luận văn:NGHIÊN CỨU THỰC TRẠNG NHIỄM GIUN TRUYỀN QUA ĐẤT Ở HỌC SINH HAI TRƢỜNG MẦM NON TẠI THÁI NGUYÊN VÀ KẾT QUẢ TẦY GIUN BẰNG THUỐC ALBENDAZOL - Pdf 12

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC KHÚC THỊ TUYẾT HƯỜNG
NGHIÊN CỨU THỰC TRẠNG NHIỄM
GIUN TRUYỀN QUA ĐẤT Ở HỌC SINH HAI
TRƢỜNG MẦM NON TẠI THÁI NGUYÊN
VÀ KẾT QUẢ TẦY GIUN BẰNG
THUỐC ALBENDAZOL
LUẬN VĂN THẠC SỸ Y HỌC

Mã số: 60.72.16 Hƣớng dẫn khoa học: TS NGUYỄN ĐÌNH HỌC

THÁI NGUYÊN - NĂM 2009

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực
và chưa từng được công bố trong bất cứ công trình nghiên cứu nào khác.
Nếu sai tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm.

Tác giả
Khúc Thị Tuyết Hƣờng



Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
MỤC LỤC

Trang
Trang phụ bìa
Lời cảm ơn
Các chữ viết tắt
Đặt vấn đề 1
Chƣơng 1 - Tổng quan 3
1.1. Đặc điểm sinh học của giun đũa, giun tóc và giun móc 3
1.1.1. Giun đũa 3
1.1.2. Giun tóc…………………….……….…………………………… 4
1.1.3. Giun móc 5
1.2. Tác hại của giun đũa, tóc, móc đối với sức khoẻ và bệnh tật trẻ em 5
1.3. Lịch sử nghiên cứu về nhiễm GTQĐ 6
1.4. Tình hình nhiễm GTQĐ 8
1.4.1. Trên thế giới 8
1.4.2. Ở Việt Nam 10
1.5. Điều trị bệnh GTQĐ 12
1.5.1. Nguyên tắc 12
1.5.2. Các thuốc điều trị bệnh GTQĐ 12
1.6. Các biện pháp phòng bệnh GTQĐ 16
1.7. Một số đặc điểm của 2 trường mầm non nghiên cứu 18
Chƣơng 2 - Đối tƣợng và phƣơng pháp nghiên cứu 20
2.1. Đối tượng nghiên cứu 20
2.2. Địa điểm nghiên cứu 20
2.3. Thời gian nghiên cứu 20
2.4. Phương pháp nghiên cứu 20
2.4.1. Phương pháp thu thập số liệu 21

Bảng 3.1. Tỷ lệ nhiễm giun 26
Bảng 3.2. Tỷ lệ nhiễm các loại giun theo nhóm tuổi 27
Bảng 3.3. Tỷ lệ nhiễm các loại giun theo giới 28
Bảng 3.4. Tỷ lệ nhiễm các loại giun theo dân tộc 29
Bảng 3.5. Tỷ lệ đơn nhiễm và nhiễm phối hợp các loại giun đũa, tóc, móc
theo trường 30
Bảng 3.6.Tỷ lệ đơn nhiễm và nhiễm phối hợp các loại giun theo nhóm tuổi
31
Bảng 3.7. Cường độ nhiễm các loài giun của trẻ tại 2 trường (tính theo trung
bình cộng) 32
Bảng 3.8. Cường độ nhiễm các loài giun của trẻ tại 2 trường theo nhóm tuổi 32
Bảng 3.9. Kết quả tẩy giun chọn lọc bằng Albendazol sau 3 tuần 33
Bảng 3.10. Tỷ lệ nhiễm, tái nhiễm giun đũa 34
Bảng 3.11. Tỷ lệ nhiễm, tái nhiễm giun tóc 35
Bảng 3.12. Tỷ lệ nhiễm, tái nhiễm giun móc 36
Bảng 3.13. Cường độ nhiễm giun đũa ở trẻ trước và sau tẩy giun 37
Bảng 3.14. Cường độ tái nhiễm giun tóc ở trẻ trước và sau tẩy giun 37
Bảng 3.15. Cường độ tái nhiễm giun móc ở trẻ trước và sau tẩy giun 38
Bảng 3.16. Liên quan giữa sử dụng hố xí không hợp vệ sinh với tỷ lệ nhiễm
giun 38
Bảng 3.17. Liên quan giữa rửa tay trước ăn với tỷ lệ nhiễm giun 39
Bảng 3.18. Liên quan giữa rửa tay sau đi ngoài với tỷ lệ nhiễm giun 39
Bảng 3.19. Liên quan giữa hiểu biết của bà mẹ về bệnh giun với tỷ lệ nhiễm
giun 40
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
DANH MỤC BIỂU ĐỒ

