TRƯỜNG
KHOA…………………… BÁO CÁO TỐT NGHIỆP
ĐỀ TÀI
Nghiên cứu thực trạng các
ngành nghề trong hộ nông
dân trên địa bàn xã Liêm
Chính – thị xã Phủ Lý – tỉnh
Hà Nam
Luận văn tốt nghiệp Nguyễn Xuân Khoát - Kinh
tế 45C
1
ĐẶT VẤN ĐỀ
1.Tính cấp thiết của đề tài
Trước xu thế hội nhập và phát triển, đất nước ta đang nỗ lực thực hiện thành công
tiến trình công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước để xây dựng nước ta thành một nước
công nghiệp có lực lượng sản xuất xã hội chủ nghĩa tương đối phát triển phù hợp với
quan hệ sản xuất với mục tiêu tạo tiền đề cho bước phát triển cao hơn hướng tới dân
giàu nước mạnh xã hội công bằng dân chủ văn minh. Trong chiến lược phát triển kinh tế
kỹ thuật phát huy lợi thế và tiềm năng sẵn có giảm chi phí sản xuất tăng cường năng lực
cạnh tranh chuyển dịch cơ cấu lao động theo xu hướng ly nông bất ly hướng phát triển
nền kinh tế hàng hoá một cách bền vững, tường bước cải thiện đời sống nhân dân, giảm
dần sự cách biệt giữa thành thị và nông thôn “.
Xã Liêm Chính là một xã thuộc địa giới hành chính của thị xã Phủ Lý – tỉnh Hà
Nam, những năm gần đây bộ mặt kinh tế xã hội của địa phương có sự chuyển biến tích
cực: kinh tế không ngừng tăng trưởng phát triển, lực lượng sản xuất ngày càng lớn
mạnh, cơ cấu kinh tế biến đổi tích cực theo hướng tăng dần vai trò của ngành nghề phi
nông nghiệp, văn hoá đời sống nhân dân tăng lên.Tuy nhiên trong quá trình phát triển
của mình địa phương vẫn chưa tận dụng tốt lợi thế của mình đặc biệt trong phát triển
các ngành nghề công nghiệp,
Công cuộc đổi mới do Đảng và Nhà nước đề ra đã đem lại sự chuyển biến tích
cực bộ mặt kinh tế xã hội cả nước, nền kinh tế nước ta vốn là một nền kinh tế thuần
nông phải nhập khẩu lương thực thường xuyên thì đến năm 1989 không những đủ cung
cấp nhu cầu trong nước mà trở thành nước xuất khẩu lương thực lớn của thế giới; cơ cấu
kinh tế chuyển biến tích cực theo hướng tăng dần tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ nền
kinh tế mỗi năm tăng trưởng cao. Nhân dân bây giờ không phải lo thiếu ăn, thiếu mặc
nữa mà lo sao làm giàu chính đáng cho mình và cho xã hội, đó cũng là câu hỏi đang
được các cấp các ngành quan tâm cố gắng tìm ra lời giải tốt nhất.
Xuất phát điểm từ một nền kinh tế thuần tuý dựa vào nông, lâm, ngư nghiệp thì
không thể phát triển nhanh được, không tạo được những tích luỹ cần thiết để tiến hành
công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước.Do đó muốn đẩy nhanh công nghiệp hoá hiện đại
hoá phải đẩy nhanh công nghiệp hoá nông thôn mà hộ nông dân là một chủ thể chủ yếu
ở nông thôn điều này đòi hỏi phải:
- Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp nông thôn theo hướng xoá dần tính
chất thuần nông, phát triển công nghiệp và dịch vụ nông thôn. Việc phát triển công
Luận văn tốt nghiệp Nguyễn Xuân Khoát - Kinh
tế 45C
3
tế 45C
4
. Bước đầu đưa ra một số giải pháp chủ yếu nhằm phát triển các ngành nghề trong hộ
nông dân trong địa bàn xã Liêm Chính – thị xã Phủ Lý – tỉnh Hà Nam ở những năm tới.
3. Đối tượng nghiên cứu của đề tài
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các ngành nghề trong hộ nông dân trên địa bàn
xã Liêm Chính- thị xã Phủ Lý – tỉnh Hà Nam.
4. Phạm vi nghiên cứu của đề tài
Phạm vi không gian:Nghiên cứu thực trạng các ngành nghề trong hộ nông dân
trên địa bàn xã Liêm Chính – thị xã Phủ Lý – tỉnh Hà Nam.
