Đánh giá hiện trạng môi trường và đề xuất giải pháp bảo vệ môi trường của công ty cổ phần giấy hoàng văn thụ - Pdf 22

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Từ viết tắt Nghĩa của cụm từ
BOD
5
Nhu cầu oxy sinh hóa
BTNMT Bộ tài nguyên môi trường
BYT Bộ y tế
CTNH Chất thải nguy hại
COD Nhu cầu oxy hóa học
NĐ-CP Nghị định – Chính phủ
QCVN Quy chuẩn Việt Nam
QĐ Quyết định
VPPA Hiệp hội giấy và bột giấy Việt Nam
TCVN Tiêu chuẩn Việt Nam
TT Thông tư
TSS Chất rắn lơ lửng
ΣN Nitơ tổng số
ΣP Photpho tổng số
DANH MỤC BẢNG
Bảng 4.1: Thống kê khối lượng chất thải rắn sản xuất
của Công ty CP giấy Hoàng Văn Thụ 42
Bảng 4.2 Kết quả, phân tích bùn thải của hệ thống xử lý nước thải 42
Bảng 4.3: Thống kê khối lượng chất thải nguy hại của Công ty CP giấy Hoàng Văn
Thụ 43
Bảng 4.4: Kết quả đo cường độ ồn tại Công ty CP giấy Hoàng Văn Thụ 44
Bảng 4.5: Tiếng ồn tại các vị trí khác nhau do máy móc của Công ty gây ra 45
Bảng 4.6 : Tổng hợp khối lượng dầu diezel phục vụ cho hoạt động vận tải 46
Bảng 4.7: Kết quả đo, phân tích môi trường không khí 47
Công ty CP giấy Hoàng Văn Thụ 47
Bảng 4.8 Kết quả phân tích khí thải ống khói lò hơi 48
Bảng 4.9: Tải lượng và nồng độ các chất ô nhiễm chính trong nước thải sinh hoạt

MỤC LỤC 4
PHẦN 1
MỞ ĐẦU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục đích và yêu cầu 3
1.2.1 Mục đích 3
1.2.2. Yêu cầu 3
1.3. Ý nghĩa của đề tài 3
1.3.1. Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học 3
1.3.2. Ý nghĩa thực tiễn 4
PHẦN 2
TỔNG QUAN VỀ TÀI LIỆU 5
2.1. Cơ sở khoa học của đề tài 5
2.1.1. Cơ sở pháp lý 5
2.1.2. Khái niệm về môi trường 6
2.1.3. Khái niệm về ô nhiễm môi trường 8
2.2. Cơ sở thực tiễn 8
2.2.1. Tình hình sản xuất và tiêu thụ giấy trên thế giới và Việt Nam 8
2.2.2 Tình hình ô nhiễm do sản xuất giấy trên thế giới và ở Việt Nam 15
2.3. Giải pháp giảm thiểu ô nhiễm cho nghành giấy nội địa 20
PHẦN 3
ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 22
3.1. Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu 22
3.1.1. Đối tượng nghiên cứu 22
3.1.2. Phạm vi nghiên cứu 22
3.2. Địa điểm thực hiện và thời gian thực hiện 22
3.3. Nội dung 22
3.3.1. Điều kiện tự nhiên và điều kiện kinh tế - xã hội của khu vực nghiên cứu 22
3.3.2. Tổng quan về công ty cổ phần giấy Hoàng Văn Thụ 22
3.3.3. Ảnh hưởng của hoạt động sản xuất và chế biến nguyên liệu giấy tới môi trường.

