KHOA KINH TẾ QUỐC DÂN HÀ NỘI
KHOA KINH DOANH QUỐC TẾ
^]
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP Một số biện pháp mở rộng thị
trường xuất khẩu tổng hợp của
công ty cung ứng tàu biển
Quảng Ninh
LỜI CẢM ƠN !
Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trong khoa Kinh Doanh
Quốc Tế - Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân Hà Nội đã tạo điều
kiện cho tôi cơ sở để thực hiện chuyên đề thực tập tốt nghiệp này.
Tôi xin chân thành cảm ơn các Cô các Chú các Anh làm
việc tại Công ty cung ứng tầu biển Quảng Ninh đã chỉ dẫn giúp đỡ
kéo dài, tiềm lực kinh tế yếu kém, tài nguyên thiên nhiên bị hạn chế, bộ
máy các cán bộ quản lý từ hạ tầng cơ sở đến thượng tầng kiến trúc trình độ
thấp kém, không đáp ứng được nhu cầu phát triển của đất nước. Đảng và
nhà nứơc đã nh
ận thức được vấn đề này và đã phần nào đã đưa ra những cơ
chế kinh tế mới, tạo điều kiện để các thành phần kinh tế trong nước hoạt
động, phát triển.
Quảng Ninh là một tỉnh có nhiều thuận lợi bởi tiềm năng kinh tế đa
dạng, đó là vùng công nghiệp khai thác than, có trữ lượng lớn, có cảng
biển, có cửa khẩu biên giới thông thương vớ
i Trung Quốc, các ngành nông,
lâm, ngư nghiệp đều có nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển,ngoài ra
Quảng Ninh còn là nơi nếu biết khai thác tốt sẽ thu hút được nhiều nhà đầu
tư trong và ngoài nước.
Trong bối cảnh nói trên, Công ty cung ứng tàu biển Quảng Ninh là
doanh nghiệp nhà nước trực thuộc Sở thương mại Quảng Ninh, được thành
lập từ năm 1992. Quá trình hình thành và phát triển, Công ty đã trải qua
những bước thăng trầm, song được sự quan tâm giúp đỡ của các ngành từ
Trung ương đến địa phương và bằng sự cố gắng của lãnh đạo, tập thể
CBCNV Công ty Cung ứng tàu biển Quảng Ninh đã có hướng đi đ
úng đắn,
vượt qua những khó khăn của thời kì quá độ chuyển từ cơ chế tập trung bao
cấp, ổn định và phát triển trong cơ chế kinh tế mới. Từ một đơn vị yếu kém
trở thành đơn vị đứng đầu ngành thương mại, thể hiện ở mức thu nhập của
CBCNV ngày một nâng cao, nộp ngân sách và các khoản nghĩa vụ với nhà
nước ngày một tăng. Đờ
i sống CBCNV ổn định, an tâm công tác và gắn bó
với doanh nghiệp.
Nhưng xuất nhập khẩu tổng hợp của Công ty còn ở mức khiêm tốn,
do sản phẩm xuất khẩu của ta chưa cao, kinh nghiệm xuất khẩu còn yếu
biển Quảng Ninh.
CHƯƠNG I
LÝ LUẬN CHUNG VỀ MỞ RỘNG THỊ TRƯỜNG XUẤT
KHẨU CỦA DOANH NGHIỆP
I/- THỊ TRƯỜNG VÀ CÁC PHƯƠNG THỨC MỞ RỘNG THỊ
TRƯỜNG.
1/. Các vấn đề cơ bản về thị trường:
1.1 Khái niệm:
Có rất nhiều cách xem xét thị trường dưới góc độ khác nhau, từ đó
có khái niệm khác nhau về thị trường. Ta có thể gặp một số khái niệm phổ
biến sau:
Thị trường là biểu hiện ngắn gọn của quá trình mà nhờ đó các quy
ết
định của các hộ gia đình về việc tiêu dùng các hàng hoá khác nhau các
quyết định của doanh nghiệp về việc sản xuất cái gì và như thế nào các
quyết định của công nhân về làm việc bao nhiêu và cho ai được điều hoà
bởi sự điều chỉnh giá.
