Sự hình thành và phát triển của các vương quốc cổ Champa
Trên dải đồng bằng ven biển miền Trung, các nhà khảo cổ học đã tìm
thấy trong một số di chỉ dấu vết của một nền văn hóa vật chất đặc trưng gọi
chung là văn hóa Sa Huỳnh . Văn hóa Sa Huỳnh là văn hóa thuộc giai đoạn
Sơ kỳ đồ sắt của cư dân nông nghiệp ở ven biển miền Trung và miền Nam, có
niên đại từ giữa thiên niên kỷ thứ nhất TCN đến đầu Công nguyên. Gần đây
khảo cổ học đã chứng minh văn hóa Bàu Tró (Quảng Bình) thuộc giai đoạn
Hậu kỳ đá mới là tiền thân của văn hóa Sa Huỳnh. Từ Phùng Nguyên đến
Đông Sơn ở miền Bắc, từ Bàu Tró đến Sa Huỳnh ở miền Trung và miền Nam
là những tuyến văn hóa có cùng nguồn gốc xa xưa và phát triển song song
với nhau, ảnh hưởng qua lại lẫn nhau, tạo nên nhiều nét gần gũi, tương
đồng. Với trình độ Sa Huỳnh, nhóm cư dân này đã bước vào thời kỳ hình
thành xã hội có giai cấp và Nhà nước.
Văn hóa Champa có nguồn gốc từ văn hóa Sa Huỳnh nhưng trên bước
đường phát triển đã chịu ảnh hưởng nhiều mặt và rất sâu sắc nền văn hóa
Ấn Độ. Khi mới lập nước, quý tộc Chăm đã tiếp thu và sử dụng ngay hệ thống
thần quyền của Ấn Độ để xây dựng hệ thống thần quyền cho vương quyền
mình. Người Chăm xưa tôn thờ các thần sơ khai của người Ấn, đứng đầu là
Inđra, vị thần chủ của các thần. Họ cũng sùng bái các thần Ấn giáo như là bộ
ba Bơrama, Visnu, Si va, và tiếp thu cả đạo Phật thuộc phái Đại thừa. Về chữ
viết, chữ Phạn (sanskrit) - một văn tự cổ của Ấn Độ cũng được tiếp thu cải
biến thành chữ Chăm và được sử dụng rất sớm ở Champa (đặc biệt là giai
đoạn từ thế kỷ II- VIII). Triều đình Champa đã lấy các từ Ấn Độ thậm chí các
địa danh Ấn Độ để đặt tên nước, tên châu, tỉnh và kinh đô của mình như
Champa, Amaravati (vùng bắc Champa), Sinhapura, Inđrapura, Vigiaya
Các công thức văn bia chữ Phạn, các điển tích tôn giáo và văn học Ấn Độ
cũng được các vua chúa, các học giả Champa lĩnh hội và sử dụng rất rộng
rãi. Người Chăm còn tiếp thu và sử dụng lịch Ấn Độ trong sản xuất và đời
sống. Đó là hệ thống lịch saka, áp dụng ở miền Bắc Ấn Độ từ ngày 3 tháng 3
năm 78 và được phổ biến sang nhiều nước Đông Nam Á, trong đó có
Champa. Người ta cũng tính thời gian theo chu kỳ 12 năm, mỗi năm 12
thế kỷ X, trên đại thể, có 3 vương triều kế tiếp nhau:
- Vương triều Gangaragia (cuối thế kỷ II- đầu thế kỷ VIII) đặt kinh đô ở Trà
Kiệu (huyện Duy Xuyên, Quảng Nam).
- Vương triều Panđuranga (giữa thế kỷ VIII- giữa thế kỷ IX), kinh đô thường
đặt chủ yếu tại Phan Rang (Ninh Thuận), nhưng Nha Trang (Khánh Hoà) là
nơi thờ cúng chính.
- Vương triều Đồng Dương ( Inđrapura ), giữa thế kỷ IX- cuối thế kỷ X, đặt
kinh đô ở làng Đồng Dương (huyện Thăng Bình, Quảng Nam).
Vương quốc cổ Champa nằm trên khu vực miền Trung và Nam Trung Bộ là
vùng có nhiều sản vật, khí hậu thuận lợi cho cây cối và các loài động vật
sinh sôi nảy nở. Người dân ở đây lấy sản xuất nông nghiệp là nghề chủ yếu.
Lúa tuy không nhiều, nhưng bù vào đó là rất nhiều loại rau quả và hoa màu.
Vương quốc Champa là vùng có nhiều lâm sản và khoáng sản nổi tiếng như
gỗ trầm hương (kỳ nam hương), vàng, bạc, đá quý. Sản xuất thủ công
nghiệp khá phát triển, trong đó nổi bật nhất là các nghề dệt, nghề chế tạo
đồ đựng, nghề làm đồ trang sức và vũ khí bằng kim loại. nghề đóng gạch và
xây dựng. Ngoài ra, nghề đóng thuyền và đi biển cũng phát triển mạnh. Đặc
biệt, kỹ thuật xây dựng tháp của người Chăm đạt tới trình độ rất cao.
Xã hội người Chăm ở vương quốc Champa cổ là xã hội của cư dân sản xuất
nông nghiệp và quan hệ chủ yếu trong xã hội cũng là những quan hệ về
ruộng đất, về chế độ sớ hữu và các hình thức sử dụng ruộng đất đó. Vua là
nhân vật chuyên chế, có uy quyền tuyệt đối, nhưng chưa thấy sự xuất hiện
các lãnh địa riêng của nhà vua, cũng hoàn toàn chưa thấy có dấu hiệu nào
chứng tỏ các quý tộc và quan lại có lãnh địa riêng hay có ruộng đất riêng.
Một khi không thấy có sở hữu ruộng đất lớn của vua và quý tộc - quan lại thì
ta có thể nghĩ rằng hầu hết ruộng đất đều do người nông dân giữ và canh
tác. Ruộng đất ở đây vẫn được coi là ruộng đất chung của công xã. Người
nông dân vẫn sống theo từng làng (tức công xã) và có thể làng đã giao
ruộng đất cho từng gia đình nông dân công xã canh tác. Công xã là nơi duy
trì các mối quan hệ cộng đồng và thân tộc trong đời sống kinh tế và tinh