nước đại việt thời lê sơ – một vài đặc điểm căn bản của nền tảng chính trị, kinh tế, văn hóa – xã hội (pgs.tskh nguyễn hải kế - Pdf 22

NƯỚC ĐẠI VIỆT THỜI LÊ SƠ –
MỘT VÀI ĐẶC ĐIỂM CĂN BẢN CỦA NỀN TẢNG CHÍNH TRỊ, KINH TẾ, VĂN HÓA
– XÃ HỘI

PGS. TSKH. Nguyễn Hải Kế

I) BỐI CẢNH CHUNG
Sau ngày “Bình Ngô đại cáo”, kỉ nguyên mới của nước Đại Việt bắt đầu. Sử
gọi 100 năm giai đoạn từ sau 1428 trở đi đến năm 1527 là thời Lê sơ. có thể
chia thời Lê sơ thành 3 giai đoạn:
Giai đoạn thứ nhất : 1428 – 1459, với 4 triều vua: Lê Thái Tổ (1428 – 1433),
Lê Thái Tông (1434 – 1442), Lê Nhân Tông (1453 - 1459), Lê Nghi Dân
(1459).
Lê Lợi – Thủ lĩnh tối cao của nghĩa quân Lam Sơn cũng là vị vua đầu tiên mở
đầu triều đại Lê Sơ đã nhanh chóng triển khai công việc quản lý đất nước
thời hậu chiến, khắc phục hậu quả chiến tranh.
Năm 1433, Lê Thái Tổ mất. Thái tử Nguyên Long lên nối ngôi (vua Lê Thái
Tông). Đại Tư đồ Lê Sát, Tư khấu đô Tổng quản Lê Ngân phụ chính. Với thời
gian, lần lượt Lê Sát rồi Lê Ngân đều “mắc tội chuyên quyền” “làm trái đạo”…
rồi bị tội chết. Lê Thái Tông trực tiếp nắm quyền.
Năm 1442, Lê Thái Tông mất, Thái Tử Bang Cơ mới 2 tuổi lên ngôi (Vua Lê
Nhân Tông). Tuyên từ Thái hậu Nguyễn Thị Anh nhiếp chính. Triều đình Lê
tiếp tục cảnh lục đục, rối loạn. Nhiều công thần bị giết. Đám quan triều tham
ô, hối lộ… 11 năm sau (1453), Nhân Tông nắm quyền lực, cố gắng vãn hồi
tình hình thì lại xảy ra cuộc chính biến năm 1459 do Lê Nghi Dân cầm đầu.
Mẹ con vua Lê Nhân Tông bị giết. Lê Nghi Dân tự lập làm vua. Tám tháng sau,
Nguyễn Xí, Đinh Liệt… các công thần, tướng lĩnh thời Lam Sơn nổi binh phế
truất Nghi Dân, đưa hoàng đế Lê Tư Thành 14 tuổi lên ngôi.
Giai đoạn thứ hai: Từ khi Lê Tư Thành lên ngôi (tức Lê Thánh Tông: 1460 –
1497) rồi Lê Hiến Tông (1498 – 1504).
Triều Lê Thái Tông liên tục tiến hành hàng loạt công việc cải tổ, củng cố bộ