Thị trường là tập hợp các dàn xếp mà thông qua đó người bán và
người mua tiếp xúc nhau để trao đổi hàng hoá và dịch vụ.
Thị trường là một khuôn khổ
vô hình trong đó người này tiếp xúc
với người kia để trao đổi một thứ gì đó khan hiếm và trong đó họ cùng xác
định giá cả và số lượng trao đổi.
cầu và các phương thức để thoả mãn tối đa nhu cầu đó.
Vì thế việc khái niệm thị trường củ
a doanh nghiệp phải nhấn mạnh
vào vai trò quết định của nhu cầu. Song nhu cầu là hành vi, ý kiến, thái độ
bên ngoài của khách hàng, là cái mà doanh nghiệp có thể tiếp cận được. Vì
vậy đứng trên giác độ doanh nghiệp thì:
Thị trường của doanh nghiệp là tập hợp các khách hàng tiềm năng
của doanh nghiệp đó, tức là những khách hàng đang mua hoặc có thể sẽ
mua sản phẩm của doanh nghiệp .
Khi vận dụng khái niệm trên cho thị
trường Thế giới thì những đặc
điểm trên càng rõ nét hơn, sự khác biệt và đa dạng càng trở nên sâu sắc
hơn. Do đó, có thể đưa ra khái niệm thị trường Quốc tế của doanh nghiệp
như sau:
Thị trường Quốc tế của doang nghiệp là tập hợp những khách hàng
nứơc ngoài và tiềm năng của doanh nghiệp đó .
1.2 Các chức năng và vai trò của thị trườ
ng:
Vai trò của thị trường trong phát triển kinh tế hàng hóa
- Thứ nhất: Thị trường là điều kiện và môi trường của sản xuất hàng
hóa. Các chủ thể kinh tế thông qua thị trường để mua bán các yếu tố, điều
kiện sản xuất, tiêu thụ sản phẩm mua được các hàng hóa, tiêu dùng và dịch
vụ. Không có thị trường thị sản xuất và trao đổi hàng hóa không thể tiến
hành được.
- Thứ hai: Thị trường là trung tâm của tòan bộ quá trình tái sản xuất
sau:
Số lượng người bán và người mua: đây là tiêu thức rất quan trọng
xác định cấu trúc thị trường. Trong thị trường cạnh tranh hoàn hảo và cạnht
tranh độc quyền có rất nhiều người bán và người mua. Mỗi ngườ
i trong số
họ chỉ bán (hoặc mua) một phần rất nhỏ trong lượng cung thị trường. Trong
thị trường độc quyền bán thì một nghành chỉ có một người bán (người sản
xuất) duy nhất. Trong thị trường độc quyền mua chỉ có một người mua duy
nhất. Trong thị trường độc quyền bán tập đoàn có một vài người bán, còn
trong thị trường độc quyền mua tập đoàn chỉ có một số
người mua.
- Loại sản phẩm: Trong thị trường cạnh tranh hoàn hảo, sản phẩm
đồng nhất, trong thị trường cạnh tranh độc quyền sản phẩm khác nhau.
Trong thị trường độc quyền tập đoàn, sản phẩm có thể giống nhau có thể
khác nhau một ít. Tỏng thị trường độc quyền sản phẩm là độc nhất.
- Sức mạnh thị trường của người bán và người mua. Trong thị trường
cạnh tranh hoàn hảo, người bán và người mua đều không có ảnh hưởng gì
đến giá thị trường của sản phẩm, nghĩa là họ không có sức mạnh thị trường.
Trong thị trường độc quyền bán (mua) người bán (mua) có ảnh hưởng rất
lớn đến gía thị trường của sản phẩm. Trong thị trường độc quyền bán (mua)
tập
đoàn, người bán (mua) có ảnh hưởng đến giá thị trường của sản phẩm ở
một mức độ nào đó.