Phạm vi thời gian: Nghiên cứu các ngành nghề trong hộ nông dân trên địa bàn xã
qua ba năm ( 2001- 2003).
Thời gian thực hiện đề tài: Đề tài được thực hiện trong khoảng thời gian từ
ngày 12/01/2004 đến 01/ 05/ 2004.
các bí quyết sự lành nghề dẫn đến sản phẩm sản xuất ra đạt yêu cầu thị hiếu của cầu
tiêu thụ về phẩm chất, hình thức, kiểu dáng, chi phí, hàm lượng chất xám, độ tinh xảo.
Sự lành nghề có kĩ xảo, có năng lực được mang lại kết quả là các sản phẩm làm ra sẽ có
chi phí thấp lại được ưa chuộng tất yếu hộ sản xuất sẽ có thu nhập tốt, có sức ổn định.
Các vấn đề xã hội (như ma tuý, mại dâm, cờ bạc) đặt ra cho địa phương nơi mà cách xa
trung tâm tỉnh lỵ không xa đòi hỏi phải có phương án giải quyết xuất phát từ căn
nguyên của vấn đề: việc làm là vấn đề bức bách mà muốn có nhiều việc làm có thu
nhập, giải quyết sự nhàn nhã thì phát triển các nghành nghề phi nông nghiệp là giải
Luận văn tốt nghiệp Nguyễn Xuân Khoát - Kinh
tế 45C
6
pháp hữu hiệu để giúp các thành viên của hộ không xa phải con đường tội lỗi xấu xa.
Việc làm ngoài ngoài nông nghiệp giúp hộ chủ động hơn dưới ảnh hưởng bất trắc (rủi
ro) của thời tiết, thiên nhiên, sâu bệnh.
Quá trình phát triển này sẽ giúp chuyển dịch cơ cấu kinh tế của hộ của địa phương theo
hướng giảm tỷ lệ nông nghiệp xuống và tăng giá trị ngành nghề phi nông nghiệp lên.
1.2.Một số khái niệm cơ bản
Ngành nghề trong các hộ nông dân bao gồm công nghiệp tiểu thủ công nghiệp và
các hoạt động dịch vụ cho sản xuất và đời sống. Các tổ chức hộ với mức độ khác nhau
đều có thể sử dụng các nguồn lực sẵn có ở địa phương như đất đai lao động, các sản
phẩm từ nông nghiệp và các nguồn lực khác cộng thêm các kinh nghiệm sản xuất kinh
doanh được tích luỹ kế thừa để làm ra các sản phẩm có lợi thế cạnh tranh. Các ngành
nghề trong hộ được biểu trưng bởi số lượng các ngành nghề với quy mô các yếu tố sản
xuất, trình độ công nghệ được sử dụng để sản xuất ra các sản phẩm có chất lượng được
ưa chuộng và phù hợp với nhu cầu và thị hiếu của người tiêu dùng như thế nào. Sự phát
triển các ngành nghề trong các hộ nông dân là sự tăng số hộ có ngành nghề và sự
chuyển biến tích cực trong nội tại các ngành nghề mà hộ đảm nhận như công nghệ trình
độ tay nghề, sự lành nghề, sự đa dạng hoá sản phẩm cùng một đầu vào, chất lưọng sản
hộ. Chủ hộ mà có kiến thức, có kinh nghiệm trên thị trường, trong xã hội, biết nắm bắt
thời cơ, biết vận động năng động trước rủi ro từ bên ngoài sẽ tạo cho hộ khả năng đứng
vững, phát triển bền vững trước thời cuộc.
b. Nhân tố thị trường: Những hộ chuyên ngành nghề nhất là chế biến các sản phẩm từ
đầu vào nông sản tạo ra sản phẩm có thời gian sử dụng thấp bảo quản khó khăn có yêu
cầu gay gắt về thị trường.
c. Nhân tố địa lý: Hộ nằm trên các trục đường chính, gần khu đông đúc dân cư càng có
điều kiện kinh doanh dịch vụ tốt hơn.