Triều Lê sơ được thành lập lại hoàn toàn khác. Đó là kết quả của công cuộc
kháng chiến cứu quốc lâu dài, gian khổ suốt 10 năm (1417 – 1427) và có tính
nhân dân sâu rộng nhất từ năm 938 đến lúc này. Gọi là nhà nước mới, triều
đại mới bắt đầu nhưng triều Lê sơ năm 1428, là thành quả của phong trào
đấu tranh giải phóng dân tộc sâu rộng 20 năm mà trức tiếp là khởi nghĩa
Lam Sơn. Nhà nước đó là sự tiếp tục tự nhiên, là bước phát triển mới của bộ
chỉ huy khởi nghĩa Lam Sơn.
Trong con mắt đương thời cũng như hậu thế, triều đại Lê sơ “chính danh”
hơn, vẻ vang hơn. Không chỉ thời Lê sơ mà cả nhà Lê nói chung, hào quanh
của cuộc kháng chiến chống Minh lâu dài, anh dũng vẻ vang của dân tộc vẫn
luôn luôn bao trùm, lấp lánh trên triều đình này.
Ý thức về độc lập, về toàn vẹn núi sông, từ lâu đã hình thành tiềm tàng trong
nhận thức của các chính quyền nhà nước Việt thời tự chủ. Qua 20 năm bị giặc
Minh đô hộ, áp bức, đồng hóa non sông Đại Việt được giành lại bằng bao
nhiêu hi sinh xương máu của các thế hệ, nên ý thức đó càng trở nên rất rõ, cụ
thể và sinh động đối với thể hệ mở nước. Đó là lí do đầu tiên, căn bản khiến
Lê Lợi – Lê Thái Tổ ngay từ đầu, kiên quyết và trực tiếp dẹp mọi cuộc phiến
loạn ở vùng biên giới – mà theo ông làm mất đi sự toàn vẹn của lãnh thổ
quốc gia. Hành động và tuyên cáo bằng thơ: “Biên phòng hảo vị trù phương
lược, xã tắc ưng tu kế cửu an” của Lê Thái Tổ, đâu chỉ khắc trên đá núi miền
biên cương Tây Bắc năm 1431 mà đã trao truyền và khảm sâu vào nhận thức
tình cảm và lí trí của các thế hệ kế tiếp.
40 năm sau, khi Lê Thánh Tông viết: “Một thước núi, một tấc sông của chúng
ta lẽ nào lại tự tiện vứt bỏ đi được… Nếu ngươi dám đem một thước núi, một
tấc đất đai của Thái Tổ để làm mồi cho giặc, ngươi sẽ bị tri di”[1] thì lời dụ
ấy, tinh thần ấy hẳn đâu phải chỉ là dụ riêng cho Thái bảo Lê Cảnh Huy khi đi
bàn về vấn đề biên giới mà là tuyên bố với trăm quan, thiên hạ.
Nhận thức như thế sẽ hiểu động lực nào trở thành thường trực, căn bản
khiến Lê Thành Tông kiên quyết, cứng rắn, trực tiếp đánh dẹp những cuộc nổi
loạn, gây rối, ảnh hưởng, xâm hại đến lãnh thổ quốc gia hoặc tuần thú những

cai trị đất nước trong điều kiện, hoàn cảnh mới, đòi hỏi mới, tâm thế mới…
lần lần được tăng cường, bổ sung, điều chỉnh, trong suốt thời Lê sơ. Bối cảnh
đó lại làm nổi bật một thực tế - đúng hơn là một đặc điểm khác là:

3. Các tướng lĩnh, công thần của cuộc kháng chiến chống Minh có vị trí đặc
biệt quan trong nửa đầu thế kỷ XV

Sau cuộc kháng chiến thắng lợi, hầu hết những người này tham gia và bộ
máy nhà nước từ cấp cao nhất (vua) đến các cấp chính quyền từ trung ương
đến địa phương, thuộc các lĩnh vực, cấp độ khác nhau.
Bộ chỉ huy nghĩa quan Lam Sơn được hình thành từ quá trình tổ chức và lãnh
đạo cuộc khởi nghĩa, vùa kháng chiến vừa xây dựng chính quyền, quản lý các
vùng giải phóng, đã từng bước vươn lên đảm nhiệm chức năng của chính
quyền nhà nước độc lập, tự chủ. Đó là đội ngũ dạn dày kinh nghiệm, quen thử
thách ác liệt,đã hiến dâng tuổi xuân, sức lực của bản thân cho kháng chiến
cứu nước. Nói cách khác, chính quyền mới, triều đại Lê sơ được lập nên chính
từ máu xương của cả dân tộc, của cả thế hệ này.
Thế hệ công thần khai quốc bấy giờ lại tiếp tục là chỗ dựa vững chắc của
triều đình nhà Lê suốt gần nửa thế kỷ sau. Năm 1459, mang mối hận bị truất
ngôi Thái tử, Lạng Sơn Vương, Lê Nghi Dân đang đêm cho người vào cung
cấm giết Lê Nhân Tông và Hoàng Thái hậu Nguyễn Thị Anh, rồi tự lập làm
vua. Tám tháng sau, chính các bậc đại thần – những người từng vào sinh ra
tử trong cuộc kháng chiến chống Minh như Nguyễn Xí, Đinh Liệt, Lê lăng, Lê
Niệm… đã xướng nghĩa, phế truất Nghi Dân đưa Lê Tư Thành lên ngôi vua.
Không ít trong số họ đã dành cả phần đời còn lại để tiếp tục xây dựng và bảo
vệ chính quyền như: Khi về gia Đinh Liệt còn trực tiếp làm “Chinh lỗ tướng
quân” đi phương Nam. Có thể nói là họ không chỉ khai sinh ra nhà nước Lê sơ
mà còn gắn bó thân phận với chính quyền này.
So với các triều đình Việt Nam tự chủ trước đó, khó có triều đình nào lại có
đội ngũ công thân khai quốc mang đầy chiến công, chiến tích và đông đảo

trong triều ngoài quận hết sức tin tưởng…”
[3]