- Các trở ngại gia nhập thị trường: trong thị trường cạnh tranh hoàn
hảo các trở ngại gia nhập thị trường là rất thấp. Ngược lại, trong thị trường
độc quyền bán (mua) tập đoàn có những trở ngại đáng kể đối với việc gia
nhập thị
trường. Chẳng hạn, trong các nghành sản xuất ô tô, luyện kim...
việc xây dựng nhà máy mới là rất tốn kém. Đó chính là trở ngại lớn đối với
việc gia nhập thị trường. Còn trong điều kiện độc quyền thì việc gia nhập
Thị trường rất đa dạng. Người mua có thể rất khác nhau về nhu cầu:
khả năng tài chính, nơi cư trú, thái độ và thói quen mua sắm. Số lượng
đoạn thị trường trên một thị trường tổng thể rất khác nhau phụ thuộc vào
việc người ta sử dụng các tiêu chuẩn phân đoạn như thế nào.
+ Yêu cầu của phân đoạn thị trường:
Phân đoạn thị tr
ường nhằm giúp doanh nghịêp xác định những đoạn
thị trường mục tiêu hẹp và đồng nhất hơn thị trường tổng thể. Hoạt động
marketing của doanh nghịêp sẽ nhằm vào một mục tiêu rõ ràng cụ thể hơn,
có hiệu lực hơn. Nhưng điều đó không có nghĩa là việc phân chia càng nhỏ
thị trường tổng thể là càng có lợi. Điều quan trọng của công việ
c này là một
mặt phải phát hiện tính không đồng nhất giữa các nhóm khách hàng, mặt
khác số lượng khách hàng trong mỗi đoạn phải đủ khả năng bù đắp lại nỗ
lực marketing của doanh nghiệp thì việc phân đoạn đó mới có hiệu quả.
Như vậy, nếu một doanh nghiệp có thể đáp ứng được nhu cầu của một
nhóm khách hàng đồng thời có lãi thì nhóm khách hàng đó chính là một
đoạ
n thị trường có hiệu quả. Để xác định được một đoạn thị trường có hiệu
quả việc phân đoạn thị trường phải đạt được những yêu cầu sau:
. Tính đo lường được, tức là quy mô và hiệu quả của đoạn thị trường
đó phải đo lường được.
. Tính tiếp cận được, tức là doanh nghịêp phải nhận biết và phụ
c vụ
được đoạn thị trường đã phân chia theo tiêu thức nhất định.
. Tính quan trọng, nghĩa là các đoạn thị trường phải bao gồm các
khách hàng có nhu cầu đồng nhất với quy mô đủ lớn để có khả năng sinh
lời được.
. Tính khả thi, tức là có thể có đủ nguồn lực để hình thành và triển
khai chương trình marketing riêng biệt cho từng đoạn thị trường đã phân
đây là cơ sở phân đoạn được áp dụng phổ biến vì sự khác biệt về nhu
cầu thường gắn với yếu tố địa lý (khu vực). Ví dụ: ăn sáng của người miền
Bắc thường là các loạ
i bánh, bún, phở...Người miền Nam là cà phê - bánh
ngọt. Người miền Bắc ít ăn cay. Ngược lại: vị ngọt, cay đậm là sở thích của
người miền Trung và miền Nam.
+ Phân đoạn theo dân số - xã hội:
Nhóm tiêu thức thuộc loại này bao gồm: giới tính, tuổi tác, nghề
nghịêp, trình độ văn hoá, quy mô gia đình, tình trạng hôn nhân, thu nhập,
giai tầng xã hội; tín ngưỡng, dân tộc, sắc tộc...
Dân số - xã hội với các tiêu thức nói trên luôn được sử
dụng phổ biến
trong phân đoạn thị trường bởi hai lý do:
Thứ nhất, chúng là cơ sở chính tạo ra sự khác biệt về nhu cầu và hành
vi mua. Ví dụ: giới tính khác nhau, nhu cầu sản phẩm khác nhau. Phụ nữ
thường thích dùng xe máy hình thức đẹp, nhẹ, tốc độ vừa phải, dễ điều
khiển. Nam giới lại ưa chuộng các loại xe phân khối lớn, tốc độ cao, dáng
khoẻ...
Thứ
hai, các đặc điểm về dân số - xã hội dễ đo lường. Các tiêu thức
thuộc loại này thường có sẵn số liệu vì chúng được sử dụng vào nhiều mục
đích khác nhau. Hỗu hết các mặt hàng tiêu dùng đều phải sử dụng tiêu thức
này trong phân đoạn. Tuy nhiên tuỳ thuộc vào từng mặt hàng cụ thể mà
người ta sử dụng một vài tiêu thức cụ thể trong nhóm. Ví dụ: tuổi tác và
giai đo
ạn của chu kỳ sống gia đình được sử dụng phổ biến để phân đoạn thị
trường đồ chơi, thực phẩm, đồ gia dụng, quần áo... Thu nhập lại được các
thị trường xe hơi, xe máy, nội thất, mỹ phẩm... chọn làm tiêu thức phân
đoạn chính.
