Tài liệu Luận văn tốt nghiệp "Một số giải pháp chủ yếu tăng cường hoạt động tiêu thụ tại Công ty Xăng dầu Hà Giang" doc - Pdf 84

TRƯỜNG.........................................
KHOA.............................................
BÁO CÁO TỐT NGHIỆP
"Một số giải pháp chủ yếu tăng
cường hoạt động tiêu thụ tại Công ty
Xăng dầu Hà Giang"
1
LỜI NÓI ĐẦU
Tiêu thụ sản phẩm là một trong sáu chức năng hoạt động cơ bản của doanh
nghiệp: tiêu thụ, sản xuất, hậu cần kinh doanh, tài chính, kế toán và quản trị
doanh nghiệp. Mặc dù sản xuất là chức năng trực tiếp tạo ra sản phẩm song tiêu
thụ lại đóng vai trò là điều kiện tiền đề không thể thiếu để sản xuất có hiệu quả.
Quản trị kinh doanh truyền thống quan niệm tiêu thụ là hoạt động đi sau
sản xuất, chỉ được thực hiện khi đã sản xuất được sản phẩm. Trong cơ chế thị
trường, mọi hoạt động của doanh nghiệp đều tuỳ thuộc vào khả năng tiêu thụ,
nhịp độ tiêu thụ qui định nhịp độ sản xuất, thị hiếu của người tiêu dùng về sản
phẩm qui định chất lượng của sản xuất. Người sản xuất chỉ có thể phải bán cái
mà thị trường cần chứ không thể bán cái mà mình có. Vì vậy, quản trị kinh
doanh hiện đại quan niệm một số nội dung hoạt động tiêu thụ đứng ở vị trí trước
hoạt động sản xuất và tác động mạnh mẽ có tính chất quyết định đến hoạt động
sản xuất.
Công ty Xăng dầu Hà Giang là một doanh nghiệp nhà nước với hình thức
hoạt động chính là kinh doanh xăng dầu và các sản phẩm hoá dầu. Trải qua 37
năm hoạt động ở cả hai cơ chế: (cơ chế kế hoạch hoá, tập trung, bao cấp và cơ
chế thị trường) Công ty Xăng dầu Hà Giang đã từng bước vươn lên để khẳng
định mình, gây được chữ tín đối với khách hàng trong và ngoài tỉnh nhờ chất
lượng phục vụ và chất lượng nhiên liệu đạt tiêu chuẩn, Công ty đã không ngừng
lớn mạnh cùng với sự phát triển nhiều mặt của đất nước. Tuy nhiên một bộ phận
trong cán bộ quản lý và người trực tiếp sản xuất chậm thay đổi được tư duy còn
mang nặng cung cách làm việc thời kỳ bao cấp: thụ động, máy móc, không khoa
học do đó đã ảnh hưởng đến hoạt động tiêu thụ xăng dầu chung toàn Công ty.

GIỚI THIỆU KHÁI QUÁT VỀ CÔNG TY XĂNG DẦU HÀ GIANG
I. Quá trình hình thành và phát triển Công ty Xăng dầu - Hà Giang
1. Lịch sử hình thành công ty
Công ty Xăng dầu Hà Giang là một doanh nghiệp nhà nước thuộc Tổng
công ty Xăng dầu Việt Nam. Tiền thân vốn là Chi cục Vật tư Hà Giang trực
thuộc Tổng cục Vật tư, thành lập theo Quyết định số 1213/QĐ/TCVT ngày
01/12/1967. Trụ sở Công ty đặt tại Tổ 01 Phường Nguyễn Trãi - Thị xã Hà
Giang - Tỉnh Hà Giang.
Ngành nghề kinh doanh chủ yếu của Công ty là các mặt hàng: Xăng, dầu,
sản phẩm hoá dầu, thiết bị phụ tùng ô tô, than chất đốt, kim khí.
Khi mới thành lập Chi cục Vật tư Hà Giang (nay là Công ty Xăng dầu Hà
Giang) có qui mô nhỏ bé, máy móc thiết bị lạc hậu. Tổng vốn kinh doanh có
792.000 đồng, lao động có 65 người, Uỷ ban nhân dân tỉnh ra quyết định bổ
nhiệm ông Đinh Phúc Thảnh giữ chức vụ Giám đốc Công ty.
Điện thoại: 019866435 - 019767120 - 019867122 - 019867654.
Số FAX: 019867047.
Tài khoản: 431101000029 tại Ngân hàng Nông nghiệp Hà Giang.
Mã số thuế: 5100100046 - 1.
4
2. Quá trình phát triển của Công ty
Trải qua 37 năm hoạt động kinh doanh, chức năng, nhiệm vụ của Công ty
cũng có những thay đổi song không lớn, nhưng về pháp lý cũng như về qui mô
và hiệu quả hoạt động kinh doanh Công ty có những thay đổi rất cơ bản:
Năm 1970 đổi tên thành Công ty Vật tư Hà Giang trực thuộc Bộ Vật tư
(nay là Bộ Thương mại). Chức năng, nhiệm vụ không có gì thay đổi, qui mô vốn
và lao động đã được tăng lên, vốn kinh doanh 1.216.000 đồng với 71 lao động.
Năm 1976 theo quyết định của Chính phủ, tỉnh Hà Giang và tỉnh Tuyên
Quang sáp nhập thành tỉnh Hà Tuyên. Do đó Công ty Vật tư Hà Giang và Công
ty Vật tư Tuyên Quang được hợp nhất thành Công ty Vật tư tổng hợp Hà Tuyên
trực thuộc Bộ Vật tư (nay là Bộ Thương mại). Thời điểm này trụ sở chính đặt tại

