Tài liệu LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP: " ẢNH HƯỞNG CỦA GIÁ THỂ LÊN TĂNG TRƯỞNG TỶ LỆ SỐNG CỦA CÁ LEO (Wallago attu) ƯƠNG TRONG BỂ" - Pdf 10

37
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA THỦY SẢN
NGUYỄN THANH SỬ ẢNH HƯỞNG CỦA GIÁ THỂ LÊN TĂNG TRƯỞNG
TỶ LỆ SỐNG CỦA CÁ LEO (Wallago attu)
ƯƠNG TRONG BỂ LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
NGÀNH NUÔI TRỒNG THỦY SẢN

CÁN BỘ HƯỚNG DẪN
Ts. LAM MỸ LAN
Ths. BÙI CHÂU TRÚC ĐAN 2009
39
LỜI CẢM TẠ

Trước hết tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám Hiệu, Ban
Chủ Nhiệm Khoa Thủy Sản Trường Đại Học Cần Thơ đã tạo
điều kiện để tôi được học tập, nghiên cứu nâng cao kiến thức
trong thời gian qua.
Xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đối với Ts. Lam Mỹ Lan,
Ts. Dương Nhựt Long, Ts. Bùi Minh Tâm, Th.s. Nguyễn Bạch
Loan, Th.s Bùi Châu Trúc Đan và K.s Nguyễn Hoàng Thanh đã
tận tình dìu dắt, động viên và cho tôi những lời khuyên quý báu
trong suốt thời gian học cũng như khi thực hiện đề tài và hoàn
thành luận văn.
Tôi xin được gửi lời cảm ơn quý Thầy, Cô Khoa Thủy
Sản - Trường Đại Học Cần Thơ đã dạy và truyền đạt kiến thức

nghiệm thức 25% giá thể che phủ trên mặt nước (1 bó 21,5 g)
cho tốc độ tăng trưởng nhanh hơn nghiệm thức 50% và 75% giá
thể. Tỷ lệ sống đạt cao nhất ở nghiệm thức 75% giá thể. Tốc độ
tăng trưởng và tỷ lệ sống không có sự khác biệt (p>0,05) giữa
các nghiệm thức.
Ở thí nghiệm 2: mật độ 500 con/m
2
, thể tích nước 500 lít,
với giá thể bằng dây nylon được bố trí vào 4 nghiệm thức thì
nghiệm thức 75% giá thể (3 bó) cho tốc độ tăng trưởng nhanh
hơn nghiệm thức 0%, 25% và 50% giá thể. Tỷ lệ sống nghiệm
thức 0% giá thể cao hơn các nghiệm thức còn lại. Tốc độ tăng
trưởng và tỷ lệ sống ở các nghiệm thức khác biệt không có ý
nghĩa (p>0,05).
Ở thí nghiệm 3 với 3 nghiệm thức: giá thể bằng dây
nylon, rong, không giá thể đều cho tốc độ tăng trưởng và tỷ lệ
sống khác biệt không có ý nghĩa (p>0,05).
Thực nghiệm cho thấy: ương cá Leo trong bể xi măng hay
bể nhựa có giá thể thì cá sẽ tăng nhanh về khối lượng và chiều
dài so với không có giá thể. Lượng giá thể (21,5 g) che phủ
25% diện tích mặt nước bể ương thì ương cá Leo trong bể xi
41
măng sẽ cho tốc độ tăng trưởng và tỷ lệ sống hiệu quả. Dây
nylon hay rong đều có thể làm giá thể tốt trong việc ương cá
Leo trong bể nhựa. 42
MỤC LỤC