Nhưng rất không ít công thần ngay sau ngày về tiếp quản kinh đô, có chức
cao lộc lớn, lại nảy sinh tư tưởng xả hơi, ỷ lại, dựa thế, tự tung tự tác. Ngay
năm 1429, khi cho văn võ đại thần nghị bàn công việc lớn của nhà nước, Lê
Thái Tổ đã chỉ rằng: “Không có ai chịu hết lòng với việc nước, chỉ ham nghĩ
phú quý mà thôi”. Nhiều đại thần ở các sảnh viện vừa bê trễ công việc vừa
đua nhau huy động sức lính, của dân để xây dựng lâu đài, dinh thự cho mình.
Hãy nghe cách nhìn nhận đánh giá một số các bậc đại thần đó qua một vài
đại biểu đương thời:
Nguyễn Trãi nói: “Bọn các người là hạng bề tôi vơ vét”.
Cao Sư Đăng – chỉ là người thợ bình thường ở cục Tả ban tất tác đang làm
chùa Báo Thiên: “Thiên tử không có đức… đại thần ăn của đút, cử dùng kẻ vô
công”.
Bản thân Lê Thánh Tông cũng có dịp nhận xét về đám quan này như sau:
“Khoảng năm Thái Hòa, Diên Ninh – thời Lê Thái Tông, Nhân Tông, trên thì tể
tướng, dưới thì trăm quan mua lợi lẫn nhau, bừa bãi hối lộ”.
Còn với sử gia thời Lê Thánh Tông đánh giá Thái phó Lê Văn Linh là: “Có mưu
trí, tài cán, biết sự việc. Khi ở triều đình có nhiều kiến nghị sáng suốt”.
“Nhưng phải cái là tham của, ăn hối lộ”, “ham mê tiền của, cho người làm
quan để nhận hối lộ riêng…”.
Mặt quan trọng hơn chính là khả năng của họ không đáp ứng được với
nhiệm vụ mà họ đảm đương trong triều đình, tài không xứng với chức. Khi
không bị kìm chế “kiểm duyệt” bởi chính quyền tước đó, tác giả bài Trung
hứng ký viết sau cơn loạn 1459, có dịp khách quan hơn, nhìn lại đội ngũ quan
trong triều, trong đó “Tể thần Lê Khuyến, Lê Sát thì dốt đặc. Chưởng binh như
Lê Diên, Lê Luyện thì mù tịt, phường dốt đặc như ong nổi dậy, kẻ xiểm nịnh
được nghe theo”.
Trong bối cảnh như vậy thì trừ Lê Thái Tổ, suốt một phần tư thế kỷ sau (1433

làm quan. làm lại nhưng bất cập về năng lực điều hành, giải quyết những
nhiệm vụ nảy sinh từ tình hình mới đặt ra. Có như vậy, mới thấy vì sao các
vua Lê Thái Tổ, Lê Thái Tông lại thường xuyên nhắc lại điệp khúc “cầu hiền,
tiến cử người hiền tài”.
Năm 1428, tháng 6 ra lệnh chỉ: “Cho các đại thần cà các quan văn võ đều tiến
cử người hiền lương, phương chính. Nếu tiến cử được người tài giỏi thì bản
thân được tăng lương theo lệ tiến cử hiền thần”.

Năm 1429, ra lệnh chỉ: “Những văn võ hào kiệt nào còn bị bỏ sót hoặc bị chìm
đắm chưa có chức tước gì, không được ai tiến cử hoặc vì thù hằn mà bị đè
nén, vùi dập thì đến ngay chỗ Thiếu phó Lê Văn Linh mà từ tiến”.

Tháng 9, hạ lệnh: “Các đại thần văn võ, công hầu đại phu từ tam phẩm trở lên
phải tiến cử lấy một người hiền tài, vì trẫm chưa tìm kiếm được người hiền
tài giúp đỡ trị nước”.
Năm 1434, tháng 4, ra lệnh chỉ hỏi triều thần: “Đã lâu rồi mà chớ có ai theo
lệnh tiến cử một người hiền nào để đáp lại lòng trẫm là cớ làm sao? Hãy tiến
cử lấy một vài người giúp trẫm lo việc trị nước”.
Dẫu bị vua hơn một lần nhắc nhở, thúc giục rồi mới thực hiện nhưng người
được tiến cử lại qua thẩm định, qua “gu” của chính các đại thần này nên tình
hình cũng chẳng sáng sủa hơn. Chính Thái hậu, nhân danh Lê Thái Tông,
cũng sớm nhận ra: “Những người mà các ngươi tiến cử, những lời mà các
ngươi tâu lên chả lẽ ta không biết hay sao? Song những lời của các ngươi
chẳng có mưu hay kế lạ gì có thể dung tục”… Còn các sử thần đương thời thì
nhận xét: “Bấy giờ quan tể tướng đều là đại thần khai quốc, không thích Nho
thuật, chuyên lấy việc sổ sách, giấy tờ, kiện tụng để xét thành tích của các
quan… cho nên quan trong ngoài có chức nào khuyết thì tiến cử để bổ dùng”.
Ngay cả Lê Thánh Tông khi kiểm điểm lại cuộc đời làm vua của mình cũng
nhận xét về những người mà theo ông là: “Những người nổi bật hơn cả” thì:
“Đô đốc Lê Luyện như bù nhìn, tượng đất. Thái sư Đinh Liệt, Thái phó Lê


