ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
VIỆN ĐẢM BẢO CHẤT LƯỢNG GIÁO DỤC
BÙI NGỌC QUANG TÁC ĐỘNG CỦA Ý THỨC, THÁI ĐỘ VÀ PHƯƠNG PHÁP
TỰ HỌC ĐẾN KẾT QUẢ HỌC TẬP CỦA SINH VIÊN
(Nghiên cứu trường hợp sinh viên ngành Song ngữ Nga – Anh,
Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn,
Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh)
Chuyên ngành: Đo lường và đánh giá trong giáo dục
(Chuyên ngành đào tạo thí điểm) LUẬN VĂN THẠC SĨ Người hướng dẫn khoa học: TS. Nguyễn Thị Thu Hương
Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh)” hoàn toàn là kết quả nghiên cứu của
chính bản thân tôi và chưa được công bố trong bất cứ một công trình nghiên cứu
nào của người khác. Trong quá trình thực hiện luận văn, tôi đã thực hiện nghiêm túc
các quy tắc đạo đức nghiên cứu; các kết quả trình bày trong luận văn là sản phẩm
nghiên cứu, khảo sát của riêng cá nhân tôi; tất cả các tài liệu tham khảo sử dụng
trong luận văn đều được trích dẫn tường minh, theo đúng quy định.
Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về tính trung thực của số liệu và các nội
dung khác trong luận văn của mình.
Hà Nội, ngày 4 tháng 6 năm 2013
Tác giả luận văn
(Ký và ghi rõ họ tên)
Bùi Ngọc Quang
3
MỤC LỤC
Trang
1.1. Một số thuật ngữ và khái niệm liên quan …………… …………….
15
1.1.1. Tự học là gì? …………… …………… …………… ………
15
1.1.1.1. Khái niệm “tự học” …………… …………… ………
15
1.1.1.2. Ý thức tự học …………… ……………….…… ………
17
1.1.1.3. Thái độ tự học …………… …………… ………
18
1.1.1.4. Phương pháp tự học …………… …………… ………
19
1.1.1.5. Bản chất của tự học …………… …………… … ……
19
1.1.1.6. Vai trò của tự học …………… …………… …………
20
1.1.1.7. Mục đích của tự học …………… …………… ………….
21
1.1.1.8. Ý nghĩa của tự học …………… …………… ………
21
1.1.2. Tác động là gì? …………… …………… …………… ………
23
1.1.3. Kết quả học tập …………… …………… …………… ……
23
1.1.4. Tác động của tự học đến kết quả học tập …………… …………
24
4
1.2. Tổng quan nghiên cứu ….……………………………….……………
24
3.2. Đánh giá độ tin cậy của thang đo …………… ………… ……
53
3.3. Kiểm định mô hình phân tích nhân tố …………… …… ………….
54
3.4. Kiểm định mô hình phân tích hồi quy tuyến tính bội …………………
57
3.5. Kiểm định các giả thuyết nghiên cứu …………… ………
64
3.6. Tác động của ý thức, thái độ và phương pháp tự học đến kết quả học
tập của sinh viên kết quả khảo sát …………… ………….……
64
3.6.1. Ý thức tự học của sinh viên ……………
65
3.6.2. Thái độ tự học của sinh viên ……………
67
3.6.3. Phương pháp tự học của sinh viên ……………
69 5
3.6.4. Mối tương quan giữa ý thức, thái độ và phương pháp tự học đến kết
quả học tập của sinh viên ……… ……
72
3.6.5. Đánh giá một số yếu tố khác tác động đến kết quả học tập của sinh
viên …………… …………… ……………
74
Tiểu kết Chương 3 …………… ………………… …………… ………
77
KẾT LUẬN VÀ MỘT SỐ GỢI Ý ĐỀ XUẤT
6
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT
Viết tắt
Giải nghĩa
ĐH
Đại học
ĐHQG-HCM
Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh
Eds.
Editors
EFA
Exploratory Factor Analysis
GV
Giảng viên
H
0
Null Hypothesis
KHXH&NV
Khoa học Xã hội và Nhân văn
KMO
Kaiser-Meyer-Olkin
NXB
Nhà xuất bản
pp.