Chương 4: Kết quả và thảo luận 16
4.1. Một số yếu tố môi trường được theo dõi trong thí
nghiệm 16
4.1.1. Một số yếu tố môi trường ở thí nghiệm 1 16
4.1.2. Một số yếu tố môi trường ở thí nghiệm 2 17
4.1.3. Một số yếu tố môi trường ở thí nghiệm 3 17
4.2. Ảnh hưởng của giá thể đến tăng trưởng và tỷ lệ sống
của cá Leo ương trong bể 18
4.2.1. Ương cá Leo trong bể xi măng ở mật độ 95
con/m
2
(thí nghiệm 1) 18
4.2.2. Ương cá Leo trong bể xi măng ở mật độ 500
con/m
2
(thí nghiệm 2) 24
4.2.3. Ương cá Leo trong bể nhựa (thí nghiệm 3) 28
Chương 5: Kết luận và đề xuất 33
5.1. Kết luận 33
5.2. Đề xuất 33
Tài liệu tham khảo 34
Phụ lục 37
44DANH SÁCH BẢNG


45DANH SÁCH HÌNH Hình 2.1. Hình thái bên ngoài cá Leo (Wallago attu) trang 4
Hình 3.1. Giá thể dây nylon 12
Hình 3.2. Rong thí nghiệm 12
Hình 3.3. Hệ thống bể xi măng ương cá Leo thí nghiệm 1 và 2
13
Hình 3.4. Hệ thống bể nhựa ương cá Leo thí nghiệm 3 13
Hình 4.1. Tăng trưởng về khối lượng của cá Leo thí nghiệm 1
19
Hình 4.2. Tăng trưởng về chiều dài của cá Leo thí nghiệm 1 . 21
Hình 4.3. Tỷ lệ sống của cá Leo thí nghiệm 1 23
Hình 4.4. Tăng trưởng về khối lượng của cá Leo thí nghiệm 2
24
Hình 4.5. Tăng trưởng về chiều dài của cá Leo thí nghiệm 2 . 26
Hình 4.6. Tỷ lệ sống của cá Leo thí nghiệm 2 28
Hình 4.7. Tăng trưởng về khối lượng của cá Leo thí nghiệm 3
29
Hình 4.8. Tăng trưởng về chiều dài của cá Leo thí nghiệm 3 . 30
Hình 4.9. Tỷ lệ sống của cá Leo thí nghiệm 3 32

Đồng thời, nguồn cá tự nhiên đang suy giảm mạnh cần được bảo vệ (Mai Đình
Yên, 1992, Trương Thủ Khoa và Trần Thị Thu Hương, 1993).
Từ năm 1945 đến năm 2006 đã có 84 tài liệu nghiên cứu liên quan đến
loài Wallago attu được công bố (Fishbase, (2006), trích bởi Nguyễn Bạch
Loan, 2008). Tuy nhiên, đến năm 2004, cá Leo mới được cho sinh sản nhân
47
tạo tại một trại cá ở Malaysia (Fishbase, (2005), trích bởi Nguyễn Bạch Loan,
2008).
Để nhân rộng một đối tượng nuôi cho người dân thì việc đảm bảo chủ
động nguồn giống là rất quan trọng. Năm 2008, Bộ Môn Kỹ Thuật Nuôi Thủy
Sản Nước Ngọt Khoa Thủy Sản Trường Đại Học Cần Thơ đã thành công trong
việc nghiên cứu sinh sản nhân tạo cá Leo (Wallago attu). Tuy nhiên, việc
ương cá Leo từ cá bột lên cá giống đang gặp nhiều khó khăn do chưa am hiểu
sâu về đặc điểm sống của loài cá này dẫn đến tỷ lệ sống chưa cao.
Trước sự khó khăn trên, để có một qui trình sản xuất giống cá Leo
(Wallago attu) hoàn chỉnh từ khâu chọn cá bố mẹ, nuôi vỗ, thụ tinh nhân tạo,
ương từ cá bột lên cá giống một cách hoàn thiện, hiệu quả đề tài “Ảnh hưởng
của giá thể lên tăng trưởng và tỷ lệ sống của cá Leo (Wallago attu Bloch and
Schneider, 1801) ương trong bể” được tiến hành.
1.2. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
Xác định loại giá thể và tỷ lệ giá thể thích hợp để ương cá Leo đạt hiệu
quả cao.
1.3. Nội dung nghiên cứu của đề tài
 Theo dõi một số yếu tố môi trường ương.
 Theo dõi tốc độ tăng trưởng và tỷ lệ sống của cá ương trong bể có
sử dụng giá thể.
 So sánh tốc độ tăng trưởng và tỷ lệ sống của cá ương khi sử dụng
loại giá thể và lượng giá thể khác nhau.
1.4. Thời gian và địa điểm thực hiện đề tài
Thời gian: Đề tài được thực hiện từ 04/04/2009 và kết thúc vào

