ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
VIỆN ĐẢM BẢO CHẤT LƯỢNG GIÁO DỤC
BÙI NGỌC QUANG TÁC ĐỘNG CỦA Ý THỨC, THÁI ĐỘ VÀ PHƯƠNG PHÁP
TỰ HỌC ĐẾN KẾT QUẢ HỌC TẬP CỦA SINH VIÊN
(Nghiên cứu trường hợp sinh viên ngành Song ngữ Nga – Anh,
Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn,
Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh)
Chuyên ngành: Đo lường và đánh giá trong giáo dục
(Chuyên ngành đào tạo thí điểm) LUẬN VĂN THẠC SĨ Người hướng dẫn khoa học: TS. Nguyễn Thị Thu Hương
5. Đối tượng và khách thể nghiên cứu ……………………………………
13
6. Phương pháp tiếp cận nghiên cứu ………………………………………
13
Chương 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN ……………………….
15
1.1. Một số thuật ngữ và khái niệm liên quan …………… …………….
15
1.1.1. Tự học là gì? …………… …………… …………… ………
15
1.1.1.1. Khái niệm “tự học” …………… …………… ………
15
1.1.1.2. Ý thức tự học …………… ……………….…… ………
17
1.1.1.3. Thái độ tự học …………… …………… ………
18
1.1.1.4. Phương pháp tự học …………… …………… ………
19
1.1.1.5. Bản chất của tự học …………… …………… … ……
19
1.1.1.6. Vai trò của tự học …………… …………… …………
20
1.1.1.7. Mục đích của tự học …………… …………… ………….
21
1.1.1.8. Ý nghĩa của tự học …………… …………… ………
21
1.1.2. Tác động là gì? …………… …………… …………… ………
23
1.1.3. Kết quả học tập …………… …………… …………… ……
23
Tiểu kết Chương 2 …………… ………………… …………… ………
46
Chương 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU …………………………… ….
47
3.1. Thông tin chung về kết quả khảo sát …………….………
47
3.2. Đánh giá độ tin cậy của thang đo …………… ………… ……
53
3.3. Kiểm định mô hình phân tích nhân tố …………… …… ………….
54
3.4. Kiểm định mô hình phân tích hồi quy tuyến tính bội …………………
57
3.5. Kiểm định các giả thuyết nghiên cứu …………… ………
64
3.6. Tác động của ý thức, thái độ và phương pháp tự học đến kết quả học
tập của sinh viên kết quả khảo sát …………… ………….……
64
3.6.1. Ý thức tự học của sinh viên ……………
65
3.6.2. Thái độ tự học của sinh viên ……………
67
3.6.3. Phương pháp tự học của sinh viên ……………
69 5
3.6.4. Mối tương quan giữa ý thức, thái độ và phương pháp tự học đến kết
quả học tập của sinh viên ……… ……
72
104 1
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài nghiên cứu
Tự học có vai trò quan trọng đối với con đường học vấn của
mỗi cá nhân. Tuy trong giáo dục nhà trường có sự hướng dẫn của
người thầy, nhưng việc tự học vẫn là yếu tố quyết định và còn là
nhân tố trực tiếp trong việc nâng cao chất lượng đào tạo của nhà
trường.
Điều 40 của Luật Giáo dục 2005 (được thông qua tại kỳ họp
thứ 7 của Quốc hội khóa XI ngày 14/6/2005) nêu rõ: “Phương
pháp đào tạo trình độ cao đẳng, trình độ ĐH phải coi trọng việc
bồi dưỡng ý thức tự giác trong học tập, năng lực tự học, tự nghiên
cứu, phát triển tư duy sáng tạo, rèn luyện kỹ năng thực hành, tạo
điều kiện cho người học tham gia nghiên cứu, thực nghiệm, ứng
dụng.”