không khí 60
4.4.2 Một số giải pháp nhằm khắc phục, phòng ngừa, xử lý ô nhiễm môi trường nước
61
4.4.3. Một số giải pháp nhằm khắc phục, phòng ngừa, xử lý ô nhiễm trong quản lý rác
thải rắn 61
4.4.4. Một số giải pháp góp phần đẩy mạnh công tác bảo vệ môi trường, phòng ngừa ô
nhiễm, phòng tránh sự cố môi trường 62
PHẦN 5
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 64
5.1. Kết luận 64
5.2. Đề nghị 65
TÀI LIỆU THAM KHẢO 66
PHẦN 1
MỞ ĐẦU
1.1 Đặt vấn đề
Môi trường là nơi con người khai thác nguồn vật liệu và năng lượng
cần thiết cho hoạt động sống để tồn tại và phát triển. Các sản phẩm do con
người sản xuất đều bắt nguồn từ các dạng vật chất tồn tại trên trái đất và
không gian bao quanh trái đất. Tồn tại trong môi trường là nước, đất, không
khí. là những yếu tố không thể thiếu cho sự sống, sự tồn tại, phát triển của con
người và sinh vật. Tuy nhiên cùng với sự phát triển của sự sống, quá trình đô
thị hóa, công nghiệp hóa và thâm canh nông nghiệp ngày càng phát triển đã
có nhiều ảnh hưởng xấu đến các dạng tài nguyên này. Nhiều nơi môi trường
đất, nước, không khí đã bị ô nhiễm nặng gây ảnh hưởng xấu đến sức khỏe con
người, động vật, làm giảm năng xuất và chất lượng cây trồng. Hiện nay trên
thế giới đang rung hồi chuông báo động về thực trạng ô nhiễm môi trường
toàn cầu . Môi trường đã trở thành vấn đề chung của nhân loại và được toàn
thế giới quan tâm
Nằm ở khu vực Đông Nam Châu Á, Việt Nam với sự phát triển nhanh
chóng của nền kinh tế công nghiệp đã có rất nhiều công ty, nhà máy và các

suy giảm 2%. Bên cạnh các mặt tích cực đạt được, chúng ta cũng đang phải
đối mặt với nhiều vấn đề về môi trường do quá trình sản xuất công ngiệp, chế
biến nguyên liệu đã ảnh hưởng tới điều kiện sinh thái tự nhiên, gây ô nhiễm
đất, nước, không khí, Vấn đề môi trường trong quá trình sản xuất ,và chế
biến nguyên liệu phục vụ cho nhà máy đang chở nên cấp bách vì vậy việc
đánh giá hiện trạng hoạt động và tác động của nó tới môi trường là hết sức
cần thiết để từ đó làm cơ sở cho việc hình thành công nghệ ít hoặc không phế
thải nhằm bảo vệ tài nguyên, môi trường và con người, hướng tới sự phát
triển bền vững kinh tế xã hội của tỉnh Thái Nguyên nói riêng và Việt Nam nói
chung. xuất phát từ thực tế nói trên và nguyện vọng của bản thân cùng với sự
đồng ý của Ban Giám Hiệu nhà trường, Ban chủ nhiệm khoa Môi Trường,
dưới sự hướng dẫn trực tiếp của Giảng Viên : Ths. Hà Đình Nghiêm, em tiến
hành nghiên cứu đề tài: “Đánh giá hiện trạng môi trường và đề xuất giải
pháp bảo vệ môi trường của công ty cổ phần giấy Hoàng Văn Thụ”.
2
1.2 Mục đích và yêu cầu
1.2.1 Mục đích
- Đánh giá được thực trạng sản xuất của công ty cổ phần giấy Hoàng
Văn Thụ
- Xác định ảnh hưởng của hoạt động sản xuất giấy tới môi trường khu
vực xung quanh
- Đề xuất các biện pháp quản lí cho đơn vị tổ chức chế biến và sản xuất,
nhằm giảm thiểu hạn chế tối đa các hoạt động do sản xuất công nghiệp tới
môi trường và con người.
- Tăng cường công tác quản lí môi trường trong hoạt động sản xuất và
chế biến nguyên liệu tại khu vực.
1.2.2. Yêu cầu
- Các mẫu đất và mẫu nước phải được lấy trong khu vực chịu tác động
của hoạt động chế biến và sản xuất tại địa bàn nghiên cứu.
- Đánh giá đầy đủ, đúng đắn hiện trạng sản xuất, chế biến và tác động

- Nâng cao nhận thức, tuyên truyền giáo dục về bảo vệ môi trường cho
mọi công nhân viên của công ty và người dân xung quanh khu vực nhà máy
- Biết được thực trạng các vấn đề về môi trường của nhà máy để từ đó
đề xuất ra các biện pháp ngăn ngừa, giảm thiểu ô nhiễm, phục vụ cho công tác
bảo vệ môi trường của nhà máy.
