Điều tra một số bệnh sản khoa thường gặp, thử nghiệm điều trị bệnh viêm tử cung và các giải pháp khắc phục trên đàn bò cái sinh sản tại huyện yên thành, tỉnh nghệ an - Pdf 22

PHẦN I: MỞ ĐẦU
I. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Nông nghiệp là đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế, hằng năm sản
phẩm từ nông nghiệp chiếm tỷ lệ lớn trong tổng thu nhập quốc dân. Trong đó,
chăn nuôi là một trong những ngành chiếm vị trí chủ đạo, những năm gần đây
tình hình dịch bệnh diễn biến phức tạp, với tính chất ngày một nguy hiểm hơn.
Cúm gia cầm xảy ra và lây lan rộng, tiếp đến là bệnh Tai xanh ở lợn; bệnh Lở
mồm long móng ở gia súc đã gây thiệt hại to lớn cho người chăn nuôi.
Bên cạnh dịch bệnh ở gia súc, gia cầm, thì giá thức ăn công nghiệp ngày
một gia tăng, sản phẩm của ngành chăn nuôi lại thấp, gây khó khăn không nhỏ
cho người chăn nuôi. Trong khi đó, chăn nuôi trâu bò với chi phí chăn nuôi thấp,
mang lại lợi nhuận cao do thức ăn trâu bò được tận dụng từ nhiều ngành khác.
Sản phẩm từ trâu bò như thịt, sữa là những sản phẩm có giá trị dinh dưỡng cao,
được người tiêu dùng ưa chuộng. Phân trâu bò còn có thể sử dụng trong ngành
trồng trọt.
Đứng trước những thuận lợi và khó khăn đó người chăn nuôi có xu hướng
phát triển thêm ngành chăn nuôi trâu, bò. Ngày nay, với chủ trương đổi mới của
Đảng, việc đưa cơ khí hóa về với nông thôn đã đem lại năng suất cao trong nông
nghiệp, sức kéo của trâu bò bây giờ được thay bằng sức kéo của máy móc. Cho
nên chăn nuôi trâu bò bây giờ chủ yếu là bò sinh sản để cung cấp cho nhu cầu
tiêu thụ thịt cho người dân. Với trình độ dân trí ngày một nâng cao, người nông
dân biết áp dụng những tiến bộ kỹ thuật vào chăn nuôi, nhưng dịch bệnh vẫn xảy
ra, trong đó có các bệnh sản khoa. Các bệnh sản khoa thường gặp bò cái sinh sản
là: Sẩy thai, viêm tử cung, sót nhau, viêm vú, bại liệt, vô sinh, chậm sinh,… Các
bệnh này còn khá phổ biến, làm giảm hoặc mất khả năng sinh sản của đàn bò cái
sinh sản, ảnh hưởng đến chất lượng và số lượng đàn con và là nguyên nhân làm
giảm hiệu quả kinh tế của người chăn nuôi
Xuất phát từ tình hình thực tế, để nắm được một cách chính xác hơn tình hình
nhiễm bệnh sản khoa và nhằm tìm ra loại thuốc có tác dụng hiệu quả để khuyến
cáo cho người dân sử dụng, được sự đồng ý của Khoa Chăn Nuôi - Thú Y, thầy
giáo Th.s Giang Thanh Nhã chúng tôi tiến hành đề tài:

Huyện Yên thành nằm phía tây đường quốc lộ 1A, trên trục đường tỉnh lộ
538 nối quốc lộ 1A (đoạn Cầu Bùng) với đường quốc lộ 7 đoạn Công Thành.
Về giao thông, hiện nay, hệ thống giao thông trên địa bàn huyện tương
đối phát triển. Có hệ thống đường nhựa kéo dài.Ngoài ra, còn có 23 tuyến đường
liên xã, liên xóm đều đã được đỗ nhựa hoặc bê tông đến từng gia đình. Xe cơ
giới đi lại tương đối thuận lợi.
1.4. Khí hậu- thời tiết:
Yên Thành nằm trong vùng tiểu khí hậu Bắc Trung Bộ. Mùa hè, gió Tây Nam
thổi mạnh, không khí nóng nực, nhưng khi có gió Đông Nam (gió Nồm) đưa hơi
nước biển lên thì mát mẻ dễ chịu. Mùa thu thường phải chống chọi với những
cơn bão lớn. Mùa đông có gió Đông Bắc, mưa dầm kéo dài.
1.5. Về kinh tế, văn hóa và xã hội:
Chủ yếu là trồng lúa và chăn nuôi tự túc.
3
Giá trị sản xuất 2.518 tỷ đồng. Tốc độ tăng trưởng bình quân
14,38%/năm. Cơ cấu kinh tế: Nông – lâm nghiệp – thuỷ sản từ 58,8% xuống còn
47,32%, Công nghiệp – Xây dựng cơ bản từ 14,7% lên 24,85%, Dịch vụ từ
26,5% lên 27,83%. Thu nhập bình quân đầu người 12 triệu đồng/năm, tăng 2,7
lần so với đầu nhiệm kỳ.
Nông nghip – nông thôn có bước phát triển. Giá trị sản xuất ngành nông
nghiệp 874 tỷ đồng. Sản lượng lương thực 180.000 tấn. Đàn trâu tăng 1,1%; bò
tăng 3,2%; lợn tăng 4,1%; gia cầm tăng 18,1% so với đầu nhiệm kỳ
1.6. Tình hình chăn nuôi tại huyện:
- Tập quán chăn nuôi: Chăn nuôi tự túc là phương thức chăn nuôi bò chủ yếu của
huyện. Bò được thả tự do trên các bãi cỏ tự nhiên như: bờ đê, bờ ruộng, đồi…
- Về nguồn thức ăn: Các nguồn thức ăn tại các vùng và trong các nông hộ là khá
phong phú, đa dạng về chủng loại, tuy nhiên phân phối không đều giữa các
vùng. Diện tích cỏ trồng chưa nhiều và đang ở tình trạng manh mún. Các giống
cỏ được trồng chủ yếu là cỏ voi, năng suất cao nhưng chất lượng thấp, đặc biệt
loại cỏ này sinh trưởng kém trong mùa đông đã góp phần làm trầm trọng thêm