Trước tầm quan trọng của việc tự học, Thủ tướng chính phủ đã
phê duyệt Đề án Xây dựng xã hội học tập giai đoạn 2012-2020 với
quan điểm chỉ đạo: “Trong xã hội học tập, mọi cá nhân có trách
nhiệm học tập thường xuyên, suốt đời, tận dụng mọi cơ hội học
tập để làm người công dân tốt; có nghề, lao động với hiệu quả
SV năng động trong học tập cũng như nghiên cứu khoa học. Đào
tạo theo học chế tín chỉ 7 năm qua, ĐH KHXH&NV, ĐHQG-
HCM đã gặt hái được nhiều thành công, nhưng cũng đối mặt
không ít khó khăn. Bảy năm là đủ dài để nhìn nhận lại hoạt động
tự học của SV đang theo học tại trường, nhằm đánh giá hiệu quả
của hoạt động tự học đối với sự thành công của SV trong hệ đào
tạo này.
Liệu ý thức tự giác trong học tập, năng lực tự học, tự nghiên
cứu và phát triển tư duy sáng tạo của SV ngành song ngữ Nga –
Anh có thực sự được nâng cao không? Liệu có phải do đặc thù của
3
chương trình song ngữ nên khối lượng chương trình đào tạo nặng
và vì vậy mà đòi hỏi năng lực tự học của SV cao hơn so với năng
lực tự học của SV các chương trình khác hay không? Để tìm hiểu
những vấn đề này, chúng tôi đã chọn đề tài “Tác động của ý thức,
thái độ và phương pháp tự học đến kết quả học tập của sinh
viên” (Nghiên cứu trường hợp sinh viên ngành Song ngữ Nga –
Anh, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học
Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh) để tiến hành nghiên cứu.
2. Mục đích và mục tiêu nghiên cứu
2.1. Mục đích nghiên cứu
Mục đích của đề tài là nghiên cứu các yếu tố tác động đến kết
quả học tập của SV ngành Song ngữ Nga – Anh, trên cơ sở đó đề
xuất những giải pháp nhằm tăng cường tính hiệu quả trong hoạt
động tự học của đối tượng này, góp phần đảm bảo và nâng cao
chất lượng dạy và học tại Trường ĐH KHXH&NV, ĐHQG-HCM.
2.2. Mục tiêu nghiên cứu
Để thực hiện mục đích trên, đề tài có các mục tiêu cụ thể sau:
(1) Khảo sát và tìm hiểu tình hình tự học của SV ngành Song
thì kết quả học tập của SV càng cao.
ii) Thái độ tự học của SV ngành Song ngữ Nga – Anh càng tích
cực thì kết quả học tập của SV càng cao.
iii) Phương pháp tự học của SV ngành Song ngữ Nga – Anh càng
tốt thì kết quả học tập của SV càng cao.
5. Đối tượng và khách thể nghiên cứu
6.1. Đối tượng nghiên cứu
Các yếu tố về ý thức, thái độ, phương pháp tự học và kết quả
học tập của SV ngành Song ngữ Nga – Anh, Trường ĐH
KHXH&NV, ĐHQG-HCM. 5
6.2. Khách thể nghiên cứu
SV đang theo học ngành Song ngữ Nga – Anh tại Khoa Ngữ
văn Nga, GV giảng dạy ngành Song ngữ Nga – Anh tại Khoa Ngữ
văn Nga, và Ban Cố vấn học tập của Trường ĐH KHXH&NV,
ĐHQG-HCM.
6. Phương pháp tiếp cận nghiên cứu
6.1. Phương pháp nghiên cứu định tính
Phương pháp hồi cứu tài liệu: sưu tầm và nghiên cứu các tài
liệu lý luận và các kết quả nghiên cứu thực tiễn trong và ngoài
nước về các vấn đề có liên quan đến đề tài. Các tư liệu này được
nghiên cứu, phân tích, hệ thống hóa sử dụng trong đề tài và sắp
xếp thành thư mục tham khảo.
Phỏng vấn sâu: tiến hành phỏng vấn Ban Cố vấn học tập, GV
và 10% SV trong danh sách chọn mẫu thuận tiện (mẫu không ngẫu
nhiên) nhằm thu thập thêm thông tin cho những câu hỏi mở, thông
tin thu về sẽ được tổng hợp, phân loại để trích dẫn trong luận văn
của mình như việc đặt mục tiêu, lên kế hoạch, thực hiện việc
tự học của mình để nhằm hướng tới đạt được kết quả cao
trong học tập.