Biểu đồ 3.1. Tỷ lệ nhiễm giun 26
Biểu đồ 3.2. Tỷ lệ nhiễm giun theo nhóm tuổi 27
Biểu đồ 3.3. Tỷ lệ nhiễm giun theo giới 28

Giun chiếm chất dinh dưỡng, gây thiếu máu, giảm phát triển thể chất, ảnh
hưởng đến phát triển trí tuệ và còn gây ra nhiều biến chứng nguy hiểm như:
tắc ruột do giun, giun chui ống mật Vì vậy nhiễm giun đường ruột là một
trong những vấn đề cần được ưu tiên trong chương trình chăm sóc sức khoẻ
cộng đồng [1]. Việc phòng các bệnh giun thường gặp nhiều khó khăn do sự
tái nhiễm nhanh và dễ dàng.
Thái Nguyên là tỉnh trung du miền núi, dân số trên một triệu người, có 9
huyện, thành, thị và có 180 xã phường. Nghề nghiệp chính của người dân là
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
trồng lúa nước và hoa màu. Tập quán canh tác dùng phân tươi để bón lúa và
hoa màu vẫn còn phổ biến. Đời sống kinh tế của người dân còn gặp nhiều khó
khăn, môi trường bị ô nhiễm là điều kiện thuận lợi cho bệnh giun truyền qua
đất lây nhiễm và phát triển. Đã có khá nhiều công trình nghiên cứu về bệnh
giun truyền qua đất tại Thái Nguyên, nhưng chưa có đề tài nào áp dụng kỹ
thuật định lượng trứng giun trong phân trẻ nhỏ bằng phương pháp Kato –
Katz và áp dụng cách đánh giá mức độ nhiễm giun truyền qua đất bằng tính
cường độ nhiễm. Để góp phần vào chương trình phòng chống bệnh giun sán
và công tác chăm sóc sức khoẻ ban đầu cho trẻ, chúng tôi tiến hành đề tài này
nhằm mục tiêu:
1. Xác định tỷ lệ, cường độ nhiễm và một số yếu tố liên quan đến
nhiễm giun truyền qua đất ở trẻ em tại hai trường mầm non tỉnh Thái
Nguyên.
2. Đánh giá kết quả tẩy giun chọn lọc bằng thuốc Albendazol.


0
C - 36
0
C nhưng thích hợp nhất là 24
0
C - 25
0
C và độ ẩm trên 80%. Ở điều
kiện này sau 12 - 15 ngày trứng đã phát triển thành trứng có ấu trùng và có
khả năng gây nhiễm. Nhiệt độ 45
0
C ở các hố ủ phân sau 1 - 2 tháng mới diệt được
trứng giun đũa, ở 60
0
C trong vài giờ mới diệt được trứng giun.
Như vậy, Việt Nam có điều kiện khí hậu, môi trường rất thuận lợi cho sự
phát triển của trứng giun (miền Bắc từ tháng 2 đến tháng 11, miền Nam thì
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
quanh năm). Theo Hoàng Thị Kim và CS [14] mùa nhiễm giun đũa cao nhất
vào tháng 5 và tháng 9.
Môi trường ngoại cảnh luôn bị ô nhiễm bởi trứng giun đũa. Điều tra của
bộ môn Ký sinh trùng trường Đại học Y khoa Hà Nội cho thấy, xét nghiệm 60
mẫu đất ở nội thành Hà Nội thì 15 mẫu có nhiễm trứng giun đũa, chiếm 25%,
với mật độ 10 - 20 trứng/100g đất; kết quả xét nghiệm 60 mẫu đất ở một số
vùng ngoại thành thấy 26 mẫu có trứng giun đũa, chiếm 43,3%, với mật độ 25
- 35 trứng/100g đất.
Số lượng trứng giun trong các mẫu xét nghiệm phụ thuộc vào tình trạng
vệ sinh, môi trường của từng vùng. Kết quả nghiên cứu của Viện sốt rét KST-
CT trong những năm gần đây ở nhiều khu vực trên miền Bắc thấy số lượng
dao động từ 14 - 127 trứng/100g đất [14].