nằm trong xoang chậu, gắn liền với dây chằng rộng của tử cung và thường nằm
cao cùng với độ cao của u xương chậu. [5]; [6].
Có hai buồng trứng bầu dục, hơi dẹt. hình dạng có thể thay đổi khi có sự
hiện diện của nang trứng và thể vàng. Kích thước trung bình của buồng trứng
3,5×2,5×1,5 cm. . Khi bắt đầu thành thục về tính chúng kích thước dài, rộng, cao
như sau: 1-2cm, 1-1,5cm, 1,5cm. Khối lượng mỗi buồng trứng khoảng 10-20 gam.
Bò LaiSind có kích thước như sau: 23,45mm; 16,50mm; 11,55mm với
khối lượng 3,74g bên phải và 2,5g bên trái. [1]; [6; [12].
2.1.2.Chức năng:
Buồng trứng có hai chức năng: sản xuất tế bào sinh dục và hocmon sinh
dục Oestrogen và progesterone. Các hoocmon này được sản sinh dưới ảnh
hưởng của nhưng hooc mon khác, điều tiết từ tuyến yên, chúng tham gia vào
điều tiết hoạt động sinh dục của con cái.[12]; [13].
Các tế bào sinh dục của con cái gọi là trứng. Một tế bào trứng được bao
bọc bởi các tế bào chung quanh tạo thành nang trứng. Một vài ngày sau động
dục,những nang trứng phát triển nổi cộm lên, chứa đầy dịch và sánh động gọi là
nang trứng chin. Mỗi nang trứng chứa một trứng, đôi khi chứa hai. Thường một
nang trứng chín, vỡ ra vào khoảng 30 giờ khi bò cái động dục. khi nang trứng
vỡ, trứng được phóng thích ra ngoài và được loa kèn hứng. nơi trứng rụng để lại
vết lõm sau người ta gọi là thể vàng.
Ở bò một buồng trứng có
hơn 100.000 trứng lúc mới
sinh. Tuy nhiên trong suốt đời
của một con bò cái chỉ một số
lượng nhỏ trứng sẽ được thụ
tinh và phát triển thành bê. [13]
Hocmon được tiết ra từ
buồng trứng điều khiển mức độ
biểu hiện tính dục, sinh trưởng
và các quá trình phát triển:

2.3.Tử cung (Uterus)
2.3.1. Vị trí và hình thái:
Tử cung hay còn gọi là dạ con, là nơi đảm bảo cho sự phát triển của thai
và đẩy thai ra ngoài khi đẻ. Tử cung nằm trong xoang chậu, dưới trực tràng, trên
bóng đái[8] , được giữ tại chỗ nhờ sự bám của âm đạo vào tử cung, các nếp phúc
mạc, dây chằng rộng và dây chằng tròn.
Tử cung có hình dạng chữ V gồm: hai sừng tử cung, thân tử cung và cổ
tử cung.[12]
2.3.2.Chức năng:
Sừng tử cung: sừng tử cung của trâu bò không dài, qua một vài lần đẻ thì
sừng bên phải lớn hơn sừng bên trái chút ít. Có chức năng là nơi cư trú của thai
trong quá trình chửa.
Thân tử cung: thân tử cung của trâu bò có vách hụt ngăn cách không hoàn
toàn, điều đó tạo sự khó khăn trong thụ tinh nhân tạo.
6
Cổ tử cung: của trâu bò được cậu tạo bởi nhiều lớp cơ, đặc biệt là có 3-4
lớp cơ vòng có trương lực lớn nên tạo thành các “đai” thắt cổ tử cung ngăn cách
bên ngoài và bên trong.[1]
Vào thời kì động dục dưới tác dụng của hoocmon Ostrogen làm trương
lực cơ này giản ra, cổ tử cung mở ra tạo điệu kiện cho dòng tinh di chuyển vào
trong để tiến hành thụ tinh. Cổ tử cung của bò dài 5-7cm, kích thước thay đổi
theo lứa tuổi. Vai trò quan trọng của cổ tử cung là tiết chất nhầy trong khi lên
giống. Chất nhầy chảy từ cổ tử cung ra ngoài để làm trơn âm đạo và làm giảm
sự xâm nhập của vi sinh vật vào tử cung. Trong lúc mang thai, cổ tử cung ngăn
cách tử cung với môi trường bên ngoài. Dưới ảnh hưởng của progesterone, chất
nhầy của cổ tử cung trở nên đặc lại, do đó vật lạ không thể xâm nhập vào trong
được.[1]; [8].
2.4. Âm đạo (Vagina)
2.4.1. Vị trí và hình thái:
Âm đạo là ống đi từ cổ tử cung đến âm hộ. Đầu trước của âm đạo dính

