ảnh hưởng của giá thể lên tăng trưởng tỷ lệ sống của cá leo (wallago attu) ương trong bể - Pdf 22

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA THỦY SẢN
NGUYỄN THANH SỬ
ẢNH HƯỞNG CỦA GIÁ THỂ LÊN TĂNG
TRƯỞNG
TỶ LỆ SỐNG CỦA CÁ LEO (Wallago attu)
ƯƠNG TRONG BỂ
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
NGÀNH NUÔI TRỒNG THỦY SẢN
2009
37
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA THỦY SẢN
NGUYỄN THANH SỬ
ẢNH HƯỞNG CỦA GIÁ THỂ LÊN TĂNG TRƯỞNG
TỶ LỆ SỐNG CỦA CÁ LEO (Wallago attu)
ƯƠNG TRONG BỂ
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
NGÀNH NUÔI TRỒNG THỦY SẢN
CÁN BỘ HƯỚNG DẪN
Ts. LAM MỸ LAN
Ths. BÙI CHÂU TRÚC ĐAN
2009
38
LỜI CẢM TẠ
Trước hết tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám Hiệu, Ban
Chủ Nhiệm Khoa Thủy Sản Trường Đại Học Cần Thơ đã tạo
điều kiện để tôi được học tập, nghiên cứu nâng cao kiến thức
trong thời gian qua.
Xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đối với Ts. Lam Mỹ Lan,
Ts. Dương Nhựt Long, Ts. Bùi Minh Tâm, Th.s. Nguyễn Bạch

cho tốc độ tăng trưởng nhanh hơn nghiệm thức 50% và 75% giá
thể. Tỷ lệ sống đạt cao nhất ở nghiệm thức 75% giá thể. Tốc độ
tăng trưởng và tỷ lệ sống không có sự khác biệt (p>0,05) giữa
các nghiệm thức.
Ở thí nghiệm 2: mật độ 500 con/m
2
, thể tích nước 500 lít,
với giá thể bằng dây nylon được bố trí vào 4 nghiệm thức thì
nghiệm thức 75% giá thể (3 bó) cho tốc độ tăng trưởng nhanh
hơn nghiệm thức 0%, 25% và 50% giá thể. Tỷ lệ sống nghiệm
thức 0% giá thể cao hơn các nghiệm thức còn lại. Tốc độ tăng
trưởng và tỷ lệ sống ở các nghiệm thức khác biệt không có ý
nghĩa (p>0,05).
Ở thí nghiệm 3 với 3 nghiệm thức: giá thể bằng dây
nylon, rong, không giá thể đều cho tốc độ tăng trưởng và tỷ lệ
sống khác biệt không có ý nghĩa (p>0,05).
Thực nghiệm cho thấy: ương cá Leo trong bể xi măng hay
bể nhựa có giá thể thì cá sẽ tăng nhanh về khối lượng và chiều
dài so với không có giá thể. Lượng giá thể (21,5 g) che phủ
25% diện tích mặt nước bể ương thì ương cá Leo trong bể xi
40
măng sẽ cho tốc độ tăng trưởng và tỷ lệ sống hiệu quả. Dây
nylon hay rong đều có thể làm giá thể tốt trong việc ương cá
Leo trong bể nhựa.
41
MỤC LỤC
Lời cảm tạ i
Tóm tắt ii
Mục lục iii
Danh sách bảng v

4.1.2. Một số yếu tố môi trường ở thí nghiệm 2 17
4.1.3. Một số yếu tố môi trường ở thí nghiệm 3 17
4.2. Ảnh hưởng của giá thể đến tăng trưởng và tỷ lệ sống
của cá Leo ương trong bể 18
4.2.1. Ương cá Leo trong bể xi măng ở mật độ 95
con/m
2
(thí nghiệm 1) 18
4.2.2. Ương cá Leo trong bể xi măng ở mật độ 500
con/m
2
(thí nghiệm 2) 24
4.2.3. Ương cá Leo trong bể nhựa (thí nghiệm 3) 28
Chương 5: Kết luận và đề xuất 33
5.1. Kết luận 33
5.2. Đề xuất 33
Tài liệu tham khảo 34
Phụ lục 37
43
DANH SÁCH BẢNG
Bảng 3.1. Thức ăn và thời gian cho ăn trong thí nghiệmtrang 14
Bảng 4.1. Một số yếu tố môi trường trong hệ thống thí nghiệm
1 16
Bảng 4.2. Một số yếu tố môi trường trong hệ thống thí nghiệm
2 17
Bảng 4.3. Một số yếu tố môi trường trong hệ thống thí nghiệm
3 18
Bảng 4.4. Tăng trưởng về khối lượng của cá Leo thí nghiệm 1
20
Bảng 4.5. Tăng trưởng về chiều dài của cá Leo thí nghiệm 1 22