rằng xếp loài cá Leo vào giống Wallagonia sẽ hợp lý hơn. Tuy nhiên,
Rainboth (1996), Fishbase (2005, 2006) lại không thống nhất với các tác giả
trên và cùng xếp loài cá này vào giống Wallago. Hiện nay, hầu hết các báo cáo
về cá Leo đều sử dụng tên khoa học là Wallago attu (trích bởi Nguyễn Bạch
Loan, 2008).
Theo báo cáo của Nguyễn Bạch Loan (2008) cá Leo được phân loại như sau:
Giới: Animalia
Ngành: Chordata
Lớp: Osteithyes
Lớp phụ: Actinopterygii
Bộ: Siluriformes
49
Họ: Siluridae
Giống: Wallago
Loài: Wallago attu (Bloch & Schneider, 1801)

Hình 2.1. Hình thái bên ngoài cá Leo
Cá Leo (Wallago attu) có tên tiếng Anh là Freshwater shark hay Giant
sheatfish (Nguyễn Bạch Loan, 2008) . Ở Việt Nam, cá Leo có một số tên gọi
khác như cá Leo ở Miền Nam và cá Nheo ở miền Bắc (Mai Đình Yên, 1978).
Ở Cambodia thường gặp 2 loài cá Leo: Wallago attu và Wallago leeri
(Rainboth, 1996, trích bởi Nguyễn Bạch Loan, 2008).
Cá Leo (Wallago attu) có thân thon dài, dẹp bên (Kawamoto et al,
1972; Mai Đình Yên, 1992; Trương Thủ Khoa và Trần Thị Thu Hương, 1993;

Nam châu Á như: Pakistan, Ấn Độ, Sri Lanka, Afganistan, Nepal, Bangladesh,
Myanmar, Malaysia, Indonesia, Thái Lan, Lào, Cambodia, Trung Quốc và
Việt Nam (Trương Thủ Khoa và Trần Thị Thu Hương, 1993; Fishbase, 2004
trích bởi Nguyễn Bạch Loan, 2008).
Cá Leo (Wallago attu), là loài cá nội địa, phân bố chủ yếu ở các con
sông lớn, các hồ lớn. Ngoài ra, có thể bắt gặp loài cá này ở những dòng suối,
ở vùng cao. Cá trưởng thành, thường sống ở những nơi có mức nước sâu thuộc
các con sông chính hoặc các nhánh sông lớn. Khi mùa lũ đến, chúng sẽ di cư
lên những nơi nước đứng hoặc chảy chậm với nền đáy phủ lớp bùn hay lớp
phù sa như những cánh đồng, các vùng đất ngập nước sâu ở hai bên bờ sông,
kênh, rạch . Cá Leo sẽ ở lại đây trong suốt mùa lũ để tìm mồi và sinh sản. Khi
mùa lũ qua đi, cũng là lúc mực nước của dòng sông Mekong giảm xuống, cá
Leo sẽ trở về trú ẩn ở những vực nước sâu thuộc sông Mekong hay các phụ
lưu lớn và chúng sẽ sống tại đây suốt cả mùa khô (Fishbase, 2006 trích bởi
Nguyễn Bạch Loan, 2008).
2.1.3. Đặc điểm về dinh dưỡng
Cấu tạo và chức phận của cơ quan bắt mồi và tiêu hóa có liên hệ chặt
chẽ với sự khác biệt về thức ăn của cá. Theo Nikoloxki (1964), cá ăn thịt có
miệng kiểu vồ bắt, với đặc điểm là miệng rộng, răng sắc trên xương hàm,
xương lá mía và xương khẩu cái. Chiều dài của ruột có liên quan chặt chẽ đến
đặc điểm dinh dưỡng của cá, những loài cá thiên về động vật sẽ có chỉ số Li/L
0