tuyến mồ hôi mà ra, có chức năng tiết sữa và thải sữa. Về hoạt động sinh lý thì
tuyến vú có liên quan mật thiết với cơ quan sinh dục cái. Vì vậy có thể xem
chúng như một bộ phận cấu tạo bên ngoài của cơ quan sinh dục .
Bình thường, tuyến vú phát triển chậm cho đến khi bò thành thục về tính
và rồi gia tăng nhanh do tác dụng estrogen của buồng trứng và progesterone của
thể vàng, to nhất vào cuối thời kỳ mang thai và bắt đầu hoạt động sau khi đẻ. Sự
phát triển của tuyến vú không chỉ chịu tác động của di truyền và kích dục tố mà
còn chịu tác động của tuyến yên và tuyến trên
thận.
Gia súc khác nhau thì số lượng và vị trí
núm vú cũng khác nhau. Đối với bò thì có hai
đôi ở bụng sau, 4 tuyến sữa gần như độc lập
nhau. Số lượng bể sữa và ống đầu vú cũng khác
nhau, đối với bò có 1 bể sữa và 1 ống đầu vú
[10].
III. ĐẶC ĐIỂM SINH LÝ, SINH SẢN CỦA BÒ CÁI
Sinh sản là điều kiện để duy trì nòi giống của tất cả các cơ thể sinh vật
sống. Ở gia súc, quá trình sinh sản không chỉ là sự truyền thông tin di truyền từ
thế hệ này đến thế hệ khác, mà còn liên quan đến sự điều chỉnh nội tiết của các
giai đoạn khác nhau trong quá trình đó.
Mỗi loài gia súc có những đặc tính riêng nhưng đều tuân theo một quy
luật chung của hoạt động sống là hưng phấn, ức chế, trao đổi chất, phát triển
theo giai đoạn trong quá trình sinh trưởng và sinh sản. Khi nắm được những đặc
trưng sinh lý của từng loài gia súc và các quy luật hoạt động sống của chúng, ta
có thể cải tiến chế độ nuôi dưỡng, chăm sóc, cải tạo giống,… để bắt chúng phát
triển theo hướng có lợi, đề ra những biện pháp phòng trị bệnh hữu hiệu, cho sản
phẩm cao, nhằm đáp ứng được mục đích kinh tế của ta.
Đối với bò cái nói riêng và gia súc cái nói chung, khi nắm vững đặc điểm
sinh lý sinh sản của nó, giúp người chăn nuôi hạn chế được các bệnh sản khoa
gây ra trên đàn gia súc , nâng cao năng suất đưa đến hiệu quả kinh tế cao cho

thành các mụn nước chứa đầy dịch gọi là noãn nang. Mỗi một trứng mất khoảng
6 tháng để phát triển. Phần lớn trứng không phát triển đầy đủ và bị tái hấp thu đi
một cách đơn giản. Sự phát triển của trứng đến khi thành thục về tính không cần
có hormone của não. Sau khi thành thục về tính, hormone được tuyến yên ở não
tiết ra làm cho một số trứng được chọn lọc phát triển đầy đủ và giải phóng khỏi
buồng trứng có nghĩa là rụng trứng. Noãn nang có thể có đường kính 10-15 mm
ngay trước khi rụng trứng. Phần lớn các noãn nang khác đường kính chỉ đạt 1-2
mm trước khi bị tái hấp thu. Tỷ lệ thụ tinh cao nhất ở bò cái tơ động dục lần thứ
2 hoặc thứ 3. Mặc dù một số bò cái tơ sẽ thụ tinh ở lần động dục đầu tiên và sẽ
có thai nếu cho phối giống. Chu kỳ động dục điển hình ở bò là 21 ngày, tuy
nhiên có thể giao động trong phạm vi 18-24 ngày.
Khi nắm vững quy luật của chu kỳ tính sẽ có nhiều lợi ích quan trọng
trong công tác chăn nuôi như: Có thể phát hiện kịp thời hiện tượng hưng phấn
và rụng trứng, tránh được việc bỏ qua một số chu kỳ, nâng cao tỷ lệ thụ thai, góp
9
phần phát triển số lượng đàn gia súc. Có thể điều khiển và chủ động kế hoạch
sinh sản, thức ăn, nuôi dưỡng và khai thác sản phẩm của toàn đàn súc. Góp phần
phòng và chữa trị hiện tượng vô sinh, chậm sinh ở gia súc trong chăn nuôi.
3.2.2. Các giai đoạn của chu kì động dục.
3.2.2.1. Giai đoạn trước khi động dục (Proestrus)
Đây là giai đoạn đầu của chu kỳ sinh dục, tính từ khi thể vàng tiêu hủy đến
lần động dục tiếp theo. Giai đoạn này, nang trứng phát triển nhanh và nổi rõ trên bề
mặt buồng trứng, buồng trứng to hơn bình thường. dưới ảnh hưởng của estrogen thì
cơ thể của con vật có những biến đổi về thần kinh và cơ quan sinh dục:
Biểu hin về thần kinh: con vật thường tách đàn, ít ăn hoặc bỏ ăn, hay đi
lại nghe ngóng, kêu la, trạng thái băn khoăn…
Biểu hin ở cơ quan sinh dục: âm hộ có những thay đổi về kích thước,
ướt, hơi sung mọng. niêm mạc có màu hồng nhạt. Tế bào vách ống dẫn trứng
phát triển, số lượng lông nhung tăng lên để chuẩn bị đón trứng rụng. Màng nhầy
tử cung, âm đạo tăng sinh, được cung cấp nhiều máu hơn. Tử cung, âm đạo, âm