Sau khi chui qua da ấu trùng vào hệ thống tuần hoàn về tim, lên phổi và chui
vào phế nang theo khí quản lên họng, đến thực quản xuống tá tràng, ruột non
phát triển thành giun trưởng thành. Từ khi ấu trùng chui qua da đến giun
trưởng thành mất khoảng từ 5 - 7 tuần. Đặc biệt, trong quá trình chu du trong
cơ thể người ấu trùng giun móc có thể tạm dừng ở tổ chức (giai đoạn ngủ), giai
đoạn này có thể kéo dài tới 8 tháng, thời gian này ấu trùng có khả năng kháng
lại thuốc điều trị giun. Hiện tượng ngủ của ấu trùng cũng có thể xảy ra ở động
vật có vú, cho nên có thể nhiễm ấu trùng giun móc khi ăn thịt động vật ở dạng
chưa nấu chín. Giun trưởng thành có thể sống trong cơ thể người từ 5 - 7 năm.
- Giai đoạn phát triển ở ngoại cảnh rất quan trọng đối với vòng đời của
giun móc, điều kiện thích hợp để trứng phát triển thành ấu trùng là nhiệt độ từ
25
0
C - 30
0
C, có đủ oxy, độ ẩm.
Do đặc điểm vòng đời sinh học của các loại giun có khác nhau, nên bệnh
lý do chúng gây nên cũng rất đa dạng và phức tạp, ở nhiều cơ quan, tổ chức
khác nhau mà ấu trùng chu du đi qua hoặc tại nơi giun cư trú.
1.2. Tác hại của giun đũa, tóc, móc đối với sức khoẻ và bệnh tật trẻ em
- Phổi là cơ quan hay bị tổn thương nhất do ấu trùng giun đũa (hội chứng
Loeffler) [45] với biểu hiện của một viêm phổi không điển hình. Giun đũa còn
gây tổn thương do kích thích cơ học hoặc tính chất gây độc và dị ứng bởi độc
tố của giun. Thường gặp nhất là tắc ruột, viêm ruột hoại tử, giun chui ống
mật, viêm đường mật, áp xe gan, viêm ruột thừa [32]. Nhưng tác hại chủ
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
yếu của nó là chiếm chất dinh dưỡng, gây rối loạn hấp thu và chuyển hoá mỡ,
protein, vitamin của ruột. Robert J. E. và CS [50] cho thấy tỷ lệ suy dinh
dưỡng ở nhóm trẻ nhiễm giun đũa là 49%, nhóm trẻ không nhiễm giun là
32%. Theo Thein Hlaing và CS [46], sau khi tẩy giun chiều cao và cân nặng