Bản chất của tự học: là người học chủ động lĩnh hội kiến
thức, chủ động tìm kiếm thông tin.
Vai trò của tự học: “Tự học có vai trò rất quan trọng trong
việc nâng cao tính tích cực nhận thức và hiệu quả hoạt động
trí tuệ của người học.” (Kharlamov, 1978) [9]
Mục đích của tự học: là để trau dồi kiến thức, mở mang trí
tuệ, rèn luyện nhân cách và làm người hữu ích cho xã hội.
Ý nghĩa của tự học: tự học vừa mang ý nghĩa củng cố, trau
dồi tri thức vừa có ý nghĩa mở rộng hiểu biết.
1.1.2. Tác động là gì? “Tác động (cũng có thể xem như là kết quả)
có thể như dự định hoặc không như dự định; có thể là những tác
7
động tích cực hoặc tiêu cực; có thể đạt được ngay hoặc đạt được
sau một thời gian nhất định; và có thể kéo dài hoặc không kéo dài.
Tác động có thể quan sát được, đo đếm được trong suốt quá trình
thực thi, khi dự án kết thúc hoặc sau một thời gian khi kết thúc dự
án.” (DFID – Glossary, 1998).
1.1.3. Kết quả học tập
Trong khoa học và trong thực tế, kết quả học tập của SV được
hiểu theo hai nghĩa:
(1) Mức độ người học đạt được so với các mục tiêu đã xác định
do mình và GV đề ra dựa trên các tiêu chí đo lường đánh giá;
(2) Mức độ mà người học đạt được so với những người cùng học
khác, thông qua điểm số, xếp hạng.
Dù hiểu theo cách nào thì kết quả học tập đều thể hiện ở mức
độ đạt được các mục tiêu của việc dạy học gồm kiến thức, kỹ năng
động quyết định đến kết quả học tập của 1.803 SV năm thứ nhất
đang theo học 33 chuyên ngành tại trường ĐH Western Autralia.
Kết quả nghiên cứu này chỉ ra rằng, kết quả học tập của SV do 2
yếu tố chính quyết định, đó là yếu tố cá nhân và yếu tố môi trường
học tập. Trong đó, yếu tố năng lực tự học của mỗi cá nhân được
coi là yếu tố quan trọng nhất, tác động lớn đến kết quả học tập.
Nghiên cứu cũng cho thấy, điểm số đầu vào ĐH và kết quả học tập
của SV năm nhất có mối tương quan mạnh, thuận chiều với nhau,
đồng thời không có sự khác biệt về nơi học (trường công, trường
tư) trước khi SV vào ĐH đối với kết quả học tập của SV.
Bratti & Staffolani (2002) [26] đã nghiên cứu tác động của thời
gian tự học và thời gian dự lớp đến kết quả học tập của 371 SV
năm nhất Khoa Kinh tế, Trường ĐH Ancona (Ý). Hai tác giả này
cho rằng, thời gian dự lớp có tác động thuận chiều đến kết quả học
tập, nhưng không mạnh bằng số giờ tự học của SV và tuỳ theo
từng đặc thù của môn học mà SV phân bổ thời gian hợp lý giữa tự
9
học ở nhà và học trên lớp sẽ cho kết quả học tập tốt hơn. Các tác
giả cũng đã xây dựng được mô hình lý thuyết phân bổ giữa thời
gian học của SV và thành tích học tập, qua đó có thể dự báo được
kết quả học tập của SV khi áp dụng thành công mô hình này.
Tudor (1996) [41] nghiên cứu phương pháp lấy người học làm
trung tâm trong giảng dạy ngôn ngữ, đã xác lập rõ nhận thức về
việc tự học và tự chịu trách nhiệm về kết quả học tập của người
học qua học thuyết “lấy người học làm trung tâm.” Nghĩa là,
người học cần năng động trong học tập và nghiên cứu, cần có ý
thức, thái độ và phương pháp tự học hiệu quả thì mới có thể đáp
ứng được yêu cầu cao của việc học ở bậc ĐH.
Powers & Swinton (1985) [39] đã nghiên cứu tác động của tự
dẫn đến kết quả học tập không cao.