sinh và tiết dịch của tử cung cũng ngừng lại, biểu mô nhầy của tử cung bong ra
cùng với lớp biểu mô âm đạo hóa sừng thải ra ngoài.Các biểu hiện bên ngoài
dần biến mất, con vật không muốn gần con đực. Sau đó con vật chuyển sang
trạng thái yên tĩnh. Giai đoạn này kéo dài trong 3-4 ngày( tương ứng với ngày
thứ 2-5 của chu kì)
3.2.2.4. Giai đoạn yên tĩnh (Unestrus hay Diestrus)
Là giai đoạn thể vàng hoạt động, thường khởi đầu vào ngày thứ 4 sau khi
trứng rụng và kết thúc sau khi thể vàng tiêu hủy. Thể vàng tồn tại trong suốt thời
gian mang thai cho đến trước khi đẻ. Nếu bò không được thụ tinh hoặ thụ tinh
không có kết quả thì thể vàng tồn tại đến ngày thứ 18 của chu kì rồi tiêu biến
chu kì mới bắt đầu.
3.2.3. Các yếu tố ảnh hưởng đến chu kì động dục.
Có rất nhiều yếu tố ảnh hưởng tới chu kì động dục:
Giống: giống khác nhau thì thời gian của chu kì động dục là khác nhau: ví
dụ: đối với bò Vàng Việt Nam thì thời gian là 17-24 ngày, bò LaiSind thường
18- 25 ngày[31].
Dinh dưỡng: có hai kì ảnh hưởng của dinh dưỡng tới chu kì động dục rõ nhất
là khi bắt đầu thành thục về tính và thời kì sau khi đẻ tới khi động dục trở lại. người
ta thường tăng mức độ dinh dưỡng trong thời kì này để tăng tỉ lệ rụng trứng.
Ngoài các nhân tố trên còn có các nhân tố khác như: Nhiệt độ, chế độ
chiếu sáng, pheromon, tiếng kêu của con đực,… [30].
3.2.4. Thời điểm phối giống thích hợp :
Thời điểm phối giống thích hợp là lúc có nhiều nhất các tinh trùng còn
khả năng thụ tinh gặp nhiều nhất tế bào trứng có khả năng thụ thai.
Thời điểm phối giống thích hợp đóng vai trò quan trọng để bò có thể thụ
thai. Sau khi kết thúc động dục 10 - 12 giờ, trứng rụng và chỉ có khả năng thụ
tinh trong thời gian 6 - 10 giờ. Tinh trùng có thể sống được 12 - 18 giờ trong
trứng và cổ tử cung. Dựa vào thời gian sống của trứng và tinh trùng ta có thể
phối giống cho bò ở thời điểm 12 - 18 giờ kể từ khi bò có biểu hiện động dục.
Nếu có điều kiện nên phối kép 2 lần để tăng khả năng thụ thai. Lần 1 phối sau

i. Quá trình mang thai:
Đặc điểm quá trình mang thai:
Trong chu kì sinh dục nếu trứng chín rụng được gặp tinh trùng thì quá
trình thụ tinh được xảy ra( thường diễn ra ở 1/3 ở ống dẫn trứng. nếu điều kiện
tử cung thích hợp cho hợp tử làm tổ thì con vật bước vào thời kì mang thai. Thời
gian bò mang thai thường là: 280-285 ngày.thời gian mang thai phụ thuộc vào
tuổi, giống, thời tiết khí hậu, điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng… đối với bò số
lượng thai thường là 1 thai.
Những biến đổi ở cơ thể mẹ:
Trong thời gian mang thai con mẹ có những thay đổi phù hợp với từng
gian đoạn phát triển của bào thai.
Sự biến đổi của bộ máy sinh dục:
Buồng trứng: Thể tích buồng trứng tăng lên, khám trực tràng thấy thể
vàng tồn tại ở bò thường là một thể vàng.
Tử cung: Thể tích và trọng lượng tử cung tăng lên theo thời gian có chửa.
Trọng lượng tử cung khi có thai gấp 5-20 lần so với bình thường, thể tích và
kích thước tăng gấp hàng trăm lần [30]. Máu được lưu thông đến tử cung rất
nhiều tạo điều kiện tăng chất dinh dưỡng để nuôi bào thai trong quá trình chửa.
12
Cổ tử cung: Khi có chửa cổ tử cung đóng kín và chặt hơn so với bình
thường. Niêm mạc dày lên, các tế bào thượng bì tiết ra niêm dịch keo dính gây
nên hiện tượng đóng nút cổ tử cung, giúp cho bào thai phát triển bình thường,
tránh các tác nhân bên ngoài xâm nhập vào phá hủy bào thai. Niêm dịch lúc đầu
có màu trắng sau chuyển thành màu vàng đến nâu tùy theo tuổi của thai. Trước
khi đẻ khoảng 1 tuần, niêm dịch này bắt đầu long ra và chảy ra ngoài.
Âm đạo: Màng nhầy nhợt nhạt và khô. Cuối thời kỳ có chửa mềm, ướt và
phù thũng.
Âm hộ: Thời kỳ đầu ít biến đổi. Thời kỳ sau phù thũng cao độ và xệ xuống.
ii. Quá trình sinh đẻ:
Quá trình chửa đến một thời gian nhất định, khi thai đã phát triển hoàn