- Đưa ra cái nhìn tổng quan để góp phần nâng cao trách nhiệm của ban
lãnh đạo công ty cũng như các phòng ban trước hoạt động sản xuất gây tác
động ô nhiễm, từ đó có những hoạt động tích cực trong công tác bảo vệ môi trường
4
PHẦN 2
TỔNG QUAN VỀ TÀI LIỆU
2.1. Cơ sở khoa học của đề tài
2.1.1. Cơ sở pháp lý
- Luật bảo vệ Môi trường Việt Nam năm 2005 được Quốc hội nước
Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá XI kỳ họp thứ 8 thông qua ngày
29/11/2005 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01/07/2006;
- Luật Đa dạng sinh học số 20/2008/QH12 ngày 13/11/2008
- Luật Tài nguyên nước số 17/2012/QH13 ngày 21/6/2012
- Nghị định số 149/2004/NĐ-CP ngày 27/7/2004 của Chính phủ quy
định việc cấp phép thăm dò, khai thác, sử dụng tài nguyên nước, xả nước thải
vào nguồn nước
- Nghị định số 80/2006/NĐ-CP ngày 09/8/2006 của Chính phủ về việc quy
định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Bảo vệ môi trường
- Nghị định 108/2008/NĐ-CP của Chính phủ về việc hướng dẫn thi hành
luật hoá chất;
- Nghị định 59/2007/NĐ-CP ngày 09/4/2007 của chính phủ về quản lý
chất thải rắn;
- Thông tư số 12/2011/TT-BTNMT ngày 14/4/2011 của Bộ Tài nguyên
và Môi trường Quy định về Quản lý chất thải nguy hại.
- Quyết định 256/2003/QĐ-TTg ngày 02/12/2003 của Thủ tướng Chính

công nghiệp;
+ QCVN 26:2010/BTNMT – Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về tiếng ồn;
+ QCVN 27:2010/BTNMT – Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về độ rung;
+ Quyết định Số: 3733/2002/QĐ-BYT về việc ban hành 21 tiêu chuẩn
vệ sinh lao động, 05 nguyên tắc và 07 thông số vệ sinh lao động.
+ QCVN 12:2008/BTNMT – Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về nước thải
công nghiệp giấy và bột giấy
2.1.2. Khái niệm về môi trường
“Môi trường” là một khái niệm rất rộng, được định nghĩa theo nhiều
cách khác nhau, đã được thảo luận rất nhiều và từ lâu. Nhìn chung có
những quan niệm về môi trường như sau:
- Môi trường bao gồm các vật chất hữu cơ và vô cơ quanh sinh vật.
Theo định nghĩa này thì không thể nào xác định được môi trường một
6
cách cụ thể, vì mỗi cá thể, mỗi loài, mỗi chi vẫn có một môi trường và một
quần thể, một quần xã lại có một môi trường rộng lớn hơn.
- Môi trường là những gì cần thiết cho điều kiện sinh tồn của sinh vật.
Theo định nghĩa này thì rất hẹp, bởi vì trong thực tế có yếu tố này là cần thiết
cho loài này nhưng không cần thiết cho loài kia dù cùng sống chung
một nơi, hơn nữa cũng có những yếu tố có hại hoặc không có lợi vẫn tồn tại
và tác động lên cơ thể và ta không thể loại trừ nó ra khỏi môi trường tự nhiên.
- Môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và yếu tố vật chất nhân tạo
có quan hệ mật thiết với nhau, bao quanh con người, có ảnh hưởng tới đời
sống, sản xuất, sự tồn tại, phát triển của con người và thiên nhiên
(Luật Bảo Vệ Môi Trường của Việt Nam, 1993)[1]
- Môi trường là một phần của ngoại cảnh, bao gồm các hiện tượng và
các thực thể của tự nhiên mà ở đó, cá thể, quần thể, loài có quan hệ trực
tiếp hoặc gián tiếp bằng các phản ứng thích nghi của mình. Từ định nghĩa này
ta có thể phân biệt được đâu là môi trường của loài này mà không phải là môi
trường của loài khác. Chẳng hạn như mặt biển là môi trường của sinh vật

không có đô thị, hầm mỏ, nhà máy, ô tô Từ khi con người xuất hiện, quá
trình sinh hoạt và sản xuất của con người đã gây nên ô nhiễm môi trường.