Xu hướng chung người ta thường sử dụng kết hợp nhiều tiêu thức
Phương thức đơn giản nhất để mở rộng thị trường nước ngoài là
thông qua xuất khẩu. Một doanh nghiệp có thể xuất khẩu sản phẩm của
mình b
ằng hai cách là xuất khẩu trực tiếp và gián tiếp:
2.1. Xuất khẩu gián tiếp:
Xuất khẩu gián tiếp là hình thức khi doanh nghiệp thông qua dịch vụ
của các tổ chức độc lập, đặt ngay tại nước xuất khẩu để tiến hành xuất khẩu
của mình ra nước ngoài. Hình thức này có những ưu điểm cơ bản là ít phải
đầu tư, doanh nghiệp không phải triển khai một lực lượng ra nướ
c ngoài
cũng như các hoạt động giao tiếp và khuyếch trương ở nước ngoài. Sau
nữa, nó cũng hạn chế được các rủi ro có thể xảy ra tại thị trường nước
ngoài vì trách nhiệm bán hàng thuộc về các tổ chức khác. Tuy nhiên, hình
thức này có những hạn chế là giảm lợi nhuận của doanh nghiệp do phải
chia sẻ với các tổ chức tiêu thụ và do không có liên hệ trực tiếp với thị
trường nước ngoài nên việc nắm bắt các thông tin bị hạn chế, không thích
ứng nhanh được với các bi
ến động của thị trường.
Trong hình thức xuất khẩu gián tiếp doanh nghiệp có thể sử dụng các
trung gian phân phối sau đây:
+ Hãng buôn xuất khẩu: là hãng buôn nằm tại nước xuất khẩu, mua
hàng của người sản xuất sau đó bán lại cho người nước ngoài. Các hãng
buôn xuất khẩu trực tiếp thực hiện tất cả các chức năng và chịu mọi rủi ro
liên quan đến việc xuất khẩ
u. Các nhà sản xuất thông qua các hãng này, để
thông qua thị trường nước ngoài và quan hệ giao dịch, không khác gì nhiều
so với các khách hàng trong nước. Hãng buôn xuất khẩu phải thực hiện
chức năng tìm thị trường, chọn kênh phân phối, xác định giá bán và các
điều kiện bán hàng, cấp tín dụng cho các khách hàng nước ngoài, thực hiện
chương trình bán hàng và chiến dịch quảng cáo. Đôi khi hãng buôn xuất
m, các nhà sản
xuất sử dụng nguyên liệu thô và linh kiện sử dụng cho khách du lịch từ
nước này sang nước khác như nguồn cung cấp hàng, khách du lịch là nhân
viên của nhà nhập khẩu, thông thường các khách du lịch có quyền lập các
đơn đặt hàng trong phạm vi tài chính và giá cả nhất định cho các chuyến
giao hàng ngay mà không cần được phép của cơ quan trong nước.
+ Các tổ chức phân phối: Các tổ chức phân phối là sự pha tạp giữa
xuất khẩu gián ti
ếp và xuất khẩu trực tiếp. Nó là kênh giao tiếp vì không
phải là một bộ phận của nhà sản xuất, song cũng có thể xem như một kênh
trực tiếp khi nhà sản xuất có thể sử dụng cách điều hành mang tính hành
chính đối với chính sách hoạt động của tổ chức phối hợp. Có hai loại tổ
chức phối hợp là phối hợp trung gian và các tổ hợp xuất khẩu.
2.2. Xuất khẩ
u trực tiếp:
Hầu hết các nhà sản xuất chỉ sử dụng các trung gian phân phối trong
những điều kiện cần thiết, khi đã phát hiện đủ mạnh để tiến tới thành lập tổ
chức bán hàng riêng của mình, để có thể kiểm soát trực tiếp thị trường thì
họ thích sử dụng các hình thức xuất khẩu trực tiếp hơn. Trong hình thức
này nhà sản xuất trực tiế
p giao dịch với khách hàng nước ngoài ở khu vực
thị trường nước ngoài thông qua tổ chức của mình.