chất lợn cợn. nếu sau 10 ngày mà vẫn còn sản dịch thì là viêm tử cung.
2. Bò cái động dục trở lại sau khi đẻ và nuôi con:
Động dục lại sau khi đẻ là khoảng thời gian sau khi đẻ đến khi xuất hiện
chu kì động dục đầu tiên.
Thời gian động dục lại sau khi đẻ là chỉ tiêu là chỉ tiêu đánh giá khả năng
sinh sản của gia súc, ảnh hưởng lớn đến tính năng sản xuất của bò cái.
Thời gian này có thời gian ngắn hay dài là phụ thuộc vào từng giống, cá
thể, lứa đẻ, tình trạng lứa đẻ, dinh dưỡng, mùa vụ. Trung bình 1 tháng sau khi đẻ
có khoảng 20% bò cái động dục trở lại. Vì thế cần có sự điều chỉnh phù hợp,
chăm sóc, nuôi dưỡng tốt để rút ngắn được thời gian động dục trở lại đem lại lợi
ích kinh tế cao cho người chăn nuôi.
3. Số lứa đẻ trong năm của bò cái:
Trong chăn nuôi bò, để có nhiều sản phẩm (nhiều bê, nhiều sữa, thịt ) và
nâng cao hiệu quả kinh tế chăn nuôi, một trong những vấn đề rất quan trọng là
phải làm sao để bò cái đẻ càng nhiều lứa càng tốt, tức là rút ngắn khoảng cách
giữa các lứa đẻ. Để có thể làm được như vậy, phải rút ngắn giai đoạn từ khi đẻ
đến khi phối giống có chửa, để giai đoạn này chỉ kéo dài khoảng 2-3 tháng. Như
vậy bò cái sẽ đẻ mỗi năm một lần, nghĩa là khoảng cách lứa đẻ 350 - 370 ngày.
Trong thực tế, do nhiều nguyên nhân khác nhau, khoảng cách lứa đẻ của bò cái
thường kéo dài, khoảng 390-450 ngày hoặc dài hơn .
IV. MỘT SỐ BỆNH SẢN KHOA THƯỜNG GẶP TRÊN ĐÀN BÒ CÁI SINH
SẢN
4.1. Bệnh trong thời gian bò cái mang thai.
4.1.1. Bệnh sẩy thai.
Hiện tượng có thai bị gián đoạn, bị ngắt quảng gọi là hiện tượng sẩy thai.
Bệnh sẩy thai có rất nhiều nguyên nhân và nó gây ra nhiều hậu quả nghiêm
trọng như: gia súc mẹ giảm sút súc khỏe, ảnh hưởng tới khả năng sinh sản về
14
sau dẫn tới vô sinh có khi chết. Nếu là sẩy thai truyền nhiễm thì còn lây lan cho
người chăn nuôi .