Ngày nay, thuật ngữ ô nhiễm được sử dụng rất nhiều để diễn tả các
hành động phá hoại môi trường tự nhiên.
Ô nhiễm môi trường là hiện tượng môi trường tự nhiên bị bẩn, đồng
thời các tính chất vật lí, hóa học, sinh học của môi trường bị thay đổi, gây tác
hại tới đời sống của con người và các sinh vật khác.
Theo khoản 6 điều 3 Luật Bảo Vệ Môi trương Việt Nam 2005: “Ô
nhiễm môi trường là sự biến đổi của thành phần môi trường không phù hợp
với tiêu chuẩn môi trường, gây ảnh hưởng xấu đến con người, sinh vật”.
2.2. Cơ sở thực tiễn
2.2.1. Tình hình sản xuất và tiêu thụ giấy trên thế giới và Việt Nam
2.2.1.1. Tình hình sản xuất và tiêu thụ giấy trên thế giới
Hiện nay dân số thế giời khoảng hơn 7 tỷ người; mức tiêu thụ giấy bình
quân là 42,6 kg/ người, đứng đầu là Phần lan : 317,5 kg/người; Hoa Kỳ: 303,9
kg/người; Hà Lan: 302,5 kg/người; Thuỵ Điển: 289,1 kg/ người; Nhật : 267
kg/ người. Nước tiêu thụ Ýt nhất là Tago và Mali 0,5 kg/ người (Nguyễn
Trung Tấn, 2012) [20]
8
Sản lượng giấy carton: 233,2 tr tấn/ năm.
Trong đó : giấy in báo là 42 tr tấn. Giấy in viết là 73 tr tấn caston là
67,6 tr tấn.
Quốc gia sản xuất giấy nhiều nhất là 49,5 tr tấn/ năm; ; Trung Quốc
19,5tr tấn/ năm.
Trong những năm trở lại đây, mức tăng trưởng trung bình của toàn
ngành đạt 4%/ năm( riêng khu vực Châu Á Thái Bình Dương đạt 7%/ năm).
theo dự toán của các nhà nghiên cứu từ nay đến năm 2019, mức tăng trưởng
của thế giới sẽ đạt 3,7 %/ năm về mức tiêu thụ và mức tiêu thụ trung bình sẽ
đạt 45 kg/ người/ năm với sự phân bố:
 Bắc Mỹ: 294 kg/người / năm

giấy, carton và bột giấy để sản xuất. (Nguyễn Trung Tấn, 2012) [20]
2.2.1.2.Tình hình sản xuất và tiêu thụ giấy ở Việt Nam
Ngành giấy là một trong những ngành được hình thành từ rất sớm tại
Việt Nam, khoảng năm 284. Từ giai đoạn này đến đầu thế kỷ 20, giấy được
làm bằng phương pháp thủ công để phục vụ cho việc ghi chép, làm tranh dân
gian, vàng mã…
Năm 1912, nhà máy sản xuất bột giấy đầu tiên bằng phương pháp công
nghiệp đi vào hoạt động với công suất 4.000 tấn giấy/năm tại Việt Trì. Trong
thập niên 1960, nhiều nhà máy giấy được đầu tư xây dựng nhưng hầu hết đều
có công suất nhỏ (dưới 20.000tấn/năm) như Nhà máy giấy Việt Trì; Nhà máy
bột giấy Vạn Điểm; Nhà máy giấy Đồng Nai; Nhà máy giấy Tân Mai v.v.