Pages
Số lượng tổng mẫu nghiên cứu theo năm học
39
Bảng 2.2:
Phân bổ số lượng người tham gia khảo sát thử
44
Bảng 2.3:
Hệ số Conbach Alpha của các biến quan sát trong bảng khảo
sát thử
45
Bảng 3.1:
Sự hài lòng của sinh viên với việc tự học so với kết quả học
tập mong đợi
52
Bảng 3.2:
Bảng ma trận nhân tố đã xoay trong kết quả EFA
55
Bảng 3.3:
Ma trận hệ số tương quan
57
Bảng 3.4:
Đánh giá độ phù hợp của mô hình hồi quy tuyến tính bội
59
Bảng 3.5:
Kiểm định độ phù hợp của mô hình hồi quy tuyến tính bội
59
Bảng 3.6:
Các thông số thống kê từng biến trong phương trình hồi quy
59
Bảng 3.7:
Kết quả kiểm định Spearman các biến độc lập với RES
8
DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ, HÌNH VẼ
Sơ đồ 1:
Mô hình nghiên cứu của đề tài
36
Sơ đồ 2:
Quy trình nghiên cứu xử lý thông tin
40
Sơ đồ 3:
Kết quả kiểm định mô hình nghiên cứu của đề tài
63
Biểu đồ 3.1:
Tỷ lệ trả lời của sinh viên theo năm học
48
Biểu đồ 3.2:
Tỷ lệ trả lời của sinh viên theo giới tính
48
Biểu đồ 3.3:
Tỷ lệ trả lời của sinh viên theo nơi ở trước khi học đại học
49
Biểu đồ 3.4:
Số giờ tự học trung bình một ngày của sinh viên
59
Biểu đồ 3.5:
Số ngày làm thêm trong tuần và số giờ làm thêm trong ngày
51
Biểu đồ 3.6:
Xếp loại học lực trung bình chung giữa 2 học kỳ
52 9
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài nghiên cứu
Tự học có vai trò quan trọng đối với con đường học vấn của mỗi cá nhân.
Tuy trong giáo dục nhà trường có sự hướng dẫn của người thầy, nhưng việc tự học
vẫn là yếu tố quyết định và còn là nhân tố trực tiếp trong việc nâng cao chất lượng
đào tạo của nhà trường.
Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nói “học tập là một việc suốt đời,” “trong cách
học, phải lấy tự học làm cốt,” tự học có vai trò đặc biệt quan trọng, là một trong
những yếu tố quyết định tạo nên trí tuệ con người. Nếu thiếu sự nỗ lực tự học thì kết
quả học tập của người học không thể cao, cho dù điều kiện ngoại cảnh thuận lợi đến
mấy như có thầy giỏi, tài liệu hay, môi trường học tập tốt Và với Bác, nguyên lý
và phương thức học được tóm gọn trong mấy câu sau: “Học ở trường, học trong
sách vở, học lẫn nhau và học dân.” [8] Trong thư gửi Hội thảo khoa học nghiên cứu
phát triển tự học, tự đào tạo tổ chức tại Hà Nội ngày 6/1/1998, nguyên Tổng bí thư
Đỗ Mười phát biểu: “Tự học, tự đào tạo là con đường phát triển suốt cuộc đời của
mỗi người, trong điều kiện kinh tế – xã hội nước ta hiện nay và cả mai sau đó cũng
là truyền thống quý báu của người Việt Nam và dân tộc Việt Nam. Chất lượng và
hiệu quả giáo dục được nâng cao khi tạo ra được năng lực sáng tạo của người học,
khi biến được quá trình giáo dục thành quá trình tự giáo dục. Qui mô của giáo dục
được mở rộng khi có phong trào toàn dân tự học.” Điều đó lại khẳng định thêm vai
trò của việc tự học.