<= 1 (tỷ lệ của chiều dài ống tiêu hóa và chiều dài thân), cá ăn tạp có chỉ số
Li/L
0
= 1-3 và cá ăn tạp thiên về thực vật có chỉ số Li/L
0
> 3 (trích bởi Phan
Phương Loan, 2006).

nhất vào năm thứ 3 – 4 còn ở cá đực thì điều này xảy ra vào năm thứ 3, sớm
hơn cá cái.
Tuy nhiên, theo Nguyễn Bạch Loan (2008) thì tương quan giữa chiều
dài và trọng lượng của cá Leo (kích thước 23–78 cm) thể hiện chặt chẽ qua
phương trình hồi qui W = 0,0032L
3,2074
với hệ số tương quan R
2
= 0,9661. Khi
1 tuổi, cá Leo (Wallago attu) có thể đạt kích cỡ khoảng 71,29 cm, đến 2 tuổi
thì chiều dài cá có thể lên đến 78,17 cm và khi cá được từ 3–7 tuổi thì chiều
52
của cá ít biến động và đạt từ 80,08–80,82 cm. Lúc cơ thể cá đạt chiều dài cực
đại 80,82 cm thì tốc độ tăng trưởng của cá Leo sẽ bị chậm lại.
Cá Leo (Wallago attu) là loài có kích thước lớn. Theo Mai Đình Yên
(1992), Rainboth (1996), kích thước tối đa của cá Leo đã tìm thấy là 200 cm,
nặng 25 kg . Tuy nhiên, ngư dân ở Ấn Độ đã tìm thấy cá Leo có trọng lượng
45 kg ở sông Kishna và sông Godavari, ngư dân Nepal cũng bắt được con cá
Leo có chiều dài 150 cm (Nguyễn Bạch Loan, 2008) và thực tế những con cá
Leo có kích cỡ 180 cm chiều dài là rất hiếm (Rainboth, 1996,
Chandrashekhariah et al, 2000 trích bởi Phan Phương Loan, 2006).
2.1.5. Đặc điểm thành thục và sinh sản của cá Leo
Cá Leo (Wallago attu) trưởng thành phải đạt kích thước trên 90 cm
chiều dài và có khối lượng trên 2 kg (Poulsen et al, 2005 trích dẫn bởi Phan
Phương Loan, 2006). Sức sinh sản của cá trơn thường rất lớn và thay đổi tùy
theo loài. Chẳng hạn như sức sinh sản tương đối của cá Tra dao động từ
130000–150000 trứng/kg cá cái; ở cá Kết là 9200–69000 trứng/kg cá cái; ở cá
Ngát là 1414–1560 trứng/kg cá cái (Nguyễn Văn Triều và cộng tác viên, 2006)
ở cá Leo là 46520–142000 trứng/kg cá cái (Dương Nhựt Long và Nguyễn
Hoàng Thanh, 2008).

