đầu tiên của thế kỷ XX. Ở các nước phát triển bệnh GTQĐ