Điều 40 của Luật Giáo dục 2005 (được thông qua tại kỳ họp thứ 7 của Quốc
hội khóa XI ngày 14/6/2005) nêu rõ: “Phương pháp đào tạo trình độ cao đẳng, trình
độ đại học phải coi trọng việc bồi dưỡng ý thức tự giác trong học tập, năng lực tự
Trong thời gian 7 năm thực hiện chuyển đổi từ học chế niên chế sang học
chế tín chỉ, Trường ĐH KHXH&NV, ĐHQG-HCM
2
luôn xác định SV là trung tâm 1
công bố theo Quyết định số 89/QĐ-TTg ngày 9/1/2013
2
từ năm học 2006-2007 theo Quyết định số 105/QĐ-ĐT ngày 10/8/2006 của Hiệu trưởng
Trường ĐH KHXH&NV, ĐHQG-HCM
11
của quá trình đào tạo; luôn yêu cầu SV năng động trong học tập cũng như nghiên
cứu khoa học. Đào tạo theo học chế tín chỉ 7 năm qua, Trường ĐH KHXH&NV,
ĐHQG-HCM đã gặt hái được nhiều thành công, nhưng cũng đối mặt không ít khó
khăn. Bảy năm là đủ dài để nhìn nhận lại hoạt động tự học của SV đang theo học tại
trường, nhằm đánh giá hiệu quả của hoạt động tự học đối với sự thành công của SV
trong hệ đào tạo này.
Liệu ý thức tự giác trong học tập, năng lực tự học, tự nghiên cứu và phát
triển tư duy sáng tạo của SV ngành song ngữ Nga – Anh có thực sự được nâng cao
không? Liệu có phải do đặc thù của chương trình song ngữ nên khối lượng chương
trình đào tạo nặng và vì vậy mà đòi hỏi năng lực tự học của SV cao hơn so với năng
lực tự học của SV các chương trình khác hay không? Để tìm hiểu những vấn đề này,
chúng tôi đã chọn đề tài “Tác động của ý thức, thái độ và phương pháp tự học đến
kết quả học tập của sinh viên” (Nghiên cứu trường hợp sinh viên ngành Song ngữ
Nga – Anh, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia
Thành phố Hồ Chí Minh) để tiến hành nghiên cứu.
2. Mục đích và mục tiêu nghiên cứu
2.1. Mục đích nghiên cứu
(2) Ý thức, thái độ và phương pháp tự học của SV ngành Song ngữ Nga – Anh
tại Trường ĐH KHXH&NV, ĐHQG-HCM có tác động như thế nào đến kết
quả học tập của họ?
(3) Các đề xuất, giải pháp nào có thể được áp dụng để tăng cường tính hiệu quả
của hoạt động tự học của SV, góp phần nâng cao chất lượng dạy và học
ngành Song ngữ Nga – Anh tại Trường ĐH KHXH&NV, ĐHQG-HCM?
4.2. Giả thuyết nghiên cứu
i) Ý thức tự học của SV ngành Song ngữ Nga – Anh càng cao thì kết quả học
tập của SV càng cao. 3
số liệu được lấy từ Phòng Tổ chức – Cán bộ, Trường ĐH KHXH&NV, ĐHQG-HCM
13
ii) Thái độ tự học của SV ngành Song ngữ Nga – Anh càng tích cực thì kết quả
học tập của SV càng cao.
iii) Phương pháp tự học của SV ngành Song ngữ Nga – Anh càng tốt thì kết
quả học tập của SV càng cao.
5. Đối tượng và khách thể nghiên cứu
5.1. Đối tượng nghiên cứu
Các yếu tố về ý thức, thái độ, phương pháp tự học và kết quả học tập của SV
ngành Song ngữ Nga – Anh, Trường ĐH KHXH&NV, ĐHQG-HCM.
5.2. Khách thể nghiên cứu
SV đang theo học ngành Song ngữ Nga – Anh tại Khoa Ngữ văn Nga, GV
giảng dạy ngành Song ngữ Nga – Anh tại Khoa Ngữ văn Nga, và Ban Cố vấn học
tập của Trường ĐH KHXH&NV, ĐHQG-HCM.
6. Phương pháp tiếp cận nghiên cứu
Đề tài sử dụng kết hợp các phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng.