Diệp Thị Thanh (2006) [3] đã nghiên cứu một số phương pháp
tự học làm cầu nối giữa học tập và nghiên cứu khoa học của SV.
Tác giả này khẳng định rằng, tự học có ý nghĩa to lớn đối với bản
thân SV để hoàn thành nhiệm vụ học tập của họ đối với chất
lượng, hiệu quả của quá trình dạy học – đào tạo trong nhà trường
thông qua kết quả học tập.
Nguyễn Văn Hùng (2004) [17] đã nghiên cứu tự học – yếu tố
trực tiếp quyết định đến chất lượng đào tạo, cho rằng SV muốn đạt
kết quả cao trong học tập thì phải tuân thủ các yêu cầu về tự học
bắt buộc đối với SV như phải có thái độ học tập, thái độ tự học
đúng đắn, phương pháp học tập khoa học…
Lưu Xuân Mới (2003) [12] đã nghiên cứu kỹ năng tự học cho
SV ĐH, cho rằng phương pháp tự học với các kỹ năng cơ bản
nhằm định hướng và giúp SV nâng cao hoạt động tự học nhằm đạt
kết quả cao trong học tập.
Đặng Vũ Hoạt (1994) [4] đã nghiên cứu một số phương pháp
dạy học ĐH, cho rằng SV sau khi nhận tác động từ GV trong giờ
11
giảng, tiến hành hoạt động tự học, tự nghiên cứu tài liệu, chuẩn bị
cho xêmina, thực hành, luyện tập qua các hình thức làm bài tập,
thí nghiệm, tập vận dụng tri thức trong thực tiễn. Nghĩa là, dưới sự
tổ chức, hướng dẫn của GV, SV phải có thái độ tự học nghiêm túc
thông qua các hình thức làm bài tập, nghiên cứu, viết khóa luận tốt
nghiệp,… có như vậy kết quả học tập của SV mới cao được.
Tóm lại, các công trình nghiên cứu kể trên (trong nước và nước
ngoài) đã xem xét hoạt động tự học của SV trong quá trình đào tạo
theo những góc độ khác nhau. Các tác giả cũng trình bày những
phương pháp, lý luận dạy học cũng như nêu lên thực trạng của
HỌC TẬP
CỦA SV
tốt khi người học trực tiếp tham gia vào hoạt động học tập, môi
trường học tập.
Theo Oxford (2003) [37], việc tự học, tự chủ trong học tập của
người học chỉ nảy sinh và phát triển do yếu tố tâm lý của chính
bản thân người học, chứ không phải do yếu tố môi trường tác động
như quan điểm đã đề cập ở trên của Benson (2001).
Vygotsky (1986) [42] đã đưa khía cạnh xã hội của việc học vào
Học thuyết kiến tạo (Constructivism Theory). Về cơ bản đây là
một học thuyết dựa trên sự quan sát và nghiên cứu khoa học nhằm
trả lời cho câu hỏi: “Con người học như thế nào?”.
Sau khi nghiên cứu ba quan điểm trên về vấn đề tự học, chúng
tôi thấy rằng, quan điểm của Benson nhấn mạnh tầm quan trọng
của môi trường học tập, quan điểm của Oxford đề cao các đặc
điểm tâm lý của người học, trong khi quan điểm của Vygotsky lại
coi trọng sự tương tác giữa môi trường học tập và các đặc điểm
tâm lý của một cá nhân trong quá trình phát triển năng lực tự học
của người đó. Chúng tôi đã xây dựng mô hình nghiên cứu sau dựa
trên 3 quan điểm trên để tìm hiểu tác động ý thức, thái độ và
phương pháp tự học đối với kết quả học tập của SV:
Sơ đồ 2. Quy trình nghiên cứu xử lý thông tin
Xác định rõ vấn đề cần nghiên cứu
Xác định loại thông tin cần thu thập
Nhận diện nguồn gốc thông tin
Phương án thu thập thông tin
Thu thập và xử lý thông tin
Kiểm tra và phân tích dữ liệu đã xử lý
Sử dụng dữ liệu và báo cáo kết quả
Bước 1
Bước 2
Bước 3
Bước 4
Bước 5
Bước 6
Bước 7
14
3.1. Thông tin chung về kết quả khảo sát
Số phiếu thu về hợp lệ 265/294 phiếu phát ra
Thời gian tự học trung bình là khoảng 3 giờ/ngày và số ngày
làm thêm trung bình trong tuần khoảng 3,5 ngày/tuần và 3,6
giờ/ngày.