Năm 1975, tổng công suất thiết kế của ngành giấy Việt Nam là 72.000
tấn/năm nhưng do ảnh hưởng của chiến tranh và mất cân đối giữa sản lượng
bột giấy và giấy nên sản lượng thực tế chỉ đạt 28.000 tấn/năm. (Công ty
Chứng Khoán Habubank, 2013) [11]
Năm 1982, Nhà máy giấy Bãi Bằng do Chính phủ Thụy Điển tài trợ đã
đi vào sản xuất với công suất thiết kế là 53.000 tấn bột giấy/năm và 55.000
tấn giấy/năm, dây chuyền sản xuất khép kín, sử dụng công nghệ cơ-lý và tự
động hóa. Nhà máy cũng xây dựng được vùng nguyên liệu, cơ sở hạ tầng, cơ
sở phụ trợ như điện, hóa chất và trường đào tạo nghề phục vụ cho hoạt động
sản xuất. Ngành giấy có những bước phát triển vượt bậc, sản lượng giấy tăng
trung bình 11%/năm trong giai đoạn 2000 – 2006; tuy nhiên, nguồn cung như
vậy vẫn chỉ đáp ứng được gần 64% nhu cầu tiêu dùng (năm 2012) phần còn
lại vẫn phải nhập khẩu. Mặc dù đã có sự tăng trưởng đáng kể tuy nhiên, tới
10
nay đóng góp của ngành trong tổng giá trị sản xuất quốc gia vẫn rất nhỏ.
(Công ty Chứng Khoán Habubank, 2013) [11]
Cuối năm 2012, toàn ngành có trên 239 nhà máy với tổng công suất đạt 1,38
triệu tấn/năm; 66 nhà máy sản xuất bột giấy, tổng công suất 600.000 tấn/năm.
Hiện nay Việt Nam có khoảng gần 500 doanh nghiệp giấy tuy nhiên đa

bì; 43,3 nghìn tấn giấy tissue; 210 nghìn tấn giấy vàng mã.
Năm 2011 tổng tiêu thụ 2,599 triệu tấn giấy, bao gồm: 57,8 nghìn tấn
giấy in báo; 515 nghìn tấn giấy viết và in; 1.730 nghìn tấn giấy bao bì; 76,1
nghìn tấn giấy tissue và 220 nghìn tấn giấy vàng mã.
Năm 2012, tổng lượng tiêu dùng giấy đã lên 2,9 triệu tấn, bao gồm 70
nghìn tấn giấy in báo; 595 nghìn tấn giấy viết và in; 1.975 nghìn tấn giấy bao
bì; 83,1 nghìn tấn giấy tissue, riêng tiêu dùng giấy vàng mã sụt giảm chỉ còn
190 nghìn tấn – thấp hơn cả năm 2009.
Năm 2013 tổng lượng tiêu thụ 3.1 triệu tấn bao gồm 92 nghìn tấn giấy
in báo ; 650 nghìn tấn giấy viết và in ; 2140 nghìn tấn giấy bao bì ; 90,5 nghìn
tân giấy tissue và 200 nghìn tấn giấy vàng mã
Tổng thư ký VPPA cho biết, xuất khẩu giấy và các sản phẩm từ giấy
của Việt Nam đã có mặt ở thị trường 18 nước trên thế giới (thị phần nhiều
nhất là vào các thị trường Mỹ, Đài Loan, Nhật Bản…), với kim ngạch năm
2012 đạt 425 triệu USD. Tuy vậy, kim ngạch xuất khẩu giấy hiện chỉ bằng 1/3
so với kim ngạch nhập khẩu mặt hàng này. Năm 2012, cả nước đã nhập khẩu
1,216 triệu tấn giấy các loại với trị giá 1,164 triệu USD, nguồn nhập nhiều từ
Trung Hoa và Indonesia) (Công ty cổ phần giấy Sài Gòn, 2012) [12]
Năng lực sản xuất bột giấy của Việt Nam cũng tăng rất nhanh. Sản
lượng bột giấy sản xuất trong nước năm 2010 đạt 345,9 nghìn tấn; năm 2011
đạt 373,4 nghìn tấn. Năm 2012, sản lượng bột giấy nước ta thiết lập mức tăng
trưởng khủng, cao hơn 30% so với năm 2011, đạt tới 484,3 nghìn tấn.