d. Nhân tố kĩ thuật: Các nghề truyền thống như mộc, nề, thiêu, đan, may, sửa chữa máy
móc thiết bị đòi hỏi sự lành nghề đặc biệt các hoạt động chế biến nông sản như làm đậu,
nấu rượu, làm bánh kẹo phải cần có sự tích luỹ kinh nghiệm. Các hoạt động sản xuất
công cụ cho đầu vào của hoạt động khác, các hoạt động sản xuất các vật phẩm tiêu dùng
như sản xuất ra dao, kéo, cày, bừa, máy tuốt lúa đạp chân, cổng sắt… cũng đòi hỏi yêu
cầu phải đáp ứng thị hiếu khách hàng tiêu dùng phải phù hợp với hoàn cảnh ứng dụng
các sản phẩm đó. Những hộ buôn bán nhỏ như hộ buôn bán các sản phẩm nông sản bán
Luận văn tốt nghiệp Nguyễn Xuân Khoát - Kinh
tế 45C
8
ra thị trường, bán các hàng hoá tiêu dùng ở chợ hay tại gia đình nơi thuận tiện lưu thông
hàng hoá và dễ kiếm lời buộc hộ phải năng động trong việc phải nắm bắt thị trường để
có phản ứng linh hoạt.
đ. Nhân tố chính sách: Các chính sách của chính phủ đưa ra như chính sách đổi mới cơ
chế quản lý kinh tế trong hộ nông dân, chính sách đất đai, xoá đói giảm nghèo, cơ sở hạ
tầng nông thôn… tuỳ vào mức độ tác động mà hộ có ảnh hưởng khác nhau. Phần lớn
các chính sách này có độ nhạy cảm với vấn đề phát triển kinh tế của nông thôn mà hộ
nông dân là một chủ thể, vấn đề xoá đói giảm nghèo, phát triển cải thiện cơ sở hạ tầng,
cải thiện các điều kiện sống cho nông dân… Các chính sách mà chính phủ đưa ra luôn
luôn xuất phát từ nhu cầu thực tai khách quan để tháo gỡ những vấn đề nan giải của xã
nông hộ thay đổi căn bản. Hiến pháp năm 1959 đã xác định: Đất đai thuộc sở hữu toàn
dân, mọi quan hệ mua bán trao đổi đất bị cấm nghiêm ngặt. Giai đoạn này hộ nông dân
sản xuất nông nghiệp là chính các nghành khác nhất là buôn bán lưu thông hàng hoá
kiếm lời bị tê liệt hoàn toàn, mọi hoạt động phi nông nghiệp đều thuộc sự quản lý của
nhà nước dưới hình thức hợp tác xã. Trong hợp tác xã sản xuất nông nghiệp nông hộ
được tập thể giành cho 5% đất canh tác để làm “kinh tế phụ gia đình” hay “kinh tế phụ
xã viên”. Với 5% đất canh tác nhưng đã sản xuất ra 48%giá trị sản lượng nông nghiệp,
50% - 60% thu nhập của hộ. Tuy không công khai nhưng kinh tế nông hộ đã thực sự là
cơ sở đảm bảo cho kinh tế tập thể tồn tại. Nông hộ được chia thành 2 loại:
Loại 1: Gồm các hộ nông dân cá thể ngày càng giảm có phân biệt đối xử sản xuất
luôn bị kìm hãm bó buộc.
Loại 2: Gồm các hộ gia đình xã viên trong hợp tác xã và hộ công nhân viên trong
các lâm trường loai này có nguồn thu nhập từ kinh tế tập thể thông qua ngày công đóng
góp hoặc tiền lương và thu từ đất 5% với số vật tư và lao động còn lại mà hợp tác xã
huy động đến kinh tế nông hộ với sản xuất nông nghiệp là chính chỉ giới hạn 5% phần
đất, kinh tế hợp tác xã đình đốn, kinh tế quốc doanh thua lỗ nên thu nhập từ kinh tế tập
thể trong tổng thu của hộ có sự biến đổi lớn: kinh tế tập thể chiếm 70% - 75% còn kinh
tế nông hộ chỉ chiếm 25% -30%. Do thu nhập từ kinh tế tập thể thấp đã làm cho nông
đân xã viên chán nản, muốn xa nền kinh tế tập thể.
Giai đoạn 1981-1987 trước thực trạng kinh tế tập thể đình đốn, khủng hoảng
lương thực thường xuyên xảy ra nghiêm trọng, nền kinh tế đất nước đình đốn, kinh tế
nông hộ bị hạn chế không phát triển được thì nghị quyết TW6 tháng 9 năm 1979 xác
định “những vấn đề kinh tế - xã hội cấp bách” nhằm tìm giải pháp đưa đất nước thoát
Luận văn tốt nghiệp Nguyễn Xuân Khoát - Kinh
tế 45C
10
khỏi khủng hoảng. Xuất phát từ thực trạng đó Bộ chính trị đã ban hành Chỉ thị 100 ngày
13/01/1981 về cải tiến công tác khoán mở rộng khoán sản phẩm đến nhóm và người lao
1.6.Thực trạng tình hình phát triển ngành nghề nông thôn ở một số nước trên thế
giới
Việc phát triển ngành nghề nông thôn được xem là một trong những giải pháp
quan trọng để tháo gỡ những khó khăn, những phát sinh trong việc thúc đẩy sự phát
triển kinh tế- xã hội trên địa bàn nông thôn ở một số nước trên thế giới. Một số nước đã
trải qua quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn rất thành công,
đó là những bài học kinh nghiệm cho đất nước ta học tập đúc rút và áp dụng linh hoạt
mô hình phát triển nông thôn một cách hiệu quả nhất.