Như vậy, ngay trong đám triều đình đã có ý định hạn chế quyền lực của công
thần, vua trẻ cũng đã ngẫm nghĩ muốn thực hiện phương án của Bùi Ư Đài.
Nhưng trong khi vua còn quá nhỏ - vùa kể lể công lao, vừa gây sức ép. Rồi
bọn quan sợ quyền thế của đại thần cũng a dua theo Lê Sát, viện dẫn cả di
chiếu của Lê Thái Tổ. Phương án dùng các anh vua, cậu vua, các bậc bô lão
nhưng am tường nho học để kèm cặp giúp đỡ vua, thêm chức sư phó để loại
đám huân thần cố cựu như Lê Sát, tạm thời thất bại.
Tuy nhiên, trước sau, sớm muộn thế hệ công thần khai quốc này cũng lần
lượt ra đi (do bị giết là chủ yếu hoặc mất tự nhiên) thì cũng thấy vắng dần rồi
chấm dứt vào những năm 70 của thế kỷ XV.
1429: Hữu Tướng quốc Trần Nguyên Hãn (bị giết);
1430: Thái úy Lê Văn Xảo (bị giết);
1434: Tư khấu Lưu Nhân Chú (bị giết), Nhập nội đại hành khiển Trịnh Lỗi
(mất);
1435: Nhập nội kiểm hiệu đô đốc quận công Phạm Vấn (mất);
1437: Đại Tư mã Lê Văn An (mất), Đại tư đồ Lê Sát (cho tự tử), Nhập nội đô
đốc Lê Ngân (bị giết);
1442: Thừa Chi nhập nội đại hành khiển Nguyễn Trãi (bị giết);
1443: Nhập nội thiếu úy Lê Lí (mất);
1448: Thái phó Lê Văn Linh (mất – 72 tuổi), Tư đồ Bình chương sự Lưu thủ
kinh sư Lê Thận (mất); Nhập nội đô đốc Nguyễn Chích (chết);
1449: Nhập nội Thị trung Lê Lễ (mất – 82 tuổi);
1451: Thái úy Lê Khả - tức Trịnh Khả (bị giết), Tư khấu Lê Khắc Phục (bị
giết);
1462: Thái úy Lê Lăng (bị giết);
1465: Hữu Tướng quốc Nguyễn Xí (mất – 69 tuổi);
1471: Nhập nội Thái phó Đinh Liệt (mất).
Như vậy, từ những năm 60, thời kì của Lê Thánh Tông, đội ngũ chỉ còn lại số
ít như Nguyễn Xí, Đinh Liệt.

đội ngũ công thần. Cùng thời gian, tầng lớp Nho quan càng ngày càng tăng
cường về số lượng và vị trí trong bộ máy trung ương, đặc biệt là các địa
phương. Đến hai thập kỷ cuối của thế kỷ XV, trong triều đình nhà Lê những
người nắm giữ các chức vụ quan trọng trong triều như kiểu “Tể thần như Lê
Khuyên, Lê Sát thì dốt đặc (ít chữ)” nhắc ở trên không còn nữa mà thay thế
vào đó là đội ngũ quan lại xuất thân từ đỗ đạt Nho học.

Một số quan liêu cao cấp thời Lê sơ xuấtthân từ Tiến sĩ Nho họcST

Họ Và tên

Năm thi đỗ

Làm quan tới

Triều vua
1
Đào Công Soạn
1426
Nhập nội hành khiển
Lê Nhân Tông
2
Nguyễn Thiên Tích
1431

Quách Đình Bảo
1463
Thượng thư bộ Hình
Lê Thánh Tông
9
Quách Hữu Nghiêm
1463
Thượng thư bộ Lại
Lê Hiến Tông
10
Đỗ Nhuận
1466
Thị độc Hàn lâm viện
Lê Thánh Tông
11
Đào Cử
1466
Thượng thư bộ Hộ kiêm tri Sùng văn quán Tú lâm cục
Lê Thánh Tông
12
Thân Nhân Trung
1469
Thượng thư bộ Lại kiêm Quốc tử giám tế tửu
Lê Thánh Tông
13
Đàm Văn Lễ
1469
Thượng thư bộ Lễ kiêm chưởng Hàn Lâm viện sự
Lê Thánh Tông
14


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status