Tuy nhiên, với khối lượng này còn xa mới đáp ứng được nhu cầu cho
ngành sản xuất giấy, bởi vậy hàng năm nước ta vẫn còn phải nhập khẩu lượng bột
giấy và các sản phẩm giấy với lượng gần tương đương sản lượng trong nước.
Với tài nguyên rừng trù phú có thể phát triển các vùng nguyên liệu
phục vụ công nghiệp giấy, nhưng lợi thế này đến nay vẫn chưa được phát
triển hiệu quả. Dăm gỗ bạch đàn và gỗ keo lai, một dạng nguyên liệu thô
trong ngành giấy, thế nhưng loại nguyên này gần như được xuất khẩu hết ra
nước ngoài, với lượng xuất khẩu tăng gần 10 lần trong 10 năm qua. Năm

Nhiều năm qua, nước ta vẫn phải nhập hơn 1 triệu tấn bột giấy/năm với
giá 900 - 1.000 USD/tấn, trong khi đó Việt Nam liên tục đứng đầu thế giới về
xuất khẩu dăm gỗ. Riêng năm 2012, xuất khẩu 6 triệu tấn dăm gỗ (tương
13
đương 2,7 triệu tấn bột giấy), với giá 110- 120 USD/tấn. Thực trạng “xuất
thô, nhập tinh” này đã khiến giá trị kim ngạch thu về cho đất nước từ xuất
dăm gỗ chỉ đạt khoảng 300 triệu USD/năm, còn số tiền phải chi ra để nhập
khẩu bột giấy lên tới hàng tỷ USD/năm.
Các DN trong nước muốn cạnh tranh phải nhanh chóng đẩy mạnh đầu tư
vào dây chuyền sản xuất, đổi mới công nghệ, tiết giảm chi phí và nâng cao
chất lượng sản phẩm; xây dựng vùng nguyên liệu ổn định dưới hình thức ký
hợp đồng bao tiêu sản phẩm với người trồng rừng. Tuy nhiên, với khả năng
tài chính của phần lớn các DN hiện nay, việc huy động được vốn đề đầu tư
máy móc, thiết bị vào ngành bột giấy không phải đơn giản.Bên cạnh khó khăn
về tài chính, những DN sản xuất giấy từ phế liệu đang gặp nhiều bất cập như
không có hóa đơn, chứng từ để chứng minh đầu vào, nhưng khi xuất hóa đơn
đầu ra vẫn phải chịu thuế 10%, trong khi ở nhiều nước khác, tái chế các sản
phẩm từ giấy không phải chịu thuế.Nhiều DN giấy đang có nguy cơ đứng trên
bờ vực phá sản, nhất là năm 2015 ngày càng tới gần, Cộng đồng Kinh tế
ASEAN sẽ được thành lập, mặt hàng giấy từ các nước trong khu vực sẽ tràn
vào Việt Nam với mức thuế 0%. Nếu không nhanh chóng tìm giải pháp thì
giấy Việt Nam khó đứng vững ngay trên sân nhà chứ đừng nói chuyện lấn
sang “sân khách”. Để cạnh tranh, các doanh nghiệp trong nước buộc phải
nhanh chân hơn, tăng cường đầu tư vào dây chuyền sản xuất, tiết giảm chi phí
và nâng cao chất lượng sản phẩm (Trần Mạnh Hùng, 2013) [14]
Các chuyên gia nhận định, mặc dù năng lực sản xuất giấy tăng lên,
nhưng năm 2014 sẽ gặp khó khăn ở đầu ra. Theo VPPA, suy thoái kinh tế vẫn
đang ảnh hưởng lớn tới tỷ lệ tồn kho của ngành giấy. Số liệu thống kê mới
nhất từ Bộ Công thương, sau 2 tháng đầu năm nay, lượng giấy tồn kho đã
tăng 33,7% so với cùng kỳ năm 2013. VPPA nhận định rằng : “Do lượng tiêu

Bột giấy và nhà máy giấy gây ô nhiễm nước, không khí và đất. Giấy và
bột giấy công nghiệp là một trong những ngành công nghiệp lớn nhất và gây ô
nhiễm nhất trên thế giới; nó là ngành công nghiệp gây ô nhiễm nhất thứ ba ở
Bắc Mỹ.