987/XD - QĐ đổi tên Công ty Vật tư tổng hợp Hà Giang thành Công ty Xăng
dầu Hà Giang. Mặt hàng kinh doanh không có thay đổi song Công ty đã chuyển
hẳn sang kinh doanh theo cơ chế thị trường, tự chủ trong hoạt động kinh doanh.
Địa điểm trụ sở tại Tổ 1 Phường Nguyễn Trãi - Thị xã Hà Giang - Tỉnh Hà
Giang.
Hiện nay tính đến 31/12/2003: Tổng số lao động có 79 người tăng 21%, so
với năm 1967, tổng giá trị tài sản của công ty có 16.404.373.405 đồng.
Trong đó : Tài sản lưu động 7.939.966.419đ.
Tài sản cố định 8.464.406.986.
Mặc dù thành lập từ khá sớm song có thể nói từ năm 1967 đến năm 1986
do công ty Vật tư tổng hợp hoạt động trong cơ chế kế hoạch hoá, tập trung, bao
6
cấp, mặt khác điều kiện kinh tế Hà Giang chậm phát triển, cơ sở vật chất kỹ
thuật còn nghèo nàn, một thời gian dài lại trải qua cuộc chiến tranh biên giới nên
thị trường rất nhỏ hẹp, nhu cầu và sức mua thấp, phương tiện bán hàng bằng thủ
công (đong trực tiếp bằng ca, gáo..). do đó trong thời gian này Công ty chỉ hoạt
động theo chỉ tiêu pháp lệnh kém hiệu quả, doanh thu thấp.
Từ năm 1987 đến năm 1996 Công ty tiếp cận và nghiên cứu vận dụng cơ
chế quản lý mới của Đảng, cơ chế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa
có sự quản lý của nhà nước. Cùng với sự phát triển kinh tế xã hội, Hà Giang tập
trung phát triển cơ sở hạ tầng, nhiều doanh nghiệp được thành lập và hoạt động
do đó thị trường được từng bước mở rộng, nhu cầu và sức mua tăng mạnh. Để
đáp ứng yêu cầu đó Công ty xăng dầu ngày càng được đầu tư vốn, lao động và
cải tiến phương thức kinh doanh. Tuy nhiên trong thời kỳ này thiết bị kỹ thuật
chưa được trang bị, mạng lưới kinh doanh chưa mở rộng, toàn Công ty có 04 cây
xăng dầu, các chính sách bán hàng chưa được trú trọng. Doanh thu, lợi nhuận,
nghĩa vụ nộp ngân sách và thu nhập của người lao động có tăng nhưng không
đáng kể.
Từ năm 1997 đến nay trước sức ép của khoa học kỹ thuật và các đối thủ
cạnh tranh, đòi hỏi khách quan của thị trường, Công ty Xăng dầu Hà Giang đã có