Về nguyên tắc mặc dù xuất khẩu trực tiếp có làm tăng thêm rủi ro
trong kinh doanh song nó cũng có những ưu điểm sau:
- Giảm bớt lợi nhuận trung gian sẽ làm tăng chênh lệch giá bán và
ội, luật
pháp, kinh tế, chiến tranh, các yếu tố thuộc về môi trường tài chính. Tuy
nhiên doanh nghiệp thương không hoạt động trên toàn bộ thị trường đã
nghiên cứu mà chỉ hoạt động trên một hoặc một số đoạn thị trường đã được
phân đoạn theo các tiêu thức khác nhau.
1/. Các phương thức để tiếp cận thị trường nước ngoài:
a. Tiếp cận thụ động
: Là việc doanh nghiệp đáp ứng lại nhu cầu của
thịn trường nước ngoài không theo một kế hoạch định trước. Doanh nghiệp
chỉ thực hiện các đơn đặt hàng khi được nhà nhập khẩu đề nghị, cách tiếp
cận này không mang tính hệ thống và định hướng rõ ràng, do đó làm cho
hoạt động marketing quốc tế ít nhiều mang tính rời rạc.
b. Tiếp cận chủ động: Là việc lựa chọ
n thị trường được thực hiện
theo một kế hoạch dự kiến trước nhằm đảm bảo thâm nhập chắc chắn và
lâu dài vào thị trường mới. Trong trường hợp này, chi phí phải bỏ ra sẽ cao
hơn nhưng doanh nghiệp sẽ bù đắp lại bằng lợi nhuận dài hạn.
2/- Các chiến lược để phát triển thị trường.
a. Chiến lược tập trung (Quốc tế hoá từng phần): Với chiến lược này
doanh nghiệp chỉ áp dụng khi thâm nhập sâu vào một số thị trường nước
ngoài.
Chiến lược này có ưu điểm là:
+ Dễ tập chung được các nguồn lực của doanh nghiệp, việc chuyên
môn hoá sản xuất và tiêu chuẩn hoá sản phẩm đạt được ở mức cao.
+ Hoạt động quản lý trên các thị trường được thực hiện dễ dàng.
TÀU BIỂN QUẢNG NINH.
1/.Quá trình hình thành:
Cùng với đường lối mở cửa và đổi mới nền kinh tế của Đảng và Nhà
nước, với sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, Tỉnh Quảng
Ninh với địa đầu Đông bắc của Tổ quốc với diện tích 5100 km2 có nhiều
tiềm năng như du lịch, thương mại, công nghiệp...Chiến lược phát triển
kinh tế của tỉnh là đẩy mạ
nh công nghiệp hoá, hiện đại hoá về mọi mặt.
Trong đó chiến lược phát triển khu vực Cảng Hòn gai - Cái lân - Vạn gia
trở thành những trung tâm thương mại Du lịch – Dịch vụ, công nghiệp là
một chiến lược cần thiết và cấp bách. Khu vực này đã trở thành một đầu
mối giao thông đường biển quan trọng và ngành kinh tế cảng biển trở thành
một ngành kinh tế có tiềm năng và thế mạnh để thúc đẩ
y xuất nhập khẩu –
Du lịch và dịch vụ phát triển.
Ra đời từ những năm đầu thập niên 60 đến nay Công ty Cung ứng tầu
biển Quảng Ninh đã trải qua nhiều bước thăng trầm.
Từ 1962 đến năm 1977 Công ty cung ứng Tầu biển Quảng Ninh được
thành lập với tên gọi Công ty Cung ứng tàu biển và dịch vụ Quảng Ninh
trực thuộc Tổng cục du lịch Việt Nam.
T
ừ năm 1978 đến 1987 Công ty cung ứng tàu biển Quảng Ninh tách ra
khỏi Tổng Cục Du lịch Việt Nam và trực thuộc UBND Tỉnh Quảng Ninh
với tên gọi : Công ty cung ứng tàu biển Quảng Ninh có chức năng và
nhiệm vụ : Kinh doanh cung ứng các dịch vụ cho hoạt động tàu biển tại
khu vực Quảng Ninh.