Ở một ngay cạnh nước ta, Trung Quốc thực hiện rất tốt quá trình công nghiệp hoá
hiện đại hoá nông thôn trong giai đoạn cải cách (1978- 1992) với phương châm đề ra”
ly nông bất ly hương, nhập xướng bất nhập thành” chủ trương phát triển ngành nghề
nông thôn theo mô hình xí nghiệp Hương Trấn lấy nông thôn làm cơ sở. Bước đi của
Trung Quốc là thận trọng từ thấp lên cao, không chạy theo phong trào không chạy theo
hình thức, không chạy theo thành tích như thời kì “ công xã nhân dân” ; lấy mô hình
phát triển xí nghiệp Hương Trấn vừa là tích luỹ ban đầu vừa là bắt đầu đi vào phát triển
chiều sâu bằng áp dụng công nghệ mới hiện đại và sử dụng nhiều vốn. Nhiều xí nghiệp
như Hương Trấn đã mở rộng về quy mô và phạm vi lĩnh vực kinh doanh. Hiện nay các
xí nghiệp như Hương Trấn đã hoạt động ở ba cấp: huyện, xã, thôn và tạo ra giá trị sản
lượng ngày càng tăng. Nhờ sự phát triển công nghiệp nông thôn mà Trung Quốc đã
giảm tỷ trọng lao động trong nông nghiệp từ 70% (1978) xuống dưới 50% (1992) giảm
áp lực di dân ra thành thị, kinh tế nông thôn phát triển đã cải thiện đời sống nhân dân
vùng nông thôn.
Nằm trong nhóm nước Niss, Đài Loan bắt đầu tiến trình công nghiệp hoá nông
thôn từ những năm 50 bao gồm các ngành nghề tiểu thủ công nghiệp, các làng nghề cổ
truyền, các xí nghiệp gia đình sản xuất chế biến lương thực thực phẩm và các mặt hàng
thủ công mỹ nghệ phục vụ ngành du lịch. Riêng công nghiệp chế biến nông sản rất phát
triển: năm 1991 đã có 5779 xí nghiệp với 100 nghìn lao động đã tạo ra giá trị sản lượng
tới 17.5 tỷ USD . Công nghiệp thực phẩm với 22 chuyên ngành chủ yếu trong đó công
nghiệp chế biến thịt chiếm 15.41% giá trị sản lượng, với chăn nuôi là12.36%, gạo
cơ sở vừa chiếm 34%; hoạt động của các xí nghiệp này là chế tạo và xửa chữa máy công
cụ nông nghiệp.
Một số con rồng châu Á (Hàn Quốc, Hồng Công, Shingapo) thực hiện sách lược
dồn hết sức lực cho công nghiệp nặng có trọng điểm kết hợp với dịch vụ coi nhẹ phát
Luận văn tốt nghiệp Nguyễn Xuân Khoát - Kinh
tế 45C
13
triển nông nghiệp nông thôn để tạo ra sức mạnh kinh tế sau đó mới tiến hành cải tạo đầu
tư cho nông nghiệp nông thôn.
Thông qua thực tế phát triển ngành nghề nông thôn ở một số nước trên thế giới
chúng ta rút ra một số bài học sau:
- Công nghiệp hoá- hiện đại hoá đất nước phải kết hợp chặt chẽ với công nghiệp
hoá hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn mà bước đi quan trọng là phải phát triển ngành
nghề nông thôn bao gồm nghề tiểu thủ công nghiệp, nghề truyền thống, nghề chế biến
nông sản, kinh doanh dịch vụ tạo ra sự chuyển biến tích cực cơ cấu kinh tế nông thôn.
- Phát huy lợi thế tuyệt đối của địa phương,của vùng, của đất nước về mọi mặt để
sản xuất ra các sản phẩm có ưu thế cạnh tranh cao.