Học lực trung bình của SV dao động nhiều ở mức Trung bình
khá (43,8%) và Khá (33,2%). Sự hài lòng của SV so với kết quả
học tập mong đợi là rất thấp, chỉ có khoảng 10,9% SV tham gia trả
lời là ở mức Hài lòng và Hoàn toàn hài lòng.
3.2. Đánh giá độ tin cậy của thang đo
Kiểm tra hệ số của Cronbach đều có độ tin cậy trên 0,7.
3.3. Kiểm định mô hình phân tích nhân tố
Kết quả phân tích nhân tố cho thấy hệ số tải nhân tố (Factor
loading) của 22 biến quan sát đều đảm bảo giá trị phân biệt giữa
các nhân tố, vì đều lớn hơn 0,3. Trong 3 yếu tố dự kiến ban đầu
cần tiến hành phân tích đã có sự thay đổi, đó là biến số 14.Bạn
luôn học tính cực và chủ động trong lớp trong “Phương pháp tự
học” đã chuyển qua “Thái độ tự học”.
Kết quả chạy nhân tố EFA đã được lưu lại nhân số (factor
score) của 3 nhân tố một cách tự động với 3 giá trị tương ứng là
FAC1 (Ý thức tự học), FAC2 (Phương pháp tự học), FAC3 (Thái
độ tự học):
F
FAC1
= 0,831X
2
+ 0,806 X
5
+ 0,798 X
3
0,333X
18
F
FAC3
= 0,764X
8
+ 0,625X
7
+ 0,615X
9
+ 0,558X
10
+ 0,466X
14
+ 0,435X
11
16
3.4. Kiểm định mô hình phân tích hồi quy tuyến tính bội
Từ các kết luận trên, ta có phương trình hồi quy tuyến tính sau:
Kết quả học tập = 3,437 + 0,326 (Ý thức tự học) + 0,434 (Phương
pháp tự học) + 0,353 (Thái độ tự học)
Tóm lại, qua kết quả kiểm định mô hình nghiên cứu, giải thích
được 59,2% sự thay đổi của kết quả học tập là do 3 yếu tố tác
động (ý thức, thái độ và phương pháp tự học), còn lại 40,8% là do
các yếu tố khác tác động không nằm trong mô hình nghiên cứu
của đề tài. Sự tác động của 3 yếu tố đang nghiên cứu là sự tác
Song ngữ Nga – Anh càng tốt thì
kết quả học tập của SV càng cao.
0,434
0,000
3.6. Tác động của ý thức, thái độ và phương pháp tự học đến
kết quả học tập của sinh viên kết quả khảo sát
3.6.1. Ý thức tự học của sinh viên
Điểm trung bình của từng câu hỏi là khá cao và tương đối đồng
đều, dẫn đến điểm trung bình chung về ý thức tự học của SV là
4,15 (tương đương mức “Tốt”). Điều này chứng tỏ, đa số SV đã
17
hiểu và nhận thức được ý nghĩa, vai trò và tầm quan trọng của việc
tự học.
3.6.2. Thái độ tự học của sinh viên
Điểm trung bình chung về thái độ tự học của SV là 3,65 (tương
đương mức “Khá”). So với điểm trung bình chung về ý thức tự
học, điểm về thái độ tự học của SV đã giảm.
3.6.3. Phương pháp tự học của sinh viên
Phương pháp tự học của SV rất đa dạng và phong phú với điểm
trung bình chung là 3,55 (tương đương mức “Khá”). Mỗi SV có 1
phương pháp tự học riêng nên các phương án trả lời của SV về
phương pháp tự học cũng không đồng nhất. Tuỳ theo hoàn cảnh,
cách thức tự học mà SV đề ra mục tiêu, lập và triển khai thực hiện
kế hoạch tự học nhằm đạt được kết quả cao trong học tập.