nghĩa vụ ngân sách cho Nhà nước, bảo toàn và phát triển vốn.
- Nghiêm chỉnh chấp hành các chế độ, chính sách và pháp luật của Nhà
nước, thực hiện đầy đủ các hợp đồng kinh tế ký kết với bạn hàng.
8
- Xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật để tăng năng lực và mạng lưới kinh
doanh, nghiên cứu và áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật và công nghệ mới
nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả bảo vệ môi trường.
- Được quyền tuyển dụng lao động, đào tạo, bồi dưỡng từng bước nâng
cao trình độ đội ngũ cán bộ công nhân viên đáp ứng được nhiệm vụ kinh doanh
của Công ty. Thực hiện đầy đủ các chính sách chế độ về tiền lương, phân phối sử
dụng lợi nhuận, tham gia bảo hiểm xã hội và an toàn lao động đối với công nhân
viên chức. Tận dụng máy móc thiết bị, cơ sở vật chất kỹ thuật và lực lượng lao
động sản xuất phụ và dịch vụ tạo thêm công ăn việc làm đảm bảo đời sống cho
cán bộ công nhân viên.
- Quản trị và chỉ đạo các đơn vị trực thuộc theo quy chế hiện hành của
Nhà nước và Tổng Công ty Xăng dầu Việt Nam.
II. Cơ cấu tổ chức
1. Cơ cấu sản xuất
- Hiện nay Công ty có 11 cửa hàng, các cửa hàng có trách nhiệm hoàn
thành các nhiệm vụ tổ chức các hoạt động nhập, quản lý, tiêu thụ xăng dầu, vật
tư và các sản phẩm hoá dầu; tổ chức các hoạt động trao đổi thông tin hai chiều
giữa khách hàng và Công ty về nhu cầu, tâm lý tiêu dùng, khai thác khách hàng,
tác phong văn minh phục vụ; trực tiếp thực hiện chính sách bán hàng như niêm
yết giá, hoạt động quảng cáo, khuyến mãi, giảm giá, trả chậm.
- Đội xe có trách nhiệm vận chuyển xăng dầu, sản phẩm hoá dầu, vật tư từ
kho đến các cửa hàng, các cơ sở đại lý và cơ sở bán buôn theo kế hoạch của
công ty hoặc theo nhu cầu đột xuất của các cửa hàng.
9
SƠ ĐỒ 01: MÔ HÌNH VẬN ĐỘNG HÀNG HOÁ CÔNG TY XĂNG DẦU HÀ GIANG
(QUI TRÌNH LƯU THÔNG)

trước Nhà nước và Tổng Công ty về mọi mặt hoạt động của Công ty Xăng dầu
Hà Giang.
- Trực tiếp chỉ đạo điều hành công tác tài chính kế toán, bảo toàn và phát
triển nguồn vốn, quyết định các phương thức phân phối tiền lương tiền thưởng,
các khoản chi phí của Công ty.
- Trực tiếp phụ trách công tác tổ chức cán bộ, quyết định những vấn đề
thuộc về nhân sự như: Tuyển dụng, đào tạo, điều động, khen thưởng, thanh tra
kỷ luật.
- Quyết định phương thức, quy mô, cơ chế kinh doanh, phương án định
giá (Giá bán hàng hoá, giá cước vận chuyển, hoa hồng cho đại lý. Quyết định
mục tiêu qui mô, hình thức đầu tư công nghệ, xây dựng cơ bản, phát triển kỹ
thuật.
2.1.2. Phó giám đốc thứ nhất
Thực hiện chức năng giúp việc cho Giám đốc, thường trực điều hành giải
quyết các công việc chuyên môn của Công ty khi được Giám đốc uỷ quyền.
- Trực tiếp điều hành và chịu trách nhiệm về công tác kinh doanh, bao
gồm từ công tác vận chuyển hàng hoá, đảm bảo nguồn hàng, tiêu thụ, kiểm kê,
tiếp thị, quảng cáo, báo cáo thống kê, bảo toàn và phát triển nguồn vốn.
12
- Phụ trách công tác hành chính, thanh tra, bảo vệ, phòng cháy chữa cháy,
ngoại giao, từ thiện.
2.1.3. Phó giám đốc thứ hai
Trực tiếp phụ trách công tác quản lý kỹ thuật, đo lường chất lượng, hao
hụt hàng hoá, các trang thiết bị công nghệ nhập, xuất, kho tàng, bồn bể chứa.
- Phụ trách công tác đầu tư xây dựng cơ bản, sửa chữa tài sản, thay thế
thiết bị, xây dựng định mức kinh tế, định mức chi phí cửa hàng. Theo dõi,
quản lý hoạt động của tổ bảo hiểm.
2.2. Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của từng phòng ban
2.2.1. Phòng Tổ chức hành chính
Biên chế có 6 nhân viên gồm 01 trưởng phòng và 05 cán bộ, Chức năng,

doanh từ các kho đầu mối, kho trung tâm đến các cửa hàng bán buôn, bán lẻ trên
địa bàn của tỉnh. Phân công phân cấp giao quyền chủ động cho các cửa hàng
hoặc trực tiếp chỉ đạo điều hành kinh doanh ở các cửa hàng, quầy hàng và kho
trung tâm.
- Theo dõi khối lượng hàng hoá nhập, xuất, tồn kho ở các cửa hàng và
kho. Phối hợp với các phòng chức năng thường xuyên kiểm tra chất lượng, số
lượng, giá bán hàng hoá của các cửa hàng thuộc Công ty và các cửa hàng đại lý.
- Kiểm tra hướng dẫn việc lập hoá đơn, biên bản xác nhận khối lượng
hàng hoá, kê sao nộp chứng từ, lập báo cáo nhanh, báo cáo định kỳ, đối chiếu,
quyết toán hao hụt xăng dầu theo định mức và thực hiện chế độ thông tin, báo
cáo theo qui định của Nhà nước và Tổng công ty.
2.2.3. Phòng kế toán tài chính
Biên chế có 05 nhân viên gồm 01 trưởng phòng, 01 phó trưởng phòng và
03 cán bộ. Chức năng, nhiệm vụ thể hiện:
14
- Thực hiện công tác hạch toán kế toán, theo dõi phản ánh tình hình hoạt
các nguồn vốn, tài sản, hàng hoá do Công ty quản lý và điều hành các mặt công
tác nghiệp vụ kế toán tài chính.
- Huy động, điều hành, sử dụng có hiệu quả các nguồn vốn trong kinh
doanh và xây dựng cơ bản. Quản lý, bảo toàn và phát triển nguồn vốn kinh
doanh,…
- Xây dựng và tổ chức thực hiện các kế hoạch tài chính dài hạn, ngắn hạn,
xây dựng các định mức chi phí phù hợp với kế hoạch, mục tiêu kinh doanh.
- Lập và phân tích các báo cáo tài chính, lưu trữ hoá đơn, chứng từ theo
đúng chế độ qui định của Nhà nước và của ngành ban hành. Cung cấp thông tin
cần thiết về tài chính nhằm tham mưu cho lãnh đạo Công ty kịp thời chỉ đạo và
điều hành mọi hoạt động kinh doanh của Công ty.
2.2.4. Phòng Quản lý kỹ thuật
Biên chế có 04 nhân viên gồm 01 trưởng phòng và 03 cán bộ. Chức năng,
nhiệm vụ thể hiện:

kinh doanh, đảm bảo kinh doanh có lãi, đáp ứng đầy đủ kịp thời nhu cầu về xăng
dầu, dầu nhờn các loại, khí gas và vật tư hàng hoá khác phục vụ cho sản xuất,
tiêu dùng xã hội, an ninh quốc phòng trên địa bàn tỉnh Hà Giang.
Mạng lưới bán lẻ của Công ty ngày càng mở rộng, hiện nay Công ty có 11
cửa hàng và 5 đại lý, thị trường đã vươn tới 6/11 huyện thị của tỉnh, sản lượng
hàng hoá xăng dầu bán ra bình quân đạt 1.200m
3
/ tháng, nguồn hàng Công ty ổn
định, giá cả hợp lý, các trang thiết bị bán hàng tương đối hiện đại như cột bơm
điện tử, máy phát điện, đã đảm bảo độ tin cậy về số lượng, chất lượng bán hàng
16
cũng như thời gian phục vụ bán hàng, do đó đã thu hút người tiêu dùng trong
việc mua hàng tại các cửa hàng của Công ty.

17
III. Một số đặc điểm kinh tế - kỹ thuật chủ yếu ảnh hưởng đến hoạt động
tiêu thụ ở Công ty xăng dầu - Hà Giang
1. Môi trường kinh doanh xăng, dầu trên thế giới và khu vực
Việt Nam tuy có trữ lượng dầu mỏ tương đối lớn song chủ yếu khai thác
xuất thô, công nghệ chế biến còn lạc hậu, nhu cầu sử dụng xăng dầu nhất là xăng
dầu công nghệ cao phải nhập của nước ngoài. Thị trường thế giới luôn mất ổn
định do các cuộc chiến tranh vũ trang sắc tộc, tôn giáo như cuộc chiến tranh
IRAQ năm 2003 và khủng hoảng kinh tế kéo dài do đó giá nhập khẩu xăng dầu
biến động lớn. Mặt khác nguồn dầu mỏ trên thế giới ngày càng cạn kiệt, tài
nguyên không tái sinh, hàng hoá thay thế xăng dầu hạn chế trong khi đó nhu cầu
sử dụng ngày càng lớn khiến cho giá xăng dầu nhập khẩu có chiều hướng gia
tăng. Tình hình trên khiến cho thị trường xăng dầu trong nước ảnh hưởng khá
nặng nề, có thời gian (2001, 2003) giá nhập cao hơn giá bán Nhà nước phải áp
dụng giải pháp bù lỗ, nhiều đối tượng lợi dụng đầu cơ có tính chất trục lợi càng
làm cho thị trường xăng dầu thêm mất ổn định. Đơn cử tháng 5 năm 2004 giá

- Xăng dầu là chất dễ cháy nổ, vì vậy việc bảo quản, vận chuyển phải tuân
thủ theo những quy trình đặc biệt, thiết bị phải đảm bảo không tạo ra tia lửa điện,
hệ thống điện và các vật va đập phải được đóng kín.
- Xăng dầu là mặt hàng đa dạng, đòi hỏi yêu cầu kỹ thuật và yêu cầu chất
lượng cao trong khi tính ổn định thấp.
- Xăng dầu là mặt hàng chiến lược của Nhà nước là sản phẩm từ dầu mỏ
có nguy cơ gây ô nhiễm môi trường cao, là nguồn nhiên liệu quan trọng trong
hoạt động sản xuất kinh doanh cũng như phục vụ nhu cầu đời sống, cung cấp
năng lượng chính cho các ngành vận tải ô tô, tàu hoả, máy bay, tàu thuỷ vượt đại
dương, đánh bắt hải sản.
19
Với những đặc điểm nêu trên đòi hỏi phải tăng chi phí các khâu: Bảo
quản, vận chuyển, mua thiết bị chuyên dùng,…lợi nhuận thấp.
4. Đặc điểm về sự vận động hàng hoá của Công ty
Lượng xăng dầu nhập của Công ty được nhập từ 02 đầu mối :
- Đầu mối thứ nhất: Nguồn hàng nhập được ngành điều động từ kho đầu
mối Đức Giang - Gia Lâm - Hà Nội vận chuyển lên Hà giang qua quãng đường
350 km.
- Đầu mối thứ hai: Nguồn hàng nhập được ngành điều động từ kho Phủ
đức - Việt trì - Phú thọ vận chuyển lên Hà giang qua quãng đường 240 km.
Hai nguồn trên phần lớn lượng vận chuyển được công ty ký hợp đồng vận
tải với công ty Cổ phần vận tải Petromexl- Hà Nội và nhập vào kho trực tiếp tại
các cửa hàng trực thuộc Công ty và các cửa hàng đại lý. Mặt khác công ty còn có
kho trung tâm tại Cửa hàng Cầu Mè là kho thường xuyên được dự trữ một lượng
hàng lớn xăng dầu để cung ứng hàng cho các huyện vùng cao. Công ty tự vận
chuyển bằng phương tiện của Công ty từ kho Công ty đến các cửa hàng các
huyện vùng cao. Do cầu đường nhỏ hẹp, chất lượng đường xuống cấp đi lại rất
khó khăn, xe có trọng tải lớn không đi được, Công ty phải tiếp nhận sử dụng
những xe có tải trọng khoảng 10 m
3

tranh để tìm lợi nhuận trên một nhóm khách hàng nhất định.
- Các đối thủ có lợi thế hơn về mặt giá cả, vốn kinh doanh, cơ chế công nợ
thoáng, cạnh tranh trên thị trường ngày càng trở nên gay gắt, thế độc quyền của
ngành xăng dầu bị phá vỡ. Mặt khác tư duy “Độc quyền”, tư duy “Khách hàng tự
tìm đến” đã ăn sâu vào tiềm thức của cán bộ công nhân viên trong toàn bộ máy
Công ty.
21
- Vị trí một số cửa hàng không thuận lợi nên thị phần của Công ty bị thu
hẹp từ 25 -30%.
22
* Thứ hai: Về đặc điểm của khách hàng
- Khách hàng là những cá nhân hay tổ chức thuộc mọi thành phần kinh tế có
nhu cầu cần được thoả mãn về hàng hoá và có khả năng thanh toán. Nhu cầu này
được thực hiện thông qua mạng lưới tiêu thụ và dịch vụ của các cửa hàng.
Với 37 năm hoạt động kinh doanh, dịch vụ công ty xăng dầu Hà giang đã
trải qua hai cơ chế. Trong thời kỳ thực hiện cơ chế kế hoạch hoá tập trung, bao
cấp mục tiêu của công ty là hoàn thành chỉ tiêu pháp lệnh. Mặt khác cầu của thị
trường không được đáp ứng, bị ràng buộc bởi chế độ, định mức, chỉ tiêu,… do
đó khách hàng thời kỳ này rất hạn chế chủ yếu là các cơ quan nhà nước, các tổ
chức chính trị, kinh tế, an ninh, quốc phòng.
Trong thời kỳ thực hiện cơ chế thị trường, khách hàng của Công ty đa dạng
và phong phú hơn, có nhiều khách hàng là những doanh nghiệp lớn đã ký hợp
đồng với Công ty. Với khách hàng hiện tại thì mảng khách hàng sử dụng xăng
dầu phục vụ cho các phương tiện phục vụ sản xuất và đi lại gia tăng với tỷ trọng
lớn. Nghiên cứu mảng số liệu về quản lý các phương tiện tham gia giao thông ở
cơ quan công an và sở giao thông cho thấy sự gia tăng của các phương tiện như
trình bày ở biểu 02.
Đi liền với sự gia tăng về số lượng, công suất, hiệu quả hoạt động của các
phương tiện cũng được gia tăng, do đó nhu cầu sử dụng xăng dầu của khách
hàng ngày càng gia tăng đáng kể.

2
.
- Diện tích khu văn phòng: 10.436,3 m
2
.
*Nhà làm việc: 355 m
2
.
*Nhà kho: 1.405,5 m
2
.
*Nhà khách + Tập thể: 274 m
2
.
*Sân bãi, khuân viên: 8.401,8 m
2
.
- Diện tích 11 cửa hàng trực thuộc: 10.418.2 m
2
24
BIỂU 03: CƠ SỞ VẬT CHẤT KỸ THUẬT CÓ TỚI NGÀY 31/12/2003
Đơn vị tính:1.000 đ
CHỈ TIÊU

SỐ
TSCĐ HỮU HÌNH
TSC
Đ VÔ
HÌNH
TSCĐ

2. Số cuối kỳ
2.160.110 716.261 791.920 238.589 3.906.882
III. Giá trị
còn lại
323 4.258.000 1.113.303 944.228 60.137 6.375.670
Qua bảng số liệu trên ta thấy cơ sở vật chất kỹ thuật của Công ty có giá trị
không lớn, thời gian sử dụng đã lâu. Số lượng máy móc, trang thiết bị đã sử
dụng trên 5 năm chiếm tỷ trọng lớn, có loại đã khấu hao 100% song đến nay vẫn
còn sử dụng như một số nhà cửa, kho tàng, phượng tiện vận tải, do đó ảnh hưởng
không ít tới quá trình kinh doanh và thúc đẩy tiêu thụ như:
- Hệ thống cửa hàng tương đối khang trang nhưng mạng lưới cửa hàng chưa
được mở rộng trên địa bàn tiêu thụ, chưa chú trọng công tác xây dựng các nhà
kho để bảo quản hàng hoá kinh doanh khác nói chung.
- Số lượng phương tiện vận tải đã sử dụng qua nhiều năm, số lượng đầu xe
ít, dung tích nhỏ và phải thường xuyên sửa chữa, do đó đôi lúc không đáp ứng
được việc cung ứng hàng hoá kịp thời theo kế hoạch .
25

Trích đoạn Đánh giá chung về hoạt động tiêu thụ của Công ty Mục tiêu, phương hướng chung Quan điểm về kinh doanh xăng dầu của Công ty Hoàn thiện công tác nghiên cứu thị trường Đảm bảo an toàn phòng chống cháy nổ
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status