chỉnh hơn với các tài liệu khoa học ngày càng phong phú. Năm 1844, E.
Dujardin [26] đã viết lịch sử tự nhiên về giun sán, năm 1879 T.S Cobbold
[26] xuất bản những tài liệu về giun sán ký sinh ở người và động vật.
Ở Việt Nam cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20 đã có những điều tra giun sán
đầu tiên. Đó là công trình của Mathis, Leger, Salamon Nevan và
Maurriquand. Đặc biệt Mathis và Leger (1911) đã điều tra cơ bản khá toàn
diện về các loài giun truyền qua đất ở miền Bắc. Brau (1911) cũng có những
công trình nghiên cứu về tình hình nhiễm giun truyền qua đất ở miền Nam
[25]. Sau đó là những nghiên cứu điều trị các bệnh giun truyền qua đất bằng
thuốc tây y. Năm 1936 Đặng Văn Ngữ [24] đã tiến hành điều tra cơ bản các
loài giun truyền qua đất ký sinh và xác định tình hình nhiễm giun truyền qua
đất nghiêm trọng ở người. Từ năm 1954 đến nay đã có hàng nghìn công trình
nghiên cứu trên nhiều lĩnh vực về các bệnh giun truyền qua đất như: nghiên
cứu điều tra cơ bản, nghiên cứu về hình thể, đặc điểm sinh học, phân bố dịch
tễ, bệnh học, miễn dịch, phương pháp phòng chống các bệnh giun truyền qua
đất [2]. Trong các bệnh giun truyền qua đất, các loài giun nhiễm từ đất như
giun đũa, giun tóc, giun móc, giun mỏ là những loài giun phổ biến nhất, có tỷ
lệ nhiễm cao trong nhân dân và tác hại đáng kể tới sức khoẻ cộng đồng, tới sự
phát triển kinh tế xã hội [2], [24]. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
1.4. Tình hình nhiễm GTQĐ
1.4.1. Trên thế giới
Theo Tổ chức y tế thế giới [49], trên thế giới có 900 - 1000 triệu người
nhiễm giun đũa, 500 - 700 triệu người nhiễm giun móc và giun tóc, tình trạng
nhiễm 3 loại giun trên cũng tăng lên đáng kể theo nhịp độ tăng dân số của thế
giới.
Giun đũa phân bố rộng khắp trên thế giới, nhưng không đều, những vùng
có khí hậu nóng ẩm tỷ lệ nhiễm thường cao hơn những vùng có khí hậu mát

tục tập quán, nghề nghiệp và sự phát triển kinh tế. Ở Châu Âu, những khu
công nghiệp hầm mỏ thường có tỷ lệ nhiễm cao. Tây Ban Nha có tỷ lệ nhiễm
khoảng 34,0%, Italia 40,0%. Các nước khu vực Đông Nam Châu Á, tỷ lệ
nhiễm phụ thuộc vào từng nước, từng khu vực: Thái Lan là 40,56%,
Indonesia năm 1980 là 52% - 80%, đến năm 1993 còn 47,7%, Malaysia năm
1980 [38] là 43% - 51%, đến năm 1992 còn 7,1%, Singapore tỷ lệ nhiễm thấp:
0,3% - 6,1%, Lào năm 1980 giao động từ 2% - 31% và ở Campuchia là 35% -
56% [49].
- Năm 1997 tại Ấn Độ, Awashi. S và CS [44] nghiên cứu 1061 trẻ em từ
1,5 đến 3,5 tuổi thấy tỷ lệ nhiễm ký sinh trùng đường ruột là 17,5%, trong đó
giun đũa chiếm 68,1%. Cùng thời điểm trên, Ananthakrian cũng nghiên cứu
tại Ấn Độ [32] thấy tỷ lệ nhiễm GTQĐ ở trẻ em là 5% - 76%; Hadijaja P
nghiên cứu tại Indonesia [36] thấy tỷ lệ nhiễm giun đũa ở trẻ em là 60% -
90%, sau khi can thiệp tỷ lệ này giảm còn 40,6%; Tại Kenya, Olsel A và CS
[42] cho thấy 16% trẻ nhiễm giun đũa, 63% nhiễm giun móc và 24% nhiễm
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
giun tóc; Kightlinger L. K. nghiên cứu tại Madagasca [39] trên 667 trẻ em
thấy tỷ lệ nhiễm giun đũa là 93%, giun móc 27%, giun tóc 55%.
1.4.2. Ở Việt Nam
Việt Nam nằm ở vùng Đông Nam Châu Á, có khí hậu nhiệt đới nóng,
ẩm. Vì vậy có đầy đủ các yếu tố về: khí hậu, thổ nhưỡng cho các bệnh giun
truyền qua đất phát triển. Mặt khác nền kinh tế chưa phát triển, văn hoá xã hội
còn nhiều phong tục tập quán lạc hậu như ăn rau sống, dùng phân tươi trong
canh tác Tất cả các yếu tố trên đã tạo điều kiện cho mầm bệnh giun sán tồn
tại và phát triển, vì vậy tỷ lệ nhiễm GTQĐ ở Việt Nam rất cao.
Hoàng Thị Kim và CS [14] nghiên cứu 500000 người trên cả nước thấy
tỷ lệ nhiễm các loại giun theo từng vùng như sau:
- Nhiễm giun đũa: Miền Bắc có tỷ lệ nhiễm cao, vùng đồng bằng từ
80% - 90%, vùng núi từ 50% - 70%. Miền Trung vùng đồng bằng 70,5%,
miền núi 38,4%, vùng ven biển là 12,5%, Tây nguyên 10% - 25%. Miền Nam