Từ đầu những năm của thập kỷ 90 Việt Nam thường xuyên đứng hàng
thứ 7 trên thới giới về tổng sản lượng sản phẩm thủy sản. Từ năm 2000, Việt
Nam trở thành một trong 20 nước có kim ngạch xuất khẩu thủy sản trên 1 tỷ
USD và đứng hàng thứ 29 về sản lượng thủy sản xuất khẩu trên thới giới (Lê
Xuân Sinh, 2005). Có được tiếng vang đó, một phần nhờ sự đóng góp to lớn
của ngành nuôi trồng thủy sản nước ngọt, với những đối tượng nuôi truyền
thống như cá Tra, cá Basa, cá Lóc đồng, cá Rô đồng, tôm Càng xanh ở những
vùng nuôi nổi tiếng như: An Giang, Đồng Tháp, Cần Thơ…
Những năm gần đây thị trường sản phẩm thủy sản của Việt Nam có
nhiều biến động, các vụ kiện bán phá giá cá da trơn mà chủ yếu là cá Tra
(2003) và tôm (2004) đã từng làm cho nghề nuôi hai đối tượng chủ lực này lao
đao trong thời gian qua (Lê Xuân Sinh, 2005). Vì thế, việc tìm những đối
tượng nuôi mới đem lại lợi nhuận kinh tế cao, ổn định đầu vào và đầu ra nhằm
tăng thu nhập cho người dân, góp phần đa dạng hóa sản phẩm thủy sản, tăng
tính cạnh tranh trên thị trường thới giới đang được quan tâm.
Cá Leo (Wallago attu Bloch & Schneider, 1801) là loài có kích thước
lớn, phẩm chất thịt ngon, được nhiều người ưa thích (Trương Thủ Khoa và
Trần Thị Thu Hương, 1993). Từ đó, cho thấy cá Leo là loài có giá trị kinh tế,
có tiềm năng triển vọng lớn để phục vụ cho nhu cầu thực phẩm trong nước và
xuất khẩu. Tuy là loài có giá trị kinh tế cao, nhưng hiện nay nguồn lợi cá Leo
đánh bắt từ tự nhiên là chủ yếu, không đủ đáp ứng nhu cầu của thị trường.
Đồng thời, nguồn cá tự nhiên đang suy giảm mạnh cần được bảo vệ (Mai Đình
Yên, 1992, Trương Thủ Khoa và Trần Thị Thu Hương, 1993).
Từ năm 1945 đến năm 2006 đã có 84 tài liệu nghiên cứu liên quan đến
loài Wallago attu được công bố (Fishbase, (2006), trích bởi Nguyễn Bạch
Loan, 2008). Tuy nhiên, đến năm 2004, cá Leo mới được cho sinh sản nhân
46
tạo tại một trại cá ở Malaysia (Fishbase, (2005), trích bởi Nguyễn Bạch Loan,
2008).
Để nhân rộng một đối tượng nuôi cho người dân thì việc đảm bảo chủ