- Phát triển ngành nghề trong các hộ nông dân sẽ thúc đẩy kinh tế hộ phát triển,
kinh tế địa phương phát triển, xoá đói giảm nghèo, từng bước cải thiện đời sống nhân
dân vùng nông thôn tạo tiền đề cho quá trình công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước
thành công.
1.7. Thực trạng tình hình phát triển ngành nghề nông thôn ở Việt Nam
Kinh tế nông thôn bao gồm hai lĩnh vực: kinh tế nông nghiệp và kinh tế phi nông
nghiệp. Trong lĩnh vực kinh tế phi nông nghiệp bao gồm tiểu thủ công nghiệp, công
nghiệp và dịch vụ cho sản xuất cho đời sống ở nông thôn. Công nghiệp nông thôn ở
Việt Nam đã trải qua những bước thăng trầm cùng với tiến trình cải cách và phát triển
kinh tế đất nước. Thực hiện đường lối của Đảng và chủ trương chính sách của Nhà
nước, công nghiệp nói chung, công nghiệp nông thôn nói riêng đã chứng kiến biến
- Hiện nay, vốn của các hộ các cơ sở ngành nghề nông thôn còn nhỏ, phần lớn các
cơ sở sản xuất thiếu vốn để nâng cao chất lượng sản phẩm và mở rộng sản xuất kinh
doanh. Theo kết quả điều tra ngành nghề nông thôn năm 1997 của Cục chế biến lâm sản
và ngành nghề nông thôn cho thấy: ổ hộ chuyên ngành nghề có vốn sản xuất bình quân
là 25.73 triệu đồng( bằng 3.67%) trong đó vốn cố định chiếm tỷ lệ 57.2%; về quy mô
vốn có tới 86.81% số hộ có vốn dưới 50 triệu đồng, trong đó lại có 37.66% số hộ có vốn
dưới 10 triệu; bình quân vốn đầu tư cho một lao động thường xuyên ở hộ chuyên là 7.75
triệu đồng. Còn đối với hộ kiêm, vốn sản xuất bình quân là16.10 triệu đồng, trong đó
11.3 triệu đồng được dùng cho sản xuất phi nông nghiệp, bình quân vốn đầu tư cho một
lao động là 5.07 triệu đồng.
Luận văn tốt nghiệp Nguyễn Xuân Khoát - Kinh
tế 45C
15
- Về lĩnh vực hoạt động: tiểu thủ công nghiệp – công nghiệp nông thôn tồn tại ở
nhiều dạng ngành nghề khác nhau như: công nghiệp chế biến, dệt, may mặc, gốm sứ mỹ
nghệ, mộc, cơ khí nông thôn…
Đối với công nghiệp chế biến có mặt ở hầu khắp các vùng, hoạt động dưới nhiều
hình thức và nội dung khác nhau. Trong đó có nhiều hoạt động mang tính truyền thống
như làm bún, bánh đa nấu rượu…và nhiều hoạt động mang tính hiện đại như chế biến
phục vụ xuất khẩu…
Trong ngành dệt, may mặc và thêu ren…là những ngành thu hút tương đối nhiều
lao động nữ; có nhiều hoạt động mang tính truyền thống, tính lịch sử lâu đời như dệt lụa
ở Hà Đông, dệt vải ở Thái Bình, Nam Định, Bắc Ninh,Bắc Giang…riêng may mặc là
một ngành khá phát triển cùng với nhu cầu ngày càng cao của xã hội có ở khắp các
vùng quê nông thôn.
Trong nghề gốm sứ, trạm trổ, mỹ nghệ…đây là các ngành chủ yếu phục vụ xuất
khẩu và có yêu cầu kỹ thuật đối với sản phẩm tương đối cao vì thế mà nó phát triển chủ
yếu ở những làng nghề truyền thống như ở Bình Dương, Bát Tràng, Đồng Nai…
lệ sản phẩm tiêu thụ/ sản phẩm sản xuất ra.
e. Hệ thống các chỉ tiêu dùng để phân tích hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh
của các hộ ngành nghề trên địa bàn xã Liêm Chính- thị xã Phủ Lý- tỉnh Hà Nam:giá
trị tăng thêm tạo ra trong năm tính bình quân trong 1 hộ, giá trị tăng thêm tính bình
quân cho 1 lao động thường xuyên, thu nhập trong năm tính bình quân cho 1 hộ, tỷ suất
thu nhập / 1 đồng chi phí, thu nhập bình quân trong năm tính cho 1 lao động thường
xuyên.