Có khoảng 500 nhà máy kraft (trong đó có khoảng 45 ở Canada và 100
ở Mỹ), và hàng ngàn loại khác của các nhà máy giấy và bột giấy, trên thế
giới. Mối quan tâm chính bao gồm việc sử dụng các chất tẩy clo và dựa trên
lượng khí thải độc hại kết quả với không khí, nước và đất. Với dự báo tăng
15
trưởng toàn cầu hàng năm 2,5%, ngành công nghiệp, và các tác động tiêu cực
của nó, có thể tăng gấp đôi mỗi 28 năm.(Bách khoa toàn thư tự do của người
Việt) [3]
Mọi người cần sản phẩm giấy và chúng ta cần, sản xuất an toàn với môi
trường bền vững.
Năm 2008, tổng số nước thải nhà máy thải ra từ các nhà máy bột giấy
tẩy trắng Canada trung bình 137 mét khối mỗi tấn hoặc 104.000 m3/ngày đêm
(từ 25.300 đến 311.100 m3/ngày) là tương đương với dòng chảy của sông St
Lawrence ở Cornwall, Ontario hoặc của sông Columbia ở British
Columbia. Tổng khối lượng nước thải nhà máy phụ thuộc vào lớp và số lượng
bột giấy được sản xuất.
British Columbia, hơn nữa minh họa tải chất gây ô nhiễm có thẩm quyền
từ nguồn điểm, bao gồm cả khí thải vào không khí, nước thải lỏng, và thải
chất thải rắn. (Số liệu từ Bộ Môi trường, Đất đai và cơ sở dữ liệu lệ phí quản
lý chất thải Park, Tháng Mười Một, 2000.) 20 ~ 23 nhà máy giấy và bột giấy
trên địa bàn tỉnh rõ ràng đóng góp đáng kể để tải ô nhiễm môi trường.
(Bách khoa toàn thư tự do của người Việt) [3]
Theo một tổ chức công dân Canada, "Mọi người cần sản phẩm giấy và
chúng ta cần, sản xuất an toàn với môi trường bền vững." Số lượng giấy và
sản phẩm giấy là rất lớn, do đó, các tác động môi trường cũng rất quan
trọng. Nó đã được ước tính đến năm 2020 nhà máy giấy sẽ sản xuất gần

80% như Công ty Giấy Bãi Bằng, còn lại hầu hết các cơ sở khu vực II (công
nghiệp địa phương), khu vực III (kinh tế tư nhân) đều không có hệ thống xử
lý nước thải. Việc xử lý khí thải trong sản xuất giấy và bột giấy cũng chưa
được chú ý và giải quyết thoả đáng. Khí có mùi trong sản xuất chưa được
khắc phục. Khí thải từ ống khói lò hơi đốt than và đốt dầu, do không được
trang bị hệ thống lọc bụi tĩnh điện(trừ Công ty Giấy Bãi Bằng) nên nồng độ
bụi trong khí thải là rất cao. (Trần Hồng Phượng, 2007) [18]
Phong Khê : có gần 200 cơ sở sản xuất giấy, mỗi năm cung cấp cho thị
trường gần 200 nghìn tấn. Một ngày, lượng giấy sản xuất ra ở đây không dưới
500 tấn.
Theo các hộ sản xuất, để cho ra được một tấn giấy thành phẩm cần phải
sử dụng khoảng 5 đến 6 tạ than. Như vậy, lượng than và củi các cơ sở sản
xuất giấy ở đây dùng để “hun” làng mỗi ngày lên tới 400 đến 500 tấn.
17
Những ống khói đen ngòm mọc lên xả thẳng vào bầu không khí chung
giữa khu dân cư với hàng nhìn hộ dân. Cả làng luôn thường trực một mùi khói
khét lẹt và mùi hóa chất nồng nồng từ các cống nước thải. Bụi than cuốn tung
mỗi dịp có xe cộ chạy qua. Làng Phú Lâm ngay bên canh Phong Khê cũng có
ngót 20 dây chuyền hoạt động và cũng chung tình trạng ô nhiễm từ hơn chục
năm nay.