Năm 1988 UBND Tỉnh Quảng Ninh quyết định sát nhập công ty Công
ty Cung ứng tàu biển Quảng Ninh và Công ty du lịch Hạ long Thành lập
cán bộ công nhân viên của công ty am hiểu, thông thạo nghiệp vụ, làm việc
có hiệu quả
trên các lĩnh vực. Tổ chức Đảng, Đoàn thể hoạt động đúng
chức năng, tạo điều kiện thúc đẩy hoạt động của công ty ngày một phát
triển .
2/.Chức năng và nhiệm vụ của công ty.
a. Chức năng:
Chuyên kinh doanh về Cung ứng tàu biển, kinh doanh khách sạn du
lịch, Du lịch lữ hành, kinh doanh xuất nhập khẩu và tạm nhập tái xuất, kinh
doanh kho ngoại quan, cử
a hàng miễn thuế.
b. Nhiệm vụ:
Đảm bảo ổn định và không ngừng nâng cao thu nhập, đời sống của
250 Cán bộ công nhân viên trong toàn Công ty, làm tốt các khoản nghĩa vụ
đối với Nhà nước, cụ thể nhiệm vụ của năm 1997 như sau:
- Đạt và vượt mức chi tiêu Ngân sách do Uỷ Ban Nhân Dân tỉnh
Quảng Ninh đề ra. Tổng doanh thu 33 tỷ đồng Việt Nam, trong đó ngoại tệ
là 2.700.000 USD.
- Chăm lo đời sống cán bộ công nhân viên, ổn đị
nh việc làm, từng
bước cải thiện và nâng cao thu nhập, đảm bảo lương bình quân đạt 800.000
đồng/người/tháng trở lên.
- Bảo toàn và bổ xung vốn.
- Củng cố, mở rộng cơ sở vật chất phục vụ kinh doanh bằng cách sửa
* Chức năng và nhiệm vụ của các phòng ban:
Ban Giám đốc
:
- Giám đốc: Ở vị trí đài chỉ huy, điều hành chung mọi hoạt động của
Công ty, nhận sử lý thông tin, giao nhiệm vụ cho các phòng ban quyết định
mọi vấn đề trong đơn vị.
- Phó Giám đốc: Tham mưu giúp việc cho giám đốc ở từng lĩnh vực
cụ thể được giám đốc giao phó, thường xuyên giám sát các bộ phận dưới
quyền.
Để đáp ứng được chức nă
ng, nhiệm vụ của công ty. Hệ thống bộ máy
tổ chức được sắp xếp thành 03 phòng ban chức năng và 07 đơn vị, phòng
ban trực tiếp sản xuất .
Các phòng ban chức năng thực hiện chức năng, tham mưu cho
giám đốc từng lĩnh vực trong hoạt động sản xuất kinh doanh.
Khách
sạn
Bạch
Đằng Cung
ứng tàu
biển
Hòn Gai Cung
ứng tàu
biển
Cửa
Ông
+ Phòng tổ chức hành chính:
Bao gồm nhiều bộ phận tổng hợp như: Hành chính, tổ chức, bảo vệ ...
có nhiệm vụ tổ chức con dấu của Công ty, quản lý toàn bộ hồ sơ nhân sự,
bố trí sắp xếp tuyển chọn công nhân viên, tham mưu cho lãnh đạo về công
tác quản lý đào tạo cán bộ, thi đua khen thưởng.
+ Phòng kế hoạch đầu tư :
Tham mưu đề xuất cho lãnh đạo Công ty về các k
ế hoạch định hướng,
chiến lược và chiến thuật trong lĩnh vực sản xuất kinh doanh chung của
Công ty. Xây dựng và giao chỉ tiêu kế hoạch, định hướng các đơn vị phòng
ban từng tháng quý thực hiện các chỉ tiêu kế hoạch đã được Công ty giao.
Ngoài ra còn có phương tiện tàu thuyền, các cơ sở vật chất trong toàn Công
ty.