f. Hệ thống các chỉ tiêu dùng để so sánh ngành nghề hộ nông dân trên địa bàn xã
Liêm Chính- thị xã Phủ Lý - tỉnh Hà Nam với xã Liêm Tuyền-huyện Thanh Liêm-
tỉnh Hà Nam:khoảng cách thu nhập bình quân 1 hộ ở xã Liêm Chính so với xã Liêm
Tuyền, tỷ lệ hộ giàu của xã Liêm Chính so với xã Liêm Tuyền, tỷ lệ hộ nghèo của xã
Liêm Chính so với xã Liêm Tuyền.
g. Hệ thống chỉ tiêu dùng để phân tích tác động của ngành nghề tới kinh tế- xã hội -
môi trường trên địa bàn xã Liêm Chính- thị xã Phủ Lý- tỉnh Hà Nam: tỷ lệ hộ ngành
nghề gây ảnh hưởng xấu tới đất tới nước, tỷ lệ hộ nhận thêm lao động thuê ngoài, tỷ lệ
hộ ngành nghề giàu( trung bình, khá, nghèo) so với hộ trong xã, tỷ lệ hộ đóng góp đáng
kể cho kinh tế địa phương.
Luận văn tốt nghiệp Nguyễn Xuân Khoát - Kinh
tế 45C
17
k. Hệ thống chỉ tiêu dùng để đánh giá những khó khăn và kiến nghị của hộ ngành nghề
trên địa bàn xã Liêm Chính- thị xã Phủ Lý- tỉnh Hà Nam: tỷ lệ không có khó khăn, tỷ
lệ có khó khăn về vốn ( lao động, nhà xưởng, kinh nghiệm quản lí).
Xã Liêm Chính nằm ở phía Đông Nam thuộc địa giới hành chính của thị xã Phủ
Lý – Tỉnh Hà Nam, xã được thành lập sau khi chia cắt xã Thanh Giang – huyện Thanh
Liêm thành xã Liêm Chung và xã Liêm Chính. Phía Đông giáp với xã Liêm Tuyền
thuộc huyện Thanh Liêm, phía nam giáp với xã Liêm Chung, phía Bắc xã ngăn cách
huyện Duy Tiên bởi con sông Châu Giang chạy dài gần 8 km, phía Tây giáp với phường
Hai Bà Trưng và phường Trần Hưng Đạo thuộc thị xã Phủ Lý – tỉnh Hà Nam. Toàn xã
có ba thôn gồm Thá, Mễ Thượng, Mễ Nội, trước kia có cả thôn Bảo Thôn nhưng mới
được chia cắt nhập vào phường Trần Hưng Đạo. Tính từ uỷ ban xã tới trung tâm tỉnh Hà
Nam chỉ chừng hơn 2 km lại có con đường 62 nối Phủ Lý –huyện Thanh Liêm – huyện
Lý Nhân chạy qua hai thôn Mễ Nội, Mễ Thượng, trong các thôn đều có con đường liên
xã chạy qua, mạng lưới giao thông được bê tông hoá nhựa hoá tạo điều kiện tốt cho
hàng hoá lưu thông, con người qua lại dễ dàng kích thích sự phát triển các hoạt động
buôn bán dịch vụ trao đổi hàng hoá. Xã lại có con sông Châu Giang ngăn cách chạy dài
suốt chiều dài hai thôn Mễ được thông với con sông Đáy nên giao thông vận tải bằng
đường thuỷ cũng rất thuận lợi giữa xã với các địa phương khác trong và ngoài
tỉnh.Được nằm ngay trên trung tâm kinh tế văn hoá xã hội của tỉnh Hà Nam, nơi có thị
trường tiêu dùng rộng lớn, có khả năng thanh toán cao ở tất cả các mặt hàng từ hàng
hoá nông nghiệp tới các mặt hàng công nghiệp, dịch vụ nên địa phương có nhiều thuận
lợi để phát triển nền sản xuất đa ngành cung cấp cho thị trường trong và ngoài xã. Lợi
thế về thị trường đem lại là rất lớn, giúp cho hàng hoá sản xuất trong xã được tiêu thụ
phần lớn là ở trong thị xã Phủ Lý, lại có ưu điểm chi phí vận chuyển nhỏ khả năng tiếp
cận thị trường nhanh, đã tạo điều kiện tốt cho phát triển ngành nghề trong hộ nông dân
nói riêng cho toàn xã Liêm Chính nói chung.