6.1. Phương pháp nghiên cứu định tính
15
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN
1.1. Một số thuật ngữ và khái niệm liên quan
1.1.1. Tự học là gì?
1.1.1.1. Khái niệm “tự học”
Tuy đã được nghiên cứu từ lâu nhưng thuật ngữ tự học (auto-didacticism/
learner autonomy/ autonomous learning/ self-instruction/ self-study/ self-access/
self-direction/ self-directed learning/ self-planned learning/ self-education,…) lại là
một thuật ngữ gây nhiều tranh luận, và đôi khi các nhà giáo dục học và ngôn ngữ
học không thể thống nhất hoàn toàn với nhau về định nghĩa tự học là thế nào. Đối
với một số nhà giáo dục như Holec (1981) [31] và Dickinson (1987) [27], việc phân
biệt các thuật ngữ này là cần thiết; đối với một số nhà giáo dục trong đó có Knowles
(1976) [33], những thuật ngữ này không có khác biệt lớn về ý nghĩa được truyền tải
cũng như nội dung công việc được mô tả.
Một số nhà nghiên cứu giáo dục nổi tiếng trên thế giới đã định nghĩa về tự
học như sau:
i) Tự học tìm hiểu mối quan hệ giữa người biết và cái được biết đến, để hiểu
được hình thức và bản chất của thực tế là những gì. (Kuzmik & Bloom,
2008: 207) [34]
ii) Tự học có thể được coi là một sự khởi đầu từ giáo dục như một nỗ lực xã hội
Dưới góc độ nghiên cứu hoạt động tự học như là một hình thức tổ chức hoạt
động dạy học ở đại học, tác giả Lưu Xuân Mới (2000: 276) [11] cho rằng: “Tự học
là hình thức hoạt động nhận thức của cá nhân nhằm nắm vững hệ thống tri thức và
kĩ năng do chính SV tiến hành ở trên lớp, ở ngoài lớp theo hoặc không theo chương
trình và sách giáo khoa đã được quy định. Tự học là một hình thức tổ chức dạy học
17
cơ bản ở đại học có tính độc lập cao và mang đậm nét sắc thái cá nhân nhưng có
quan hệ chặt chẽ với quá trình dạy học.”
Nhìn chung, các tác giả đều quan niệm rằng, tự học là học với sự chủ động,
độc lập và mang tính tích cực, tự giác ở mức độ cao. Tự học là quá trình mà trong
đó, chủ thể người học phải tự biến đổi mình, thích nghi, tự làm phong phú giá trị
của mình trong quá trình lĩnh hội kiến thức thông qua ý chí, nghị lực và sự say mê
học tập của cá nhân.
Tuy có nhiều cách định nghĩa khác nhau, nhưng vấn đề chính là chúng ta
xem tự học là phương tiện hay là mục đích cuối cùng. Hai cách nhìn này đan xen
lẫn nhau và cả hai đều có thể là một phần trong quan điểm của chúng ta về việc học
ngôn ngữ hay việc học nói chung. Do đó, có thể hiểu ngắn gọn rằng, tự học ở đây
chính là một quá trình tự giác tích cực, gắn liền với ý thức, thái độ, động cơ, tình
cảm, ý chí,… của người học nhằm biến những kiến thức và kỹ năng nhận được từ
kho tàng tri thức của nhân loại thành tài sản riêng của người học; bên cạnh đó,
người học đào sâu kiến thức và mài giũa các kỹ năng này, cố gắng liên hệ và áp
dụng chúng vào cuộc sống thực tiễn của mỗi cá nhân người học.
1.1.1.2. Ý thức tự học
Theo “Tâm lý học nhận thức,” Neisser (1967) [36] đã chỉ ra rằng ý thức là
hình thức phản ánh tâm lý cao nhất chỉ có ở con người, là sự phản ánh bằng ngôn
ngữ những gì con người đã tiếp thu trong quá trình quan hệ qua lại với thế giới
khách quan. Ý thức là một hiện tượng tâm lý – xã hội có kết cấu rất phức tạp bao
gồm nhiều thành tố khác nhau có quan hệ với nhau. Có thể chia cấu trúc của ý thức
theo hai chiều:
đổi nhất định.” Đó là “tổng thể những biểu hiện ra bên ngoài của ý nghĩ, tình cảm
của cá nhân đối với con người hay một sự việc nào đó.” Thái độ là một sự biểu lộ
mang tính chất đánh giá (tức gắn một ý nghĩa tích cực hoặc tiêu cực) của một người
19
đối với người khác, đối với sự vật, sự kiện. Nó phản ánh sự cảm nhận của một
người về một cái gì đó.