+ Phòng kinh doanh:
Kinh doanh xuất nhập khẩu trực tiếp, uỷ thác, tạm nhập tái xuất các
loạt hàng hoá, vận chuyển hàng quá cảnh ..
+ Phòng điều hành hướng dẫn du lịch và chi nhánh du lị
ch lữ hành tại
Móng cái:
Tổ chức khai thác và trực tiếp kinh doanh khách du lịch lữ hành
theo các hợp đồng dài hạn và ngắn hạn đối với các tour khách nước ngoài
đến Việt Nam và các tour khách trong nước có nhu cầu đi nước ngoài.
II/- PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG MỞ RỘNG THỊ TRƯỜNG XUẤT
KHẨU CỦA CÔNG TY CUNG ỨNG TÀU BIỂN QUẢNG NINH
TRONG THỜI GIAN QUA.
1/. Vài nét về tình hình xuất khẩu của Công ty trong thời gian qua.
Hoạt động xuất nhập khẩu và phát tri
ển thị trường là những hoạt
động quan trọng nhất của Công ty, với đặc tính là một Công ty thương mại
quản lý xuất nhập khẩu. Vì vậy Công ty có thể cùng một lúc thực hiện hoạt
động xuất nhập khẩu nhân danh nhiều nhà sản xuất.
Ngoài ra công ty chủ yếu xuất khẩu tại chỗ và xuất khẩu trực tiếp, thể
hiện qua các kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh n
ăm 1999 đến tháng 06
năm 2002.(bảng 01)
Để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới, trên cơ sở hiểu rõ
thực trạng của doanh nghiệp. Với tinh thần quyết tâm năng động sáng tạo,
nắm bắt thời cơ thuận lợi, kịp thời khắc phục khó khăn vượt qua thử thách
của toàn thể cán bộ công nhân viên, nên thời gian qua công ty đã thu được
những kết quả sau:
Bảng 01: Kế
1.934.72
0.162
2.575.04
9
1.382.025,
89
Kinh doanh
cung ứng tàu
biển
Cấp nước ngọt USD
VNĐ
25.780
616.629.
000
11.872.7
27
700.000.
000
40.497,0
7
1.138.93
9.197
26.926,50
440.568.9
90
Cấp nhiên liệu USD
VNĐ
156.951
79.778.0
USD
VNĐ
2.346
11.034.0
00
45.000 9.752,5
203.297.
994
22.632,70
223.010.2
60
1
Bán hàng miễn
thuế
USD 973.896 426.449,
87
429.288,
12
141.948
2 Kinh doanh
khách sạn nhà
hàng
VNĐ 3.026.00
0.000
8.208.55
8.911
4.091.727.
188
Phòng nghỉ thu USD
VNĐ
386.000.
000
3 Kinh doanh
kho ngoại
quan
USD
VNĐ
460.966
65.000.0
0
78.508 138.068 31.771,05
4 Kinh doanh
chuyển khẩu
USD 74.045 662.549.
525
991.947 117.637,2
7
5 Kinh doanh du
lịch lữ hành
VNĐ 5.112.00
0.000
5.336.08
1.400
7.012.35
1.925
1.741.577.
896
6 Kinh doanh
tổng hợp
USD 2.968
II Nộp ngân sách đồng 1.575.00
0.000
1.649.79
0.960
2.744.66
2.435
1.771.107.
008
III Lợi nhuận đồng 1.600.00
0.000
1.240.00
0.000
2.000.00
0.000
850.000.0
00
IV Lương bình
quân
đ/ng/
thán
g
850.000 928.000 1.000.00
0
1.000.000
( Nguồn: Báo cáo tổng kết 199 - 6 tháng đầu năm 2002)
+ Vốn sản xuất kinh doanh được bảo toàn và bổ sung thêm.
+ Thực lãi: 1,6 tỷ đồng.
+ Nộp ngân sách Nhà nước: 1,575 tỷ đồng.
3 Dầu đậu nành 2.504,878T 1.152.243,88 1.159.758,51
4 Thuốc lá điếu 18.014K 3.782.610 3.826.200
II Hàng TNTX
1 Hoa quả tươi 348,8T 121.248 139.946,92 18.700
2 Mì chính 200T 148.000 154.000 6.000
3 Máy xay nông 16C 6.400 8.200 1.800