Văn Xá tỷ lệ nhiễm giun đũa là 79,5%, giun tóc 63,9%.
Tại Thái Nguyên, năm 2004 Bùi Văn Hoan và CS [11] nghiên cứu trên
300 trẻ từ 7 - 10 tuổi tỷ lệ nhiễm giun chung là 86,2% trong đó giun đũa là
83,6%, giun tóc 20,6% và giun móc 3,9%. Trung tâm Y tế dự phòng tỉnh xét
nghiệm phân tìm trứng giun cho học sinh 6 trường tiểu học tại Võ Nhai thấy:
tỷ lệ nhiễm giun đũa 67,5%, giun tóc 14% và giun móc là 9,5%. Nguyễn Đức
Ngân và CS [19] xét nghiệm phân bằng phương pháp Willis cho 173 người
dân tộc dao xã Hợp Tiến thấy: tỷ lệ nhiễm giun đũa 23,6%, giun tóc 9,8% và
giun móc 35,8%; cũng bằng phương pháp trên tác giả Nguyễn Đức Ngân và
CS [18] nghiên cứu tại 3 nhà trẻ gồm 675 học sinh cho kết quả nhiễm giun
đũa 60 – 80%, giun tóc 10 – 15% và giun móc khoảng 1%. Tại bệnh viện Đa
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
khoa Trung ương Thái Nguyên Đỗ Thị Liên và CS [16] xét nghiệm cho 4720
bệnh nhân thấy tỷ lệ nhiễm giun chung 92,16% trong đó giun móc chiếm
33,6%. Năm 2005, tại phường Túc Duyên Phạm Thị Hiển và CS [10] nghiên
cứu trên 128 mẫu thấy: tỷ lệ nhiễm giun đũa 27,34%, giun tóc 25,78% và giun
móc 48,44%.
Tuy nhiên, ở Thái Nguyên hầu hết các tác giả điều tra tỷ lệ nhiễm giun
bằng phương pháp xét nghiệm tập chung trứng (Willis), sử dụng phương pháp
Kato – Katz mới chỉ áp dụng ở học sinh phổ thông và người lớn. Hơn nữa
chưa có tác giả nào áp dụng cách tính cường độ nhiễm để đánh giá mức độ
nhiễm giun.
1.5. Điều trị bệnh GTQĐ
1.5.1. Nguyên tắc
* Chọn thuốc.
- Thuốc có tác dụng với nhiều loại giun cùng một lúc.
- Tuy nhiên nên chọn loại thuốc đạt yêu cầu sau.
+ Đạt hiệu quả cao.
+ Ít tác dụng phụ: độc với giun, không độc với người.
+ Sử dụng dễ dàng qua đường uống.