sảy thai
+ Sảy thai do dinh dưỡng: Chủ yếu do chế độ chăm sóc nuôi dưỡng, quản
lý, khai thác và sử dụng gia súc có thai không hợp lý, khẩu phần thức ăn thiếu
dinh dưỡng đặc biệt là thiếu vitamin A, B. D, thiếu khoáng như Ca, P. Thức ăn
không đảm bảo vệ sinh, ôi thiu, nấm mốc dẫn đến ngộ độc hay do chế độ sử
dụng gia súc quá sức làm giảm sức đề kháng của gia súc mẹ, làm rối loạn mối
liên hệ giữa nhau mẹ và nhau con gây hiện tượng sảy thai.
15
+ Sảy thai do gia súc mẹ bị bệnh: Tất cả các quá trình bệnh lý xảy ra ở cơ
thể nói chung hay ở cục bộ cơ quan sinh dục nói riêng trên cơ thể mẹ đều có thể
là nguyên nhân gây sảy thai ví dụ:
- Bệnh ở hệ tim mạch gây rối loạn tuần hoàn giữa nhau thai và bào thai
làm bào thai bị thiếu dinh dưỡng
- Bệnh ở hệ hô hấp làm bào thai bị thiếu oxy
- Bệnh ở gan thận làm bào thai bị trúng độc
- Bệnh ở hệ tiêu hóa như chướng hơi, bôi thực dạ cỏ, táo bón ỉa chảy
làm tử cung co bóp
- Do gia súc mẹ bị ngộ độc thức ăn nước uống
- Do sử dụng thuốc gây mê, thuốc tẩy hoặc thuốc kích thích cơ trơn co
bóp khi gia súc mẹ mang thai…
+ Sảy thai do bệnh của bào thai:
Trong thực tiễn sản xuất thường gặp các trường hợp sau:
- Bào thai phát triển không bình thường, thai bị dị hình quái thai
- Phù thũng màng thai hay viêm màng thai
- Dịch thai quá nhiều hay quá ít.
+ Sảy thai do thói quen (Abortus Habitualis) : Đó là hiện tượng sảy thai
sảy ra có tính quy luật cứ vào một htời gian nhất định của các lần có thai thì hiện
tượng sảy thai lại xuất hiện. Nguyên nhân chủ yếu là do những chỗ cong hay
từng đám của thành tử cung dính vào những tổ chức xung quanh.
+ Sẩy thai do thuốc: Thường do dùng thuốc không đúng chỉ định. Ví dụ:

c) Điều trị:
Điều trị là phụ.
Cần xác định nguyên nhân để có biện pháp điều trị kịp thời.
Kiêm tra thai, nếu thai chết thì cần can thiệp ngay để lấy thai ra ngoài,
tránh hiện tượng thai thối trong bụng mẹ.
Sử dụng Oxytoxin tiêm để kích thích co bóp tử cung giúp tống thai ra
ngoài. Trong trường hợp dùng Oxytoxin không có hiệu quả thì có thể trực tiếp
kéo thai hoặc phẫu thuật lấy thai ra càng sớm càng tốt.
Kiểm tra thai nếu thai còn sống có thể dùng một số thuốc để ức chế giữ thai lại.
một số thuốc sau: Progesteron, Atropin.
4.1.2. Bệnh bại liệt trước khi đẻ.
a) Nguyên nhân:
Nguyên nhân chủ yếu là do chế độ chăm sóc, quản lý, khai thác, sử dụng
không đúng kỉ thuật. Khẩu phần ăn của gia súc mẹ thiếu Ca, P.
Gia súc trong thời gian mang thai ít được chăn thả, ít được tiếp xúc với
ánh sáng mặ trời.
b) Điều trị:
- Dùng các loại thuốc trong đó có chứa Ca như: Canxi clorua, gluconatcanxi,
Canxi-C, Canxi- Fort,…
Lưu ý: nếu Canxi clorua thì phải tiêm tĩnh mạch.
- Tăng cường cho gia súc ăn nhưng thức ăn giàu Ca và P.
- Xoa dầu nóng, hoặc hỗn hợp gừng, tỏi, rượu cho gia súc. Có thể tiêm strychnin,
B1, C cho gia súc.
- Hằng ngày trở mình cho gia súc, tránh gia súc nằm liệt một chỗ. Nếu gia súc đi
được thì cho gia súc vận động.
c) Phòng bnh:
- Đảm bảo chế độ ăn uống đầy đủ cho gia súc.
- Cho gia súc vận động, tắm nắng.
- Nếu cần thiết có thể tiêm vitamin ADE cho gia súc.
4.2. Bệnh trong thời gian bò cái sinh đẻ

của Oestrogen sau 2-3 giờ tiêm Oxytoxin.
- Dùng nước ối của bò cho uống sau 30 phút.
Lưu ý: có thể dùng nước ối của con này cho con khác uống hoặc của
chính nó, có thể dùng trong 2-3 ngày, bảo quản ở nhiệt độ 2-3
0
C.
+ Sau khi bò đẻ xong khoảng 6 giờ cho bò uống 3-5 lít, trong 2-8 giờ sẻ bong
nhau, nếu chưa bong thì cho uống tiếp.
+ Thụt nước muối 5% 1-2 lít hoặc Rivanol 1‰, Lugol 1‰.
+ Đặt Tetracylin 500mg ( 20 viên), hoặc clorocid vào tử cung, mỗi ngày thụt rửa 1
lần bằng thuốc sát trùng.
+ Có thể thụt trực tiếp bằng penicelin + streptomycin 5-6 triệu UI vào trong tử
cung.
 Phương pháp bóc nhau:
Nếu dùng phương pháp bảo tồn không có kết quả thì ta tiến hành bóc
nhau, nếu để chậm tử cung sẻ đóng lại.
Thủ thuật bóc:
18
- Cố định gia súc trong giá, nếu con vật rặn quá nhiều trong khi bóc có thế dùng
phương pháp gây tê như novocain 3%, liều lượng 5-10ml tiêm vào lomcx khum
đuôi. Trước khi bóc vô trùng tay bằng dung dịch thuốc sát trùng.
- Đưa tay trực tiếp vào tử cung, có thể bóc từ đầu mút sừng tử cung ra thân tử
cung hoặc ngược lại. Khi bóc dùng một tay kéo nhẹ phầm nhau đã ra ngoài, tay
trong tử cung dùng ngón trỏ và ngón giữa kẹp cuống núm nhau con. Sau đó,
dùng ngón tay cái đẩy từ từ cho phần nhau mẹ tách khỏi nhau con, tách hết núm
này đến núm khác. Nên bóc từ từ tránh núm nhau bị đứt.
- Sau khi bóc xong, dùng NaCl 5% để thụt rửa tử cung. Bơm vào baon nhiêu thì
lấy ra bấy nhiêu, bơm tiếp penicelin và streptomycin mỗi loại 1-2 triệu UI hòa
vào 50ml nước cất.
- Có thể dùng thuôc nam để điều trị:

tử cung tiết như: tăng foliculin trong máu, tăng Progesteron mất thăng bằng
động thái Estrogen/Progesteron đều là những yếu tố gây viêm tử cung.
- Vi khuẩn là những mầm bệnh rất đa dạng, có loại vi khuẩn gây viêm tử cung đặc
hiệu như lao, sẩy thai, sẩy thai truyền nhiễm. Có loại vi khuẩn gây viêm tử cung
không đặc hiệu như tụ cầu trùng, cầu khuẩn trực tràng, trực tràng sinh mủ…
- Do kế phát từ bệnh sót nhau, viêm âm đạo, viêm phúc mạc…
b. Triu chứng và chẩn đoán:
Tuỳ theo loại vi khuẩn, mức độ phát triển và hoạt động của vi khuẩn, sự
rối loạn chức năng sinh lý và nội tiết tử cung mà biểu hiện các triệu chứng lâm
sàng khác nhau về mức độ viêm nặng hay nhẹ có thể phân loại như sau:
- Viêm nội mạc tử cung:
+ Viêm nội mạc tử cung mức độ 1 (viêm cata đơn)
Gia súc động dục bình thường, khi động dục tiết dịch, có thể có những
gợn trắng ở niêm dịch, trạng thái niêm dịch khác thường không thống nhất. Cổ
tử cung sưng, tụ huyết, khám trực tràng không thể phân biệt được tử cung bị
bệnh hay động dục.
+ Viêm nội mạc tử cung mức độ 2 (viêm nội mạc niêm dịch có mủ)
Gia súc động dục không bình thường, niêm dịch có mủ, cổ tử cung mở
rộng hay hé mở và sung huyết, sừng tử cung cong, cứng dày. Buồng trứng bình
thường và có thể vàng lưu bệnh lý.
+ Viêm tử cung mức độ 3 (viêm nội mạc có mủ)
Gia súc ngưng động dục, mủ chảy ra ngoài, nhiều nhất là lúc nằm. Cổ tử cung
sưng, mở rộng hay hé mở phủ màu trắng hay trắng vàng, niêm mạc âm đạo sung
huyết. Khám trực tràng thấy sừng tử cung tăng kích thước, thành tử cung dày, tử
cung kéo dài nhất là trâu, bò cái già, buồng trứng có thể vàng lưu bệnh lý.
Viêm tử cung mức độ 3 thường viêm cổ tử cung, viêm âm đạo và không chỉ
nội mạc tử cung bị rối loạn sinh lý và tổn thương mà cả lớp cơ trơn cũng bị viêm.
- Viêm cơ tử cung:
+ Khi khám thấy bò ốm, mệt mỏi, ăn uống kém, có những cơn rặn khan. Quan sát
thấy có nhiều dịch viêm màu đục, lợn cợn các mảng tổ chức hoại tử, mùi tanh

- Thụt rửa âm đạo, tử cung bằng các dung dịch sau:
Rivanol 1‰, Lugol 1‰, thuốc tím 1‰, NaCl 5%.
- Sau khi thụt rửa xong , thì phải tống tống ra ngoài bằng xoa bóp tử cung hoặc
dùng ống dẫn tinh quản hút ra. Có thể tiêm Oxytocin, Ergotamin.
- Sau đó, thụt kháng sinh vào Penicelin 5 triệu UI và Streptomycin 1g. Nếu viêm
tử cung có thể vàng tồn tại thì điều trị kết hợp phá vỡ thể vàng.
4.3.2. Bại liệt sau khi đẻ.
a. Nguyên nhân:
- Do kỷ thuật đỡ đẻ không tốt làm ảnh hưởng tới khớp bán động háng.
- Do chế độ dinh dưỡng không đảm bảo, đặc biệt là thiếu các chất khoáng như Ca,
P.
b. Triu chứng:
- Nếu nặng con vật bị liệt hai chân sau. Khác với con vật bị gãy chân là con vật tỏ
ra đau đớn, sốt do nhiễm trùng.
- Nếu nhẹ, con vật đi lại khó khăn, ít vận động, thích nằm.
c. Điều trị:
21
- Dùng các loại thuốc có chứa Ca như: gluconat-canxi; Clorua-canxi với liều
lượng 10-15g cho uống.
- Có thể dùng các loại thuốc tiêm khác như: Canxium –C500; Calium – fort ( tiêm
bắp, dưới da, hoặc tỉnh mạch).
- Cho ăn các loại thức ăn chứa Ca, khoáng vi lượng.
- Dùng các loại dầu nóng, gừng + tỏi, để xoa bóp chân giúp máu lưu thông.
- Thường xuyên trở mình cho bò, cho bò vận động.
4.3.3. Bệnh viêm vú:
Bệnh viêm vú là những quá trình viêm xảy ra trong mô vú. Bệnh có thể
xảy ra ở một hoặc nhiều vú ở dạng viêm tiết dịch, tiết dịch – cata và viêm mủ.
a. Nguyên nhân:
- Do kế phát bệnh viêm tử cung, sót nhau sau khi đẻ, cơ thể bị nhiễm trùng huyết,
vi trùng tuần hoàn theo máu đến bầu vú gây viêm.