Vậy, thái độ tự học của sinh viên chính là cách nghĩ, cách nhìn và cách hành
động của sinh viên về việc tự học.
1.1.1.4. Phương pháp tự học
Theo Từ điển tiếng Việt (Hoàng Phê, 2009: 1020) [7], phương pháp là “cách
thức nghiên cứu, nhìn nhận các hiện tượng của tự nhiên và đời sống xã hội được
chủ thể sử dụng nhằm thực hiện một mục đích nhất định nào đó, là con đường đi tới
nhận thức sự vật khách quan hay là tập hợp những phương tiện tác động vào đối
tượng để đạt đến mục đích đặt ra.”
Vậy, phương pháp tự học của sinh viên chính là cách thức mà sinh viên tổ
chức việc tự học của mình như việc đặt mục tiêu, lên kế hoạch, thực hiện việc tự học
của mình để nhằm hướng tới đạt được kết quả cao trong học tập.
1.1.1.5. Bản chất của tự học
Thực chất, tự học là một quá trình học tập, một quá trình nhận thức không
trực tiếp có GV. Đó là “lao động khoa học,” vất vả hơn nhiều so với quá trình học
có thầy bởi vì người học phải tự xây dựng cho mình cách học và sử dụng hợp lý các
điều kiện, hình thức, phương tiện học tập để đạt được những kết quả mong muốn.
Tuy nhiên, khi người học đã tự tiếp nhận kiến thức thì vai trò người thầy (hướng
dẫn, tác động ) là không thể thiếu. Như vậy, bản chất của tự học là tự làm việc với
chính mình trước, sau đó mới là nghiên cứu tài liệu thông qua việc trao đổi với các
bạn bè cùng nhóm và theo sự hướng dẫn của thầy.
Tóm lại, bản chất của tự học chính là người học chủ động lĩnh hội kiến thức,
chủ động tìm kiếm thông tin. Do đó, GV không nên áp đặt cho người học mà phải tổ
chức một cách hệ thống các hoạt động học tập nhằm giúp người học tự lĩnh hội
tự tin hơn trong việc lựa chọn cuộc sống cho mình. Hơn thế, tự học thúc đẩy SV 4
Nguyên văn bằng tiếng Anh là: “We cannot always build the future for our youth, but we
can build our youth for the future.” (Franklin D. Roosevelt, 1940)
21
lòng ham học, ham hiểu biết, khát khao vươn tới những đỉnh cao của khoa học,
sống có hoài bão, ước mơ. Qua đó, có thể nói rằng, tự học của SV không chỉ là một
nhân tố quan trọng trong lĩnh hội tri thức mà còn có ý nghĩa to lớn trong việc hình
thành nhân cách SV.
1.1.1.7. Mục đích của tự học
Mục tiêu của tự học không chỉ là những kiến thức, những sự kiện được ghi
nhớ một cách máy móc mà còn là con đường tư duy để đi đến kiến thức đó. Albert
Einstein (1921) từng nói: “Giá trị của giáo dục đại học không phải ở việc học nhiều
sự kiện, mà là luyện cho trí óc suy nghĩ.”
5
Mục tiêu đó, giá trị đó khó lòng đạt được
nếu SV không biết cách tự học.
Mục đích đích thực và chính yếu của tự học là để trau dồi kiến thức, mở
mang trí tuệ, rèn luyện nhân cách và làm người hữu ích cho xã hội. Những mục tiêu
đó không thể chỉ học trong vòng vài năm, mà phải học suốt đời, chính vì thế mà ở
các nước phương Tây người ta có khái niệm lifelong learning (học suốt đời). “Học
tập suốt đời là quá trình học liên tục, tự nguyện và chủ động để chúng ta hấp thu tri
thức và kỹ năng mới qua học hành và kinh nghiệm không chỉ trong nhà trường mà
còn ngoài xã hội nói chung” (Nguyễn Văn Tuấn, 2011) [18]. Đặc biệt, trong xã hội
học tập như ngày nay, người ta tự học để biết, để làm người, để làm việc và để
chung sống − bốn động cơ này luôn thôi thúc con người ta phải luôn học tập để đạt
đến chân, thiện, mỹ.