2.1. Tổng quan tình hình nghiên cứu cá Leo
2.1.1. Đặc điểm hình thái và phân loại cá Leo
Cá Leo thuộc họ cá Trèn (Siluridae) là một trong 8 họ thuộc bộ cá Trơn
(Siluriformes). Siluridae bao gồm 7 giống là: Belodontichthys, Hemisilurus,
Kryptopterus, Micronima, Ompok, Silurichthys và Wallago. Các loài cá thuộc
giống Wallago có những đặc điểm chung như: miệng rộng, mắt không nằm
dưới da, vi lưng có 5 tia vi, vi đuôi chẻ hai, rãnh chẻ sâu (Rainboth, 1996;
Fishbase, 2006 trích bởi Nguyễn Bạch Loan, 2008).
Trên thế giới, có 5 loài cá thuộc giống Wallago đã được xác định là:
Wallago attu, W. Leerii, W. hexanema, W. maculates, W. russelli và W.
miropogon (Fishbase, 2004; Fishbase, 2006). Loài cá Leo (Wallago attu) đã
được Bloch & Schneider định danh và công bố vào năm 1801 với tên khoa
học ban đầu Silurus attu. Sau đó Smith (1945), Taki (1974), Mai Đình Yên và
ctv (1992), Trương Thủ Khoa và Trần Thị Thu Hương (1993) cùng nhận thấy
rằng xếp loài cá Leo vào giống Wallagonia sẽ hợp lý hơn. Tuy nhiên,
Rainboth (1996), Fishbase (2005, 2006) lại không thống nhất với các tác giả
trên và cùng xếp loài cá này vào giống Wallago. Hiện nay, hầu hết các báo cáo
về cá Leo đều sử dụng tên khoa học là Wallago attu (trích bởi Nguyễn Bạch
Loan, 2008).
Theo báo cáo của Nguyễn Bạch Loan (2008) cá Leo được phân loại như sau:
Giới: Animalia
Ngành: Chordata
Lớp: Osteithyes
Lớp phụ: Actinopterygii
Bộ: Siluriformes
48
Họ: Siluridae
Giống: Wallago
Loài: Wallago attu (Bloch & Schneider, 1801)
Hình 2.1. Hình thái bên ngoài cá Leo

những loài cá phân bố rộng. Theo Bloch and Schneider (1801), nhiệt độ thích
hợp cho cá Leo sinh sống 19–290C, pH = 6–7 (trích bởi Phan Phương Loan,
2006).
Có thể bắt gặp cá Leo (Wallago attu) ở nhiều quốc gia ở Nam và Đông
Nam châu Á như: Pakistan, Ấn Độ, Sri Lanka, Afganistan, Nepal, Bangladesh,
Myanmar, Malaysia, Indonesia, Thái Lan, Lào, Cambodia, Trung Quốc và
Việt Nam (Trương Thủ Khoa và Trần Thị Thu Hương, 1993; Fishbase, 2004
trích bởi Nguyễn Bạch Loan, 2008).
Cá Leo (Wallago attu), là loài cá nội địa, phân bố chủ yếu ở các con
sông lớn, các hồ lớn. Ngoài ra, có thể bắt gặp loài cá này ở những dòng suối,
ở vùng cao. Cá trưởng thành, thường sống ở những nơi có mức nước sâu thuộc
các con sông chính hoặc các nhánh sông lớn. Khi mùa lũ đến, chúng sẽ di cư
lên những nơi nước đứng hoặc chảy chậm với nền đáy phủ lớp bùn hay lớp
phù sa như những cánh đồng, các vùng đất ngập nước sâu ở hai bên bờ sông,
kênh, rạch . Cá Leo sẽ ở lại đây trong suốt mùa lũ để tìm mồi và sinh sản. Khi
mùa lũ qua đi, cũng là lúc mực nước của dòng sông Mekong giảm xuống, cá
Leo sẽ trở về trú ẩn ở những vực nước sâu thuộc sông Mekong hay các phụ
lưu lớn và chúng sẽ sống tại đây suốt cả mùa khô (Fishbase, 2006 trích bởi
Nguyễn Bạch Loan, 2008).
2.1.3. Đặc điểm về dinh dưỡng
Cấu tạo và chức phận của cơ quan bắt mồi và tiêu hóa có liên hệ chặt
chẽ với sự khác biệt về thức ăn của cá. Theo Nikoloxki (1964), cá ăn thịt có
miệng kiểu vồ bắt, với đặc điểm là miệng rộng, răng sắc trên xương hàm,
xương lá mía và xương khẩu cái. Chiều dài của ruột có liên quan chặt chẽ đến
đặc điểm dinh dưỡng của cá, những loài cá thiên về động vật sẽ có chỉ số Li/L0
<= 1 (tỷ lệ của chiều dài ống tiêu hóa và chiều dài thân), cá ăn tạp có chỉ số
Li/L0 = 1-3 và cá ăn tạp thiên về thực vật có chỉ số Li/L0 > 3 (trích bởi Phan
Phương Loan, 2006).
50
Hầu hết các loài cá trơn đều có tập tính bắt mồi chủ động (Leygendre,