. Người bị suy gan.
. Người biết trước phản ứng, dị ứng với thuốc.
. Không nên dùng phối hợp với Piperazin.
- Độc tính và tác dụng phụ:
+ Độc tính : LD 50 với chuột và chó là 2 – 5g/kg.
+ Chưa có báo cáo độc ở liều điều trị, tuy nhiên có vài tác dụng phụ nhẹ,
thoáng qua như: nhức đầu, chóng mặt, buồn nôn, đau bung, tiêu chảy.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
*Mebendazol (Anelmin, Nemasole, Noverme, Fugaca, Paltelmin,
Vermox, Toloxin, ).
Mebendazol là dẫn xuất của Benzimidazol được phát hiện vào năm 1971
để điều trị giun kim và giun móc, sau đó là giun đũa và tóc vào năm 1973 bởi
Chavarria A và vào năm 1974 bởi Wolfe M.S, Wershing J.M [48].
- Áp dụng lâm sàng
+ Chỉ định và liều dùng:
. Điều trị giun đũa trẻ em và người lớn liều như nhau.
. Liều duy nhất 500mg hoặc 100mg/ngày x 1 - 3 ngày.
. Điều trị giun kim liều duy nhất 100mg và nhắc lại sau 2 - 4 tuần.
. Điều trị giun tóc và móc nếu nhiễm nhẹ liều duy nhất 500mg, nếu
nhiễm nặng liều 500mg x 3 ngày hoặc liều 100mg/lần x 2 lần/ngày trong 3
ngày. Sau 3 - 4 tuần xét nghiệm phân còn trứng thì điều trị lần 2.
. Điều trị giun móc liều 200mg/lần x 2lần/ngày x 4 ngày.
. Cách dùng: uống sau ăn, không phải ăn kiêng và không phải uống thuốc
tẩy kèm.
+ Chống chỉ định:
. Phụ nữ có thai 3 tháng đầu.
. Trẻ em dưới 2 tuổi.
- Độc tính và tác dụng phụ:
+ Độc tính : LD 50 với chuột cống, lợn, thỏ > 1280mg/kg và mèo, chó là
640mg/kg.

. Theo WHO và UNICEF (2008) [31], không dùng cho trẻ dưới 12 tháng.
. Dị ứng với thuốc.
. Bệnh nhân xơ gan.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
. Trẻ mới được tẩy giun trong vòng 6 tháng qua.
- Độc tính và tác dụng phụ:
+ Độc tính cấp đối với chuột cống là > 10.000mg/kg, chuột nhắt
3.000mg/kg, thỏ 500mg/kg và với lợn > 900mg/kg.
+ Độc tính bán cấp và mạn tính với liều 30mg/kg ở chuột, 10mg/kg ở chó
liên tục trong 90 ngày không thấy có thay đổi hoạt động và sinh lý của con vật.
+ Tác dụng gây quái thai : trên cừu là 11mg/kg, trên bò là 25mg/kg, trên
thỏ là 30mg/kg, trên chuột là 10mg/kg, còn trên người thì chưa rõ.
+ Tác dụng phụ ít, nhẹ và thoáng qua như rối loạn thượng vị, tiêu chảy,
đau đầu, buồn nôn, mệt mỏi.
- Chế phẩm
+ Dạng thuốc viên nén hàm lượng 200mg hoặc 400mg.
+ Dạng dung dịch treo100mg/5ml
1.6. Các biện pháp phòng bệnh GTQĐ
Chương trình phòng chống bệnh giun truyền qua đất đã được đề ra từ
những thập niên đầu tiên của thế kỷ XX. Ở các nước phát triển bệnh GTQĐ
hầu như đã được thanh toán. Chương trình phòng chống bệnh giun truyền qua
đất của tổ chức Y tế Thế giới khuyến cáo [49]:
- Điều trị hàng loạt có tác dụng làm giảm nhanh tỷ lệ và cường độ nhiễm
GTQĐ, nhưng nếu không kết hợp với các biện pháp khác thì rất dễ tái nhiễm.
- Vệ sinh môi trường đơn thuần sẽ khống chế được GTQĐ nhưng kết quả
rất chậm.
- Cần phải phối hợp các biện pháp trong phòng chống GTQĐ: vệ sinh,
môi trường, điều trị hàng loạt, giáo dục sức khoẻ.
* Điều trị giun
Điều trị giun nhằm mục đích diệt giun trưởng thành từ nguồn bệnh, cần


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status