khoảng 22 giờ 15 phút (Trịnh Hoàng Hảo, 2006)
2.1.6. Tình hình ương cá Leo bột
Giri và ctv (2002) trích bởi Ngô Vương Hiếu Tính, (2008) đã công bố
công trình nghiên cứu về ảnh hưởng của ánh sáng, quang kỳ và thức ăn lên sự
tăng trưởng và tỉ lệ sống của cá Leo bột. Các tác giả kết luận rằng tỉ lệ sống và
tăng trưởng của cá Leo bột đạt mức cao nhất khi ương trong điều kiện cung
cấp ánh sáng màu đỏ (red light) liên tục và ăn thức ăn tự nhiên (phiêu sinh
động vật) kết hợp với thức ăn tổng hợp.
Theo Dương Nhựt Long và Nguyễn Hoàng Thanh (2008) thì kết quả
bước đầu ương cá Leo bột sau 30 ngày đã thu được: Ở mật độ 100 cá bột/m
2

cho kết quả tỷ lệ sống cao nhất 12%, trọng lượng trung bình cá đạt 17 g/con. Ở
mật độ 200 cá bột/m
2
cho kết quả tỷ lệ sống 4%, trọng lượng trung bình cá đạt
17,53 g/con. Ở mật độ 300 cá bột/m
2
thu được tỷ lệ sống 2%, trọng lượng
trung bình cá đạt 18,28 g/con.
Với kết quả thực nghiệm trên ta thấy: mật độ ương giống càng cao sẽ
làm tăng tính cạnh tranh về dinh dưỡng và tăng cơ hội ăn lẫn nhau càng dữ
nên dẫn đến tỷ lệ sống càng thấp.
Để khắc phục nhược điểm trên, Nguyễn Hồ Nam đã tiến hành thí
nghiệm “Thử nghiệm ương cá Leo với mật độ và tỷ lệ giá thể khác nhau” đã
thu được những kết quả khả quan: Mật độ ương 2 con/lít cho tốc độ tăng
trưởng nhanh nhất và đạt tỷ lệ sống cao nhất so với mật độ ương 3 con/lít và 4
con/lít. Cá ương trong nghiệm thức không có giá thể tăng trưởng nhanh hơn
trong nghiệm thức giá thể 25% và 50%. Tuy nhiên, với tỷ lệ giá thể 50% diện
tích cho tỷ lệ sống cao nhất (32,22%) so với nghiệm thức có giá thể 25% (tỷ lệ

nguyên tử carbon trong phân tử (thesaigontimes.vn).
Polyhexamethylene adipamide được giáo sư Wallace Hume Carothers
thuộc phòng nghiên cứu tơ sợi của DuPont điều chế thành công lần đầu tiên
ngày 28/02/1935 từ các hóa chất có nguồn gốc từ dầu mỏ (thesaigontimes.vn).
Từ năm 1941 - 1945 nước Mỹ độc quyền phát triển và ứng dụng nylon
vào sản xuất các sản phẩm phục vụ quân đội như vải quân dụng chống nước,
chống đạn, dù, dây thừng Từ đó, nylon cũng được phổ cập khắp các nơi
(thesaigontimes.vn).
Ở Việt Nam, trong nuôi trồng thủy sản, dây nylon được nghiên cứu
dùng làm giá thể cho một số loài thủy sinh vật trú ẩn:
Theo Đỗ Thị Thanh Hương và ctv (2008), khi sử dụng giá thể là dây
nylon cột thành chùm treo trong bể với mực nước 40-50 cm. Sau 3 tháng nuôi
vỗ tỷ lệ thành thục của Lươn cái tăng lên rất rõ, chiếm 84,62% trong tổng số
Lươn thu được. Tương tự , tỷ lệ thành thục của Lươn đực cũng được tăng lên
sau khi nuôi vỗ và tỷ lệ thành thục của Lươn đực trong bể có giá thể dây nylon
cao hơn so với Lươn đực nuôi vỗ trong bể đất.
55
Ngoài ra, Theo Trần Ngọc Hải và Trần Minh Nhứt (2008) khi nghiên
cứu ương ấu trùng ghẹ xanh với các mật độ ấu trùng và giá thể khác nhau thì
kết quả cho thấy đặt giá thể trong cột nước bằng chùm nylon và giá thể đáy
bằng lưới cho kết quả tốt nhất. Cowan (1984) cho rằng, 2 hoặc 3 ngày sau khi
ấu trùng ghẹ (Portunus trituberculatus) biến thái từ Zoae sang Megalopa ấu
trùng thường bám thành bể và đáy bể. Vì thế, các trại thường dùng lưới treo
vào bể. Ngoài việc hạn chế hiện tượng ăn nhau, giá thể còn làm cho thức ăn ở
trạng thái lơ lửng giúp ấu trùng ghẹ dễ bắt mồi. Trong các nghiên cứu ương
nuôi ấu trùng cua biển, các giá thể thường dùng cũng gồm chùm nylon, lưới,
vỏ nghêu sò (Trần Ngọc Hải, 1997; Trần Ngọc Hải và Trương Trọng Nghĩa,
2004).
2.2.2. Rong
a. Họ rong đuôi chó (Ceratophyllaceae): Thân thảo, mềm, không có