Tuy nhiên, theo Nguyễn Bạch Loan (2008) thì tương quan giữa chiều
dài và trọng lượng của cá Leo (kích thước 23–78 cm) thể hiện chặt chẽ qua
phương trình hồi qui W = 0,0032L3,2074 với hệ số tương quan R2 = 0,9661. Khi
1 tuổi, cá Leo (Wallago attu) có thể đạt kích cỡ khoảng 71,29 cm, đến 2 tuổi
thì chiều dài cá có thể lên đến 78,17 cm và khi cá được từ 3–7 tuổi thì chiều
51
của cá ít biến động và đạt từ 80,08–80,82 cm. Lúc cơ thể cá đạt chiều dài cực
đại 80,82 cm thì tốc độ tăng trưởng của cá Leo sẽ bị chậm lại.
Cá Leo (Wallago attu) là loài có kích thước lớn. Theo Mai Đình Yên
(1992), Rainboth (1996), kích thước tối đa của cá Leo đã tìm thấy là 200 cm,
nặng 25 kg . Tuy nhiên, ngư dân ở Ấn Độ đã tìm thấy cá Leo có trọng lượng
45 kg ở sông Kishna và sông Godavari, ngư dân Nepal cũng bắt được con cá
Leo có chiều dài 150 cm (Nguyễn Bạch Loan, 2008) và thực tế những con cá
Leo có kích cỡ 180 cm chiều dài là rất hiếm (Rainboth, 1996,
Chandrashekhariah et al, 2000 trích bởi Phan Phương Loan, 2006).
2.1.5. Đặc điểm thành thục và sinh sản của cá Leo
Cá Leo (Wallago attu) trưởng thành phải đạt kích thước trên 90 cm
chiều dài và có khối lượng trên 2 kg (Poulsen et al, 2005 trích dẫn bởi Phan
Phương Loan, 2006). Sức sinh sản của cá trơn thường rất lớn và thay đổi tùy
theo loài. Chẳng hạn như sức sinh sản tương đối của cá Tra dao động từ
130000–150000 trứng/kg cá cái; ở cá Kết là 9200–69000 trứng/kg cá cái; ở cá
Ngát là 1414–1560 trứng/kg cá cái (Nguyễn Văn Triều và cộng tác viên, 2006)
ở cá Leo là 46520–142000 trứng/kg cá cái (Dương Nhựt Long và Nguyễn
Hoàng Thanh, 2008).
Đặc điểm hình thái bên ngoài của cá Leo (Wallago attu) cái, đực được
Dương Nhựt Long và Nguyễn Hoàng Thanh nhận dạng: cá Leo cái có tuyến
sinh dục phát triển, bụng thường to hơn bụng cá đực và khi cá cái thành thục
lỗ sinh dục có điểm ửng hồng khá rõ ràng. Trong khi đó, cá đực thường có
kích cỡ nhỏ, bụng ốm và thon dài hơn cá cái và khi cá đực thành thục thường
có gai sinh dục kéo dài về phía đuôi và nhọn.