2.1.2. Điều kiện kinh tế xã hội
2.1.2.1.Tình hình đất đai
Luận văn tốt nghiệp Nguyễn Xuân Khoát - Kinh
tế 45C
19
166.45 68.98 157.59 67.88 154.7 68.23 94.68 98.15 96.40
2.Đất vườn, trồng cây
lâu năm
39.18 16.24 39.15 16.86 39.17 17.28 99.92 100.05 99.99
3.Đất ao hồ
35.68 14.79 35.43 15.26 32.85 14.49 99.30 92.72 95.95
II. Đất chuyên dùng
44.66 13.44 53.95 16.23 58.07 17.47 120.80 107.64 114.03
1. Đất xây dựng cơ
bản
7.95 17.80 11.41 21.15 13.72 23.63 143.52 120.25 131.37
2. Đất giao thông
21.87 48.97 25.88 47.97 27.03 46.55 118.34 104.44 111.17
3. Đất mặt nước thuỷ
lợi
7.13 15.97 7.13 13.22 7.13 12.28 100.00 100.00 100.00
4. Đất nghĩa trang, di
tích văn hoá
4.16 9.31 4.16 7.71 4.16 7.16 100.00 100.00 100.00
5. Đất trường học,
trạm y tế, bệnh viện
3.55 7.95 5.37 9.95 6.03 10.38 151.27 112.29 130.33
tế 45C
20
để phát triển kinh tế hộ gia đình mình. Chỉ có tham gia làm ngành nghề phi nông nghiệp
mới giải quyết được vấn đề trên, và thực tế đây là xu thế đang diễn ra trong hộ nông dân
ở Liêm Chính, hộ nông nghiệp ngày càng giảm, hộ ngành nghề ngày càng chiếm số
đông. Nhu cầu đất ở ngày càng tăng, trung bình mỗi năm tăng 6.93 % chiếm 10.56%
tổng diện tích tự nhiên của xã đạt mức độ 297 m
2
một hộ. Tương lai nhu cầu về nhà ở
ngày tăng và trở thành mối lo cho chính quyền xã. Trong diện tích đất của xã, đất
chuyên dùng ngày càng tăng, nguyên nhân do địa phương đang thực hiện đầu tư trọng
tâm vào các dự án phát triển cơ sở hạ tầng mở rộng thị xã Phủ Lý đã được hội đồng
nhân dân các cấp thông qua năm 2002, hệ thống giao thông là ưu tiên hàng đầu đang
được hoàn thiện ở xã, dự kiến Liêm Chính sẽ có đường 62 mới chạy qua thay thế đường
cũ tạo điều kiện cho giao lưu vận chuyển hàng hoá và đáp ứng nhu cầu đi lại của người
dân trong tỉnh, mong muốn của lãnh đạo địa phương là khi hệ thóng giao thông hoàn
thiện đồng bộ sẽ tạo cơ hội cho kinh tế địa phương phát triển mạnh hơn nữa.
Trong cơ cấu diện tích đất tự nhiên của xã Liêm Chính có phần đất đầm vực được
tạo ra do quá trình vỡ đê hình thành đầm, tương lai đây là một khu sinh thái dịch vụ giải
trí của thị xã Phủ Lý.
2.1.2.2. Tình hình dân số và lao động
Lao động là một yếu tố cực kì quan trọng đối với bất kì một nền sản xuất nào,
quy mô cơ cấu cùng với chất lượng lao động góp phần quyết định vị thế của nền sản
xuất đó trong cơ cấu kinh tế tổng thể.Chính vì thế mà khi nghiên cứu tình hình phát
triển ngành nghề hộ nông dân ta cũng phải xem xét tình hình lao động và nhân khẩu của
địa phương.Tình hình dân số và lao động của xã Liêm Chính được thể hiện qua biểu 2.