Nhiệt kế, thau, vợt, khay nhựa
Các bộ test của Đức: O
2
, pH, N-NH
4
+
, NO
2
-

Thức ăn: Moina, Trùn chỉ, Tép
Hóa chất: Chlorine, muối, Formol
Hệ thống sục khí
Một số vật dụng cần thiết khác
3.2. Phương pháp nghiên cứu
3.2.1. Bố trí thí nghiệm
Bể xi măng, bể nhựa được rửa sạch và khử trùng bằng Chlorine 200
ppm để diệt vi khuẩn và mầm bệnh. Sau đó cấp nước vào bể, sục khí và ngâm
3 ngày rồi xả nước ra, rửa sạch bể lần 2, phơi thoáng đáy bể 2 ngày rồi cấp
nước vào bể theo thể tích nước thích hợp.
Cá bột, sau khi nở được 2 ngày tuổi thì được đếm và bố trí vào bể thí
nghiệm ở mật độ, giá thể và thể tích nước thích hợp cho từng thí nghiệm.
Dây Nylon được mua từ chợ về, sau đó ngâm trong nước 3–4 ngày, rửa
sạch bằng nước máy rồi phơi nắng khoảng 2 ngày, sau đó xé nhỏ rồi bó lại với
lượng 21,5 g/bó có thể che phủ khoảng 25% diện tích bể, dùng đá dìm ở một
đầu, rồi bố trí vào bể ương ngay sau khi bố trí cá bột xong.
Rong, lấy từ bể nuôi Lươn của Trại Cá Thực Nghiệm – Khoa Thủy Sản
– Trường Đại Học Cần Thơ. Chọn những cây còn tươi tốt, thân dài, màu xanh,
57
nhiều nhánh, loại bỏ những thân, lá, rễ màu vàng úa, bị úng, sau đó rửa sạch

Nghiệm thức 2D: 75% giá thể trên diện tích mặt nước (3 bó).
Hình 3.2. Rong thí nghiệm
58

Hình 3.3. Hệ thống bể xi măng ương cá Leo thí nghiệm 1 và 2
3.2.1.3. Thí nghiệm III: Ảnh hưởng của loại giá thể lên tốc độ tăng trưởng và
tỷ lệ sống của cá Leo bột ương trong bể nhựa
Bể nhựa (60 L) sau khi được chuẩn bị xong, thì cấp nước vào với thể
tích khoảng 50 L, mật độ 2 con/lít. Sau đó bố trí ngay giá thể vào 3 nghiệm
thức lần lượt là:
Nghiệm thức 3A: không giá thể
Nghiệm thức 3B: 50% giá thể rong trên diện tích mặt nước
Nghiệm thức 3C: 50% giá thể dây nylon trên diện tích mặt nước