Theo Dương Nhựt Long và Nguyễn Hoàng Thanh (2008) thì kết quả
bước đầu ương cá Leo bột sau 30 ngày đã thu được: Ở mật độ 100 cá bột/m2
cho kết quả tỷ lệ sống cao nhất 12%, trọng lượng trung bình cá đạt 17 g/con. Ở
mật độ 200 cá bột/m2 cho kết quả tỷ lệ sống 4%, trọng lượng trung bình cá đạt
17,53 g/con. Ở mật độ 300 cá bột/m2 thu được tỷ lệ sống 2%, trọng lượng
trung bình cá đạt 18,28 g/con.
Với kết quả thực nghiệm trên ta thấy: mật độ ương giống càng cao sẽ
làm tăng tính cạnh tranh về dinh dưỡng và tăng cơ hội ăn lẫn nhau càng dữ
nên dẫn đến tỷ lệ sống càng thấp.
Để khắc phục nhược điểm trên, Nguyễn Hồ Nam đã tiến hành thí
nghiệm “Thử nghiệm ương cá Leo với mật độ và tỷ lệ giá thể khác nhau” đã
thu được những kết quả khả quan: Mật độ ương 2 con/lít cho tốc độ tăng
trưởng nhanh nhất và đạt tỷ lệ sống cao nhất so với mật độ ương 3 con/lít và 4
con/lít. Cá ương trong nghiệm thức không có giá thể tăng trưởng nhanh hơn
trong nghiệm thức giá thể 25% và 50%. Tuy nhiên, với tỷ lệ giá thể 50% diện
tích cho tỷ lệ sống cao nhất (32,22%) so với nghiệm thức có giá thể 25% (tỷ lệ
sống đạt 29,44%) và nghiệm thức không có giá thể (tỷ lệ sống đạt 26,11%).
Điều này, được tác giả khẳng định: “giá thể giúp nâng cao tỷ lệ sống trong quá
trình ương cá Leo trong bể”.
53
Tuy nhiên, theo kết quả nghiên cứu của Ngô Vương Hiếu Tính (2008)
cho rằng: Tỷ lệ sống của cá Leo giảm dần qua từng giai đoạn ương, trong 10
ngày đầu tỷ lệ sống của cá đạt cao nhất (65,4–91,2%) sau đó giảm dần đến
ngày thứ 30 chỉ đạt ở mức 14,87–51,33%. Sau 30 ngày ương, nghiệm thức có
tỷ lệ sống đạt cao nhất là nghiệm thức cho ăn hoàn toàn bằng trùn chỉ (51,33
%) tương ứng với khối lượng lúc này đạt 2,63 g/con, kế đến là nghiệm thức
cho ăn Moina (25,47%) tương ứng với khối lượng 2,99 g/con và thấp nhất là
nghiệm thức cho ăn Artemia (18,47%) tương ứng với khối lượng 4,02 g/con.
Nguồn thức ăn là Artemia không phù hợp cho việc sử dụng ương cá Leo giai
đoạn 10 ngày tuổi. Có thể sử dụng moina kết hợp với trùn chỉ để ương cá Leo