trình tự học. Nếu thiếu sự kiên trì, những yêu cầu cao, sự nghiêm túc của bản thân
thì SV không bao giờ thực hiện được kế hoạch học tập do chính mình đặt ra. Đây
cũng là điều kiện giúp SV từng bước nâng cao chất lượng học tập của bản thân. Về
phía nhà trường, việc tổ chức có hiệu quả các hoạt động tự học cho SV cũng sẽ góp
phần nâng cao chất lượng đào tạo và hoàn thành mục tiêu giáo dục của trường.
Tự học được tổ chức tốt không những cung cấp cho SV những kiến thức
mới, bổ ích mà còn giúp họ rất nhiều trong công tác sau này. Quá trình tự học sẽ rèn
cho người học thói quen độc lập suy nghĩ, giải quyết vấn đề khó khăn trong công
việc, trong cuộc sống, qua đó giúp họ tự tin hơn trong mọi hoạt động. Khi tự học,
người học sẽ được tiếp cận nhiều thuật ngữ, nhiều cách đề cập một vấn đề, vì vậy
họ trở nên năng động hơn, tự chủ hơn trong việc tiếp thu tri thức. Từ đó, thấy được
tự học không chỉ là một nhân tố quan trọng trong lĩnh hội tri thức mà còn có ý nghĩa
to lớn trong việc hình thành nhân cách người học.
23
Tóm lại, vấn đề tự học có vai trò, ý nghĩa và tác dụng rất quan trọng đối với
việc nâng cao chất lượng đào tạo của nhà trường. Thực hiện tốt vấn đề tự học giúp
SV rèn luyện thói quen độc lập suy nghĩ, độc lập giải quyết vấn đề khó khăn trong
công việc, trong cuộc sống, qua đó giúp họ tự tin hơn trong mọi hoạt động. Vì vậy,
để nâng cao hiệu quả hoạt động tự học của SV nhằm góp phần nâng cao chất lượng
đào tạo của nhà trường, trước hết cần nâng cao nhận thức về nội dung, mục tiêu, ý
nghĩa và tác dụng của vấn đề tự học cho SV, đội ngũ GV và giáo viên chủ nhiệm
lớp. Đây phải được coi là giải pháp hàng đầu và cần được thực hiện một cách
thường xuyên tại trường.
1.1.2. Tác động là gì?
Trên quan điểm đánh giá trong giáo dục, “tác động có thể coi như là những
kết quả của một chương trình tới một cộng đồng lớn hơn.”
6
(Weiss, 1998: 331) [43]
Theo Từ điển tiếng Việt (Hoàng Phê, 2009: 1134) [7], tác động có nghĩa là
Nghĩa là nếu biết cách tự học (có ý thức tự học tốt, thái độ tự học đúng đắn và
phương pháp tự học hiệu quả) thì kết quả học tập của SV sẽ cao hơn. Họ sẽ thu
được những kiến thức, kỹ năng, thái độ nằm trong mục tiêu của môn học nhiều hơn
so với những SV chưa có cách tự học hiệu quả.
1.2. Tổng quan nghiên cứu
Cuối thế kỷ XX, trong bối cảnh đào tạo tín chỉ chiếm ưu thế với quan điểm
“lấy người học làm trung tâm” của quá trình dạy và học, một loạt các nghiên cứu lý
thuyết của các học giả nước ngoài về hoạt động tự học và năng lực tự học ra đời
trong lĩnh vực khoa học giáo dục như các học thuyết của Holec (1981) [31], Little
(1990) [35], Tudor (1996) [41], Benson (2001) [25], Oxford (2003) [37]…
Dưới đây là một số công trình nghiên cứu ở nước ngoài có liên quan đến đề
tài đang nghiên cứu:
Kirmani & Siddiquah (2008) [32] đã nghiên cứu tác động của một số yếu tố
ảnh hưởng đến kết quả học tập của 353 SV của các ngành khác nhau thuộc trường