Tất cả các dây chuyền tại đây đều là tái sản xuất giấy phế liệu. Đầu
làng cuối xóm ngổn ngang than, củi và giấy bẩn từ khắp nơi theo ô tô chuyển
về tập kết. Khắp nơi là rác. Dọc tuyến đê con sông Ngũ Huyện Khê là nơi lí
tưởng để các hộ sản xuất thải loại các phế liệu sản xuất. Lớn nhất là bãi rác
nằm giáp ranh giữa hai xã Phong Khê và Phú Lâm.
Các loại rác, túi ni-lông, thải ra thành từng gò cao tới vài mét trên một
diện tích hàng nghìn mét vuông. Biện pháp duy nhất xử lí đối với những loại
rác này là đốt. Chúng cứ âm ỉ cháy suốt ngày đêm hàng chục năm qua, mang
khói bụi và mùi xú uế bay vào làng.
Ấy vậy mà vẫn không hết rác. Rác cứ cao lên từng ngày, ngập cả con

giấy đế gây ô nhiễm môi trường, làm cuộc sống của người dân bị đảo lộn.
Công ty cổ phần Lâm sản Bắc Kạn nằm lọt thỏm giữa khu dân cư tổ
1B, sau thời gian dài ngừng hoạt động, từ tháng 7-2013 đến nay sản xuất giấy
đế trở lại, gây ô nhiễm môi trường trầm trọng. Ông Lê Quang Ðàn từng có
nhiều năm làm việc tại công ty, nay về hưu sinh sống cạnh doanh nghiệp này
cho biết: "Sản xuất giấy đế sử dụng nhiều loại hóa chất, nước thải trong quá
trình sản xuất phải được thu gom vào bể chứa để xử lý, sau đó chảy vào bể
lắng lọc rồi mới thải ra môi trường. Do công ty đã ngừng hoạt động trong thời
gian dài, các công trình xử lý chất thải đã hư hỏng hết, công ty lại không đầu
tư cho việc xử lý nước thải làm cho mùi xú uế độc hại, khó chịu phát tán ra
chung quanh".
Bà con trong tổ 1B phải sống trong tình trạng ô nhiễm khó chịu, khổ
nhất là trẻ em, người già, phụ nữ mang thai, nhiều người phải đeo khẩu trang,
đi ngủ phải trùm chăn kín đầu". Không những gây ô nhiễm môi trường chung
quanh, việc Công ty cổ phần Lâm sản Bắc Cạn sản xuất giấy còn gây tiếng ồn
lớn ảnh hưởng đến sức khỏe của nhân dân chung quanh, xả thẳng nước thải có
hóa chất không qua xử lý bằng đường ống dẫn ra sông Cầu, làm cho nửa dòng
sông nhuộm mầu đục nhờ nhờ. Nhân dân các thôn Bản Vẻn, Tổng Nẻng
19
thuộc xã Mỹ Thanh (huyện Bạch Thông) ở phía dưới sử dụng nước sông Cầu
sinh hoạt, tắm giặt, tưới rau bị ô nhiễm hóa chất, nhiều trẻ nhỏ tắm ở sông
Cầu bị bệnh ngoài da, ngứa.(Văn phòng Tổng cục môi trường ,2009) [19]
Tình hình ô nhiễm do sản xuất giấy ở nước ta đang rất đáng được lưu tâm
2.2.2.3 Tình hình ô nhiễm do sản xuất giấy ở Thái Nguyên
Những năm trước Công ty cổ phần giấy Hoàng Văn Thụ nổi cộm tình
trạng xả thải, gây ô nhiễm môi rường. Phần lớn nước thải của nhà máy vẫn
được thải ra sông Cầu mà không qua xử lý, gây ô nhiễm môi trường nước
nghiêm trọng. Từng dòng bột trắng theo đòng nước chảy ra ven sông kết
thành những bè lớn nhỏ bốc mùi và huỷ hoại môi trường nước
Nhà máy giấy Hoàng Văn Thụ và Công ty cổ phần giấy xuất khẩu Thái


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status