Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn tại Công ty trách nhiệm hữu hạn thương mại dịch vụ Điện Quang - Pdf 22

MỤC LỤC
LÝ LU N CHUNG V HI U QU S D NG V N 3Ậ Ề Ệ Ả Ử Ụ Ố
TRONG DOANH NGHI P 3Ệ
Kh u hao = Kh u hao + Kh u hao - Kh u hao 14ấ ấ ấ ấ
- Hệ số hiệu suất vốn cố định tăng dần qua các năm, năm 2009 tăng so với năm 2008
là 0,70, năm 2010 tăng so với 2009 là 0,85. Như vậy tức là một đồng vốn cố định
tham gia vào quá trình sản xuất kinh doanh của công ty sẽ đem lại lần lượt cho các
năm 2008, 2009, 2010 lần lượt là 4,89 đồng, 5,59 đồng, 6,45 đồng doanh thu. 56
Ngược lại thì chỉ tiêu hàm lượng vốn cố định cho biết để thu được một đồng doanh
thu thì năm 2008 công ty chỉ phải bỏ ra 0,2 đồng vốn cố định, năm 2009 còn 0,18
đồng, và đến năm 2010 giảm xuống chỉ còn 0,16 đồng. Doanh thu tăng lên trên một
đồng vốn cố định bỏ ra, hay bỏ ra ít hơn để thu được cùng một đồng doanh thu, có
thể đánh giá đây là một trong những mục đích quan trọng của doanh nghiệp đã đạt
được. Nguyên do là vì doanh thu thuần trong các năm tăng dần lên, thậm chí tăng rất
cao vào 2010, nhưng nguyên giá TSCĐ bình quân tăng không nhiều. 56
KẾT LUẬN 73
1
LỜI MỞ ĐẦU
Mỗi doanh nghiệp là một tế bào của nền kinh tế, là nơi tổ chức kết hợp các yếu
tố của quá trình sản xuất để tạo ra của cải vật chất cho xã hội, tạo nguồn tích luỹ cho
xã hội phát triển. Trong giai đoạn hiện nay, trước một cơ chế thị trường đầy cạnh
tranh, một doanh nghiệp có thể tồn tại và đứng vững trên thị trường thì cần phải xác
định đúng mục tiêu hướng đi của mình sao cho đạt hiệu quả sản xuất kinh doanh tốt
nhất. Để có một hiệu quả sản xuất kinh doanh tốt thì ngay từ đầu quá trình sản xuất,
doanh nghiệp cần phải có vốn. Vốn là điều kiện không thể thiếu được để một đơn vị
được thành lập và tiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh, là nhân tố chi phối
hầu hết các nhân tố khác. Việc sử dụng và quản lý vốn có hiệu quả mang ý nghĩa
quan trọng đòi hỏi doanh nghiệp phải có chiến lược, biện pháp hữu hiệu để huy
động và sử dụng nguồn vốn. Việc sử dụng và quản lý vốn hiệu quả sẽ đem lại cho
doanh nghiệp nhiều lợi nhuận, cũng như làm cho sự phát triển chung của toàn xã hội
ngày càng tốt hơn.

Để tìm hiểu về các vấn đề khác thì trước hết ta phải hiểu về vốn là gì?
Có nhiều quan niệm vốn. Các nhà kinh tế học cổ điển tiếp cận vốn với góc độ
hiện vật. Họ cho rằng, vốn là một trong những yếu tố đầu vào trong quá trình sản
xuất kinh doanh. Cách hiểu này phù hợp với trình độ quản lý kinh tế còn sơ khai -
giai đoạn kinh tế học mới xuất hiện và bắt đầu phát triển.
Theo một số nhà tài chính thì vốn là tổng số tiền do những người có cổ phần
trong công ty đóng góp và họ nhận được phần thu nhập chia cho các chứng khoán
của công ty. Như vậy, các nhà tài chính đã chú ý đến mặt tài chính của vốn, làm rõ
được nguồn vốn cơ bản của doanh nghiệp đồng thời cho các nhà đầu tư thấy được
lợi ích của việc đầu tư, khuyến khích họ tăng cường đầu tư vào mở rộng và phát
triển sản xuất.
Trong cuốn “Kinh tế học” của mình, David Begg và một số nhà kinh tế cho
rằng: Vốn là một loại hàng hoá nhưng được sử dụng tiếp tục vào quá trình sản xuất
kinh doanh tiếp theo. Có hai loại vốn là vốn hiện vật và vốn tài chính. Vốn hiện vật
là dự trữ các loại hàng hoá đã sản xuất ra các hàng hoá và dịch vụ khác. Vốn tài
chính là tiền mặt, tiền gửi ngân hàng Đất đai không được coi là vốn.
3
Một số nhà kinh tế học khác cho rằng vốn bao gồm toàn bộ các yếu tố kinh tế
được bố trí để sản xuất hàng hoá, dịch vụ như tài sản tài chính mà còn cả các kiến
thức về kinh tế kỹ thuật của doanh nghiệp đã tích luỹ được, trình độ quản lý và tác
nghiệp của các cán bộ điều hành cùng chất lượng đội ngũ công nhân viên trong
doanh nghiệp, uy tín, lợi thế, thương hiệu của doanh nghiệp.
Một số quan điểm khác lại cho rằng vốn là giá trị đem lại giá trị thặng dư.
Các quan niệm về vốn nêu trên đã tiếp cận dưới những góc độ nghiên cứu
khác nhau, trong những điều kiện lịch sử khác nhau, qua đó ta có thể khái quát về
vốn là toàn bộ giá trị của tài sản doanh nghiệp ứng ra ban đầu và trong các giai đoạn
tiếp theo của quá trình sản xuất kinh doanh nhằm mục đích tăng giá trị tối đa cho
chủ sở hữu doanh nghiệp.
1.1.2. Vai trò của vốn đối với doanh nghiệp
Trước hết vốn là tiền đề cho sự ra đời của doanh nghiệp. Về phía nhà nước, bất