Hình 3.4. Hệ thống bể nhựa ương cá Leo thí nghiệm 3
3.2.2. Chăm sóc và quản lý bể thí nghiệm
Trong quá trình ương sử dụng thức ăn tươi sống là Moina, Trùn chỉ và
Tép. Cá được cho ăn thỏa mãn theo nhu cầu trong suốt thời gian ương.
59
Bảng 3.1. Thức ăn và thời gian cho ăn trong thí nghiệm
Ngày
ương
Thức ăn
Lần cho
ăn/ngày
Giờ cho ăn
3 – 4

NO
2
-
: dùng test của Đức 1 tuần test 1 lần.
3.2.3.2. Theo dõi sự tăng trưởng của cá Leo ương trong bể
Trong quá trình ương, định kỳ thu mẫu cá 10 ngày/lần, để đánh giá tốc
độ tăng trưởng của cá thông qua việc tiến hành cân trọng lượng và đo chiều
dài tổng của cá, ít nhất 30 con/lần.
60
3.2.3.3. Tính toán kết quả
Tỷ lệ sống của cá (Suvirval Rate, SR)
Số cá thu được (con)
SR (%) = * 100

Số cá thả ban đầu (con)
Trọng lượng trung bình
Tổng trọng lượng cá cân được
W (g/con) =
Số cá đem cân
Chiều dài trung bình
Tổng chiều dài cá đo được
L (cm/con) =
Số cá đem đo
Tốc độ tăng trưởng tuyệt đối theo ngày (Daily Weight Gain, DWG)
về trọng lượng (g/ngày) hay (Daily Length Gain, DLG) về chiều dài
(cm/ngày).
W
2
(hay L
2

1
là chiều dài trung bình tại thời điểm t
1
(cm)
L
2
là chiều dài trung bình tại thời điểm t
2
(cm)
Tốc độ tăng trưởng đặc biệt (Specific growth rate, SGR) về trọng
lượng (%/ngày) và chiều dài (%/ngày)
LnW
2
(hay L
2
) – LnW
1
(hay L1)
SGR (%/ngày) = * 100
t
2
– t
1

3.2.3.4. Phương pháp xử lý số liệu
Tất cả số liệu sẽ được xử lý dựa vào phần mềm SPSS 11.5.
61
CHƯƠNG 4
KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN


(mg/l) 0,55±0,05 0,50±0,00 0,61±0,05
NO
2
-
(mg/l) 0,47±0,10 0,40±0,12 0,54±0,08
Ghi chú: GT: giá thể; S: sáng; C: chiều
Hệ thống thí nghiệm được bố trí trong nhà, khá thoáng vào ban ngày và
giữ ấm vào ban đêm nên nhiệt độ trung bình trong bể dao động trong khoảng
26,38±0,58
0
C đến 27,87±0,48
0
C nằm trong khoảng thích hợp của đa số các
loài cá nuôi 20-30
0
C (Niconski, 1951). Trong điều kiện sục khí liên tục, nhưng
hàm lượng oxy hòa tan trong các bể dao động từ 4,33±0,00 mg/l đến 4,7±0,09
mg/l thấp hơn so với kết quả nghiên cứu của Swingle (1969): Oxy hòa tan lý
tưởng cho tôm cá là trên 5 ppm. pH dao động trong khoảng 7,35±0,04 đến
7,45±0,05 nằm trong khoảng thích hợp cho sự phát triển của thủy sinh vật là
6,5-9 ( Trương Quốc Phú, 2006). Hàm lượng N-NH
4
+
dao động từ 0,50±0,00
mg/l đến 0,61±0,05 mg/l nằm trong khoảng thích hợp theo sự nghiên cứu của
Boyd (1990) là 0,2-2 mg/l. NO
2
-
dao động từ 0,40±0,12 mg/l đến 0,54±0,08
mg/l. Theo Colt và Amstrong, (1979) trích bởi Trương Quốc Phú (2006) giá


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status