3.6.4. Mối tương quan giữa ý thức, thái độ và phương pháp tự học
đến kết quả học tập của sinh viên
Bảng 3.6. Các thông số thống kê trong phương trình hồi quy
Coefficients(a)
Model
của 3
nhân tố đều có giá trị dương và đều có mức ý nghĩa thống kê (Sig.
= 0,000) trong mô hình phân tích hồi quy tuyến tính bội. Điều này
18
chứng tỏ rằng ý thức tự học, phương pháp tự học và thái độ tự học
có mối tương quan tuyến tính và đều có tác động cùng chiều đến
kết quả học tập.
Xác định hệ số hồi quy chuẩn hoá Beta để đánh giá mức độ
quan trọng của từng nhân tố trong mô hình, ta thấy mức độ tác
động của Phương pháp học tập (Beta = 0,516) đến Kết quả học
tập mạnh hơn Ý thức tự học (Beta = 0,387) và Thái độ tự học
(Beta = 0,420).
3.6.5. Đánh giá một số yếu tố khác tác động đến kết quả học tập
của sinh viên
Kết quả cho thấy không có sự khác biệt về kết quả học tập của
SV theo khoá học và nơi ở trước khi học ĐH. Kết quả kiểm tra
mối tương quan tuyến tính Pearson giữa mức độ hài lòng về tự
học, số giờ tự học có tương quan thuận với kết quả học tập. Tuy
nhiên, kết quả mối tương quan giữa số giờ làm thêm và kết quả
học tập lại là mối tương quan nghịch.
một số đề xuất cụ thể đối với 3 đối tượng là SV, GV, khoa và
nhà trường; các đề xuất cụ thể được trình bày trong phần sau,
để tăng cường tính hiệu quả của hoạt động tự học của SV, góp
phần nâng cao chất lượng dạy và học ngành Song ngữ Nga –
Anh tại Trường ĐH KHXH&NV, ĐHQG-HCM.
20
4. Kết quả nghiên cứu cũng phát hiện thêm rằng, ngoài 3 yếu tố
chính đã nêu ở trên, còn có 3 yếu tố khác ít nhiều tác động đến
kết quả học tập của SV. Đó là mức độ hài lòng tự học, thời
gian tự học và thời gian làm thêm của SV. Nghiên cứu cũng
cho thấy không có sự khác biệt về kết quả học tập của SV ở các
khóa, cũng như không có sự khác biệt giữa kết quả học tập với
nơi ở của SV trước khi học ĐH.
Một số gợi ý đề xuất
Đối với khoa và nhà trường
1. Do một số SV “không đủ thời gian để tự học” và để SV chủ
động hơn trong việc sắp xếp thời gian biểu trong việc tự học,
Phòng Đào tạo và Khoa Ngữ văn Nga cần lên kế hoạch và đảm
bảo kế hoạch giảng dạy ít thay đổi nhất; việc sắp xếp giữa các
môn học, giữa các ca học sao cho hợp lý nhất, tránh tình trạng
SV học dồn dập trong một ngày, giữa các ca học; các môn học
cần được học rải đều và xuyên suốt trong cả học kỳ; nên tổ
chức thi cuốn chiếu các môn chuyên ngành ngay sau khi kết
thúc học phần (hình thức thi đa dạng), tránh thi dồn dập trong
một thời điểm, tránh một ngày có nhiều ca thi…
2. Do một số SV “không được hướng dẫn cách tự học” nên nhà
trường, cụ thể là Khoa Ngữ văn Nga và Trung tâm Tư vấn
Hướng nghiệp và Phát triển nguồn nhân lực cần phối hợp tổ
chức toạ đàm/hội thảo về vấn đề tự học, qua việc mời chuyên
có nhu cầu và tâm huyết tới giảng dạy, cũng như nâng cấp
Phòng thực hành tiếng với những trang thiết bị chuyên dụng,
nhằm giúp SV nâng cao khả năng giao tiếp, trau dồi, tích luỹ
thêm kiến thức từ thực tế.
Đối với GV
1. Do một số SV “không đủ thời gian để tự học” nên GV hạn chế
tối đa việc dạy bù, thêm giờ, thêm tiết… nhằm tránh tình trạng