Tùy vào mức độ nặng nhẹ mà phương pháp điều trị cũng khác nhau:
- Nếu là viêm vú thanh dịch:
+ Chờm nóng
+ Tăng cường số lần vắt sữa.
+ Xoa bóp đầu vú ngày 2-3 lần mỗi lần 15 phút bằng itchyol.
+ Sát trùng bầu vú bằng thuốc sát trùng
+ Dùng kháng sinh mỡ để bôi vào đàu vú bị viêm.
- Nếu là viêm cata:
+ Tăng số lần vắt sữa
+ Thụt Rivanol 1‰ , itchyol 1-3‰, Lugol 1‰. Thụt xong thì xoa bóp cho
thuốc lan dần vòa các tổ chức bệnh, để 2-4 giờ rồi vắt ra 1 ít.
+ Chờm lạnh
+ Dùng kháng sinh thụt vào đầu vú (Penicelin 1 triệu UI hoà vào 50ml nước cất ở
nhiệt đô 37
0
C).
+ Dùng Novocain 5% 150ml phóng bế giữa thùy trước và thùy sau.
- Nếu viêm có mủ:
Dùng bơm tiêm hút hết mủ, nếu mủ đặc không ra có thể dùng
Nabicacbonat 5% vào cho loãng mủ sau đó hút ra, sau đó bơm kháng sinh vào.
4.4. Bệnh không sinh sản:
Bệnh vô sinh, chậm sinh:
a. Nguyên nhân và chẩn đoán:
• Thể trạng kém:
Qua kiểm tra khẩu phần thức ăn hàng ngày cho thấy chế độ nuôi dưỡng
kém, thức ăn không đầy đủ dinh dưỡng, thiếu thức ăn thô xanh, thức ăn hỗn hợp,
thức ăn bổ sung và các nguyên tố vi lượng. Từ đó làm cho chức năng sinh sản
của bò bị đình trệ, biểu hiện không lên giống hoặc lên giống yếu, phối nhiều lần
không kết quả.
• Buồng trứng và tử cung kém phát triển:

Dùng huyết thanh ngựa chửa liều: 3000-5000UI/con bò.
Nếu do chế độ dinh dưỡng thì cần có chế độ bổ sung dinh dưỡng hợp lý:
Cho ăn đầy đủ các khoáng chất (Cu,P), các loại vitamin A. nếu thiếu hoặc
thừa đều làm cho bò mắc bệnh chậm sinh.
Phòng bnh:
- Chuẩn bị và chăm sóc chu đáo bò cái vào lúc đẻ (chuồng trại sạch sẽ, đảm bảo
các điều kiện vệ sinh và hộ lý tốt).
- Sau khi bò đẻ nên thụt rửa tử cung bằng dung dịch Riyanol hoặc Lugol với tỉ lệ:
Nếu dùng dung dịch Rivanol 1-2% khoảng 300 - 500ml; nếu Lugol 100 ml
(dung dịch Lugol là hỗn hợp I2, KI và nước cất theo tỉ lệ 1:2:300); nếu dùng
nước muối dung dịch 1-2% khoảng 300 - 500ml. Sau đó đưa một trong các loại
kháng sinh phổ rộng vào thẳng tử cung. Oxytetracy- line 2,5g pha với 30ml
nước hoặc Kanacyline 3g pha với 30ml nước, hoặc Ampicyline 2- 3g pha với
nước.
- Kết hợp tiêm bắp toàn thân hàng ngày (5 ngày liền), thuốc dùng tiêm là
gentanyline 1ml cho 10kg thể trọng hoặc Ampi - seplol 1ml cho 10-12kg thể trọng.
- Trường hợp đẻ khó, sót nhau hoặc bị viêm nhiễm đường sinh dục cần
can thiệp và điều trị kịp thời, tích cực để sớm phục hồi chức năng sinh sản
24
- Chọn lựa và sử dụng loại tinh chất lượng tốt để phối cho bò cái động dục
đúng kỹ thuật thụ tinh nhân tạo, đặc biệt là phối giống vào thời điểm thích hợp.
- Cần theo dõi thường xuyên và phát hiện bệnh kịp thời, để có biện pháp tác động
kịp thời.
V. THỬ NGHIỆM PHÁC ĐỒ ĐIỀU TRỊ :
Thử nghiệm điều trị bệnh viêm tử cung, đưa ra 3 phác đồ điều trị và nhận
xét 1 phác đồ nào hiệu quả nhất.
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status