Luận văn tốt nghiệp Nguyễn Xuân Khoát - Kinh tế 45C
III. Tổng số lao động
2389 100 2401 100 2423 100 100.50 100.92 100.71
1. LĐ thu
ần nông nghiệp
502 21.01 475 19.78 424 17.50 94.62 89.26 91.90
2. LĐ phi nông nghi
ệp
1887 78.99 1926 80.22 1999 82.50 102.07 103.79 102.92
IV. Các chỉ tiêu đánh giá
1.Mật độ dân số
1232.85 1244.58 1259.63 100.95 101.21 101.08
2. Tỷ lệ LĐ phi NN / tổngLĐ
78.99 80.22 82.50 101.56 102.85 102.20
3. Tỷ lệ khẩu phi NN / tổng khẩu
69.50 70.41 71.98 101.32 102.23 101.77
Nguồn số liệu: Ban thống kê xã Liêm Chính
LuËn v¨n tèt nghiÖp NguyÔn Xu©n Kho¸t - Kinh tÕ 45C
22
Xã Liêm Chính cũng như nhiều xã khác xung quanh trong tỉnh Hà Nam được
xem là xã đất chật người đông, dân số hàng năm vẫn tăng lên. Qua ba năm số nhân khẩu
của xã tăng 1.08 % đến năm 2003 đã có 4187 nhân khẩu. Số hộ cũng không ngừng tăng
lên năm 2003 có 1180 hộ nông dân trên toàn xã tăng mỗi năm là 1.03 %. Xét về cơ cấu
dân số, cơ cấu hộ theo ngành nghề hiện nay ở địa phương thì trong ba năm số nhân khẩu
thuần nông nghiệp luôn chiến tỷ trọng thấp nhưng ngày càng giảm: năm 2003 khẩu
thuần nông chỉ chiếm 28.02 % mỗi năm giảm 3.13 % ngược lại khẩu phi nông nghiệp
không ngừng tăng lên và chiếm chủ yếu trong cơ cấu của xã, qua ba năm khẩu phi nông
Cái 3 3 3
Trạm bơm tiêu kết hợp
Cái 2 2 2
Kênh mương
Km 21 21 21
II. Côn g trình giao thông
Đường liên xã
Km 11 11 11
Đường liên thôn
Km 18 18 18
Đưòng liên huyện
Km 8 8 8
Đường nội bộ
Km 40 43 46
III. Công trình điện
Trạm biến áp
Cái 4 4 4
Đường dây cao thế
Km 11 11 11
Đường dây hạ thế
Km 54 55 56
Đường dây điện thoại
Km 23 25 26
Đường dây thông tin xã
Km 17 18 18
IV. Tài sản cố định khác
Xe ô tô
Cái 3 3 3
Nguồn số liệu: Ban thống kê xã Liêm Chính
Về hệ thống điện, thông tin liên lạc trong xã: hiện tại mạng lưới điện trong xã dày
đặc với mạng lưới điện cao thế hạ thế, điện đã phủ hoàn toàn tới các ngõ xóm trong xã,
mỗi thôn có một trạm biến luôn cung cấp đầu đủ nhu cầu điện phục vụ cho sản xuất,
cho đời sống nhân dân, không còn tình trạng thiếu điện ngai cả trong giờ cao điểm. Xã
đã được trang bị hệ thống thông tin, loa đài phát thanh công cộng từ lâu, hàng ngày
chuyển tải cho nhân dân xã nhiều thông tin bổ ích tạo điều kiện nâng cao sự hiểu biết
cho người dân trong xã. Mạng điện thoại cũng đang được phủ rộng tới các xóm làng
LuËn v¨n tèt nghiÖp NguyÔn Xu©n Kho¸t - Kinh tÕ 45C
24
đến nay đã có 26 km đường dây điện thoại và hàng năm số thuê bao tăng tới 28%, điều
đó chứng tỏ nhu cầu sống của nhiều hộ dân trong xã đã được nâng cao.
Tốc độ phát triển, tốc độ đô thị hoá nông thôn cũng đang diễn ra nhanh ở Liêm
Chính. Năm năm gần đây xã đã được đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng một cách toàn
diện, trường học nhà trẻ được đầu tư xây dựng, bệnh viện lao cũng đã hoàn thành đưa
vào sử dụng không ngừng nâng cao chất lượng cuộc sống người dân. Ba thôn với ba
chợ nhỏ cũng đã được chính quyền đầu tư xây dựng tạo điều kiện tốt cho nhu cầu mua
bán trao đổi hàng hoá.
2.2.Phương pháp nghiên cứu
2.2.1. Phương pháp chọn điểm nghiên cứu
Vấn đề đặt ra khi nghiên cứu thực trạng phát triển ngành nghề trong các hộ nông
dân trên địa bàn xã Liêm Chính- thị xã Phủ Lý- tỉnh Hà Nam là phải đánh giá một cách
khách quan đầy đủ và cụ thể các ngành nghề công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, chế
biến nông sản, kinh doanh dịch vụ mà các hộ nông dân trong xã tổ chức; như vậy bước
đầu chọn điểm nghiên cứu là việc làm rất quan trọng để từ các số liệu thu thập được qua
điều tra có thể đánh giá được vấn đề quan tâm.
Việc chọn điểm nghiên cứu được tiến hành như sau: xã Liêm Chính với ba thôn