bằng lưới cho kết quả tốt nhất. Cowan (1984) cho rằng, 2 hoặc 3 ngày sau khi
ấu trùng ghẹ (Portunus trituberculatus) biến thái từ Zoae sang Megalopa ấu
trùng thường bám thành bể và đáy bể. Vì thế, các trại thường dùng lưới treo
vào bể. Ngoài việc hạn chế hiện tượng ăn nhau, giá thể còn làm cho thức ăn ở
trạng thái lơ lửng giúp ấu trùng ghẹ dễ bắt mồi. Trong các nghiên cứu ương
nuôi ấu trùng cua biển, các giá thể thường dùng cũng gồm chùm nylon, lưới,
vỏ nghêu sò (Trần Ngọc Hải, 1997; Trần Ngọc Hải và Trương Trọng Nghĩa,
2004).
2.2.2. Rong
a. Họ rong đuôi chó (Ceratophyllaceae): Thân thảo, mềm, không có
rễ, dài 30 - 50 cm, phân nhánh nhỏ dài, mọc lơ lửng trong nước. Lá mọc vòng
4-12, vò ra có mùi khét đặc biệt, phiến lá chia nhỏ ra thành bản hình sợi chỉ có
gai. Ở Việt Nam, rong đuôi chó mọc ở các ao, hồ, mương máng. Phát triển
mạnh nhất vào tháng 6-7 và từ tháng 9 thì lụi dần (vi.wikipedia.org).
Sự phân chia họ này thành các loài vẫn chưa được giải quyết dứt điểm,
nhưng người ta cho rằng có ít nhất là 5 loài chính (images.google.com.vn)
Ceratophyllum demersum (rong đuôi chó cứng)
Ceratophyllum echinatum (rong đuôi chó không gai)
Ceratophyllum muricatum (rong đuôi chó gai)
Ceratophyllum platycanthum (rong đuôi chó gai)
Ceratophyllum submersum (rong đuôi chó mềm)
b. Rong đuôi chồn (Hydrilia verticillata): thuộc họ Hydrocharitaceace
và bộ Hydrocharitables. Cây nhiều năm có đặc điểm: thân khúc, chiều cao
khoảng 80 cm, đường kính tán khoảng 60 cm, lá đơn đều hình mũi ghe, chiều
dài phiến lá 1,5 cm, rộng 0,2 cm, mép lá có răng cưa nhỏ, không cuống, rễ bất
định. Cây sống dưới nước, thường có trong các ao và trong ruộng
(vi.wikipedia.org).
55
CHƯƠNG 3
VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Hình 3.1. Giá thể dây nylon
Hình 3.2. Rong thí nghiệm
Cả 3 thí nghiệm đều được bố trí trong nhà. Các nghiệm thức được bố trí
hoàn toàn ngẫu nhiên với 3 nghiệm thức (thí nghiệm 1 và thí nghiệm 3), 4
nghiệm thức ( thí nghiệm 2) và 3 lần lặp lại cho mỗi thí nghiệm.
3.2.1.1. Thí nghiệm I: Ảnh hưởng của lượng giá thể lên tốc độ tăng trưởng và
tỷ lệ sống của cá Leo bột ương trong bể xi măng ở mật độ 95 con/m2
Bể xi măng sau khi được chuẩn bị xong, thì cấp nước vào với thể tích
khoảng 300 L, mật độ 95 con/m2, sau đó bố trí ngay lượng giá thể dây nylon
vào 3 nghiệm thức lần lượt là:
Nghiệm thức 1A: 25% giá thể trên diện tích mặt nước (1 bó: 21,5 g)
Nghiệm thức 1B: 50% giá thể trên diện tích mặt nước (2 bó)
Nghiệm thức 1C: 75% giá thể trên diện tích mặt nước (3 bó)
3.2.1.2. Thí nghiệm II: Ảnh hưởng của lượng giá thể lên tốc độ tăng trưởng
và tỷ lệ sống của cá Leo bột ương trong bể xi măng ở mật độ 500 con/m2
Bể xi măng sau khi được chuẩn bị xong, thì cấp nước vào với thể tích
khoảng 500 L, mật độ 500 con/m2, sau đó bố trí ngay lượng giá thể dây nylon
vào 4 nghiệm thức lần lượt là:
Nghiệm thức 2A: 0% giá thể trên diện tích mặt nước
Nghiệm thức 2B: 25% giá thể trên diện tích mặt nước (1 bó: 21,5 g)
Nghiệm thức 2C: 50% giá thể trên diện tích mặt nước (2 bó)
Nghiệm thức 2D: 75% giá thể trên diện tích mặt nước (3 bó).
57
Hình 3.3. Hệ thống bể xi măng ương cá Leo thí nghiệm 1 và 2
3.2.1.3. Thí nghiệm III: Ảnh hưởng của loại giá thể lên tốc độ tăng trưởng và
tỷ lệ sống của cá Leo bột ương trong bể nhựa
Bể nhựa (60 L) sau khi được chuẩn bị xong, thì cấp nước vào với thể
tích khoảng 50 L, mật độ 2 con/lít. Sau đó bố trí ngay giá thể vào 3 nghiệm
thức lần lượt là:
Nghiệm thức 3A: không giá thể

dài tổng của cá, ít nhất 30 con/lần.
59
Ngày
ương
Thức ăn
Lần cho
ăn/ngày
Giờ cho ăn
3–4
Moina + Trùn chỉ băm nhỏ
6
3.2.3.3. Tính toán kết quả
Tỷ lệ sống của cá (Suvirval Rate, SR)
Số cá thu được (con)
SR (%) = * 100
Số cá thả ban đầu (con)
Trọng lượng trung bình
Tổng trọng lượng cá cân được
W (g/con) =
Số cá đem cân
Chiều dài trung bình
Tổng chiều dài cá đo được
L (cm/con) =
Số cá đem đo
Tốc độ tăng trưởng tuyệt đối theo ngày (Daily Weight Gain, DWG)
về trọng lượng (g/ngày) hay (Daily Length Gain, DLG) về chiều dài
(cm/ngày).
W2(hay L2) – W1(hay L1)
DWG (g/ngày) hay DLG (cm/ngày)=
t2 – t1


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status