nữa, các quá trình sản xuất kinh doanh cũng khác nhau nên việc dùng vốn lưu động
cũng khác nhau. Nhu cầu vốn lưu động phát sinh thường xuyên như mua thêm
nguyên vật liệu, mua thêm hàng để bán, để thanh toán, để trả lương, để giao
dịch Hơn nữa trong quá trình sản xuất kinh doanh của mình thì các doanh nghiệp
không phải lúc nào cũng có đầy đủ vốn. Có khi thiếu, có khi thừa vốn, điều này là
do bán hàng hóa chưa được thanh toán kịp thời, hoặc hàng tồn kho quá nhiều chưa
tiêu thụ được, hoặc do máy móc hỏng hóc chưa sản xuất được Những lúc thiếu hụt
như vậy thì việc bổ sung vốn kịp thời là rất cần thiết vì nó đảm bảo cho quá trình sản
xuất kinh doanh được liên hoàn.
1.1.2.3. Vốn đối với sự phát triển của doanh nghiệp
Ngày nay việc nước ta chuyển sang nền kinh tế thị trường đã xuất hiện nhiều
loại hình doanh nghiệp khác nhau, kinh doanh trên các lĩnh vực khác nhau. Vì vậy,
muốn tồn tại thì doanh nghiệp phải phát triển, cạnh tranh được với các doanh nghiệp
khác. Trong khi các đối thủ cạnh tranh ngày càng gay gắt và khốc liệt, hơn nữa đòi
hỏi của khách hàng ngày càng cao. Vì vậy cần phải đầu tư cho công nghệ hiện đại,
tăng quy mô sản xuất, hạ giá thành nhưng vẫn đảm bảo chất lượng sản phẩm ngày
một tốt hơn Những yêu cầu tất yếu ấy đòi hỏi doanh nghiệp phải cạnh tranh để
phát triển thì cần phải có vốn.
Qua những phân tích trên ta thấy được tầm quan trọng của vốn. Vốn tồn tại
trong mọi giai đoạn trong quá trình sản xuất.
1.1.3. Phân loại vốn của doanh nghiệp
Có nhiều cách để sử dụng vốn kinh doanh có hiệu quả. Để phân loại nguồn vốn
khác nhau, người ta thường phân loại vốn theo các tiêu thức sau:
1.1.3.1. Căn cứ vào nội dung vật chất của vốn được chia thành
5
- Vốn thực: là toàn bộ hàng hóa phục vụ cho sản xuất kinh doanh như: máy
móc thiết bị, nhà xưởng, đường xá phần vốn này phản ánh hình thái vật thể của
vốn.
- Vốn tài chính: biểu hiện dưới hình thái tiền tệ, chứng khoán, các giấy tờ có
giá khác dùng cho việc mua tài sản, máy móc thiết bị. Phần vốn này tham gia gián

vốn một mặt giải quyết nhu cầu về vốn đảm bảo sự ổn định và sản xuất kinh doanh
được liên tục. Mặt khác, đó là phương pháp sử dụng hiệu quả các nguồn tài chính
trong nền kinh tế .
1.1.3.3. Căn cứ vào thời hạn luân chuyển, vốn được chia thành ba loại sau:
- Vốn ngắn hạn: là loại vốn có thời hạn luân chuyển dưới một năm.
- Vốn trung hạn: là loại vốn có thời hạn luân chuyển từ một năm đến năm năm.
- Vốn dài hạn: là loại vốn có thời hạn luân chuyển từ năm năm trở lên.
1.1.3.4. Căn cứ vào phương thức luân chuyển giá trị, vốn được chia thành hai
loại sau:
- Vốn cố định: là biểu hiện bằng tiền của tài sản cố định (TSCĐ), TSCĐ dùng
trong kinh doanh tham gia hoàn toàn vào quá trình kinh doanh nhưng về mặt giá trị
thì chỉ có thể thu hồi dần sau nhiều chu kỳ kinh doanh.
Vốn cố định biểu hiện dưới hai hình thái:
+ Hình thái hiện vật: Đó là toàn bộ tài sản cố định dùng trong kinh doanh của
các doanh nghiệp. Nó bao gồm nhà cửa, máy móc, thiết bị, công cụ
+ Hình thái tiền tệ: Đó là toàn bộ TSCĐ chưa khấu hao và vốn khấu hao khi
chưa được sử dụng để sản xuất TSCĐ, là bộ phận vốn cố định đã hoàn thành vòng
luân chuyển và trở về hình thái tiền tệ ban đầu.
- Vốn lưu động: Là biểu hiện bằng tiền của tài sản lưu động và vốn lưu động.
Vốn lưu động tham gia hoàn toàn vào quá trình kinh doanh và giá trị có thể trở lại
hình thái ban đầu sau mỗi vòng chu chuyển của hàng hoá. Nó là bộ phận của vốn
sản xuất, bao gồm giá trị nguyên liệu, vật liệu phụ, tiền lương Những giá trị này
được hoàn lại hoàn toàn cho chủ doanh nghiệp sau khi đã bán hàng hoá.Trong quá
trình sản xuất, bộ phận giá trị sức lao động biểu hiện dưới hình thức tiền lương đã bị
người lao động hao phí nhưng được tái hiện trong giá trị mới của sản phẩm, còn giá
trị nguyên, nhiên vật liệu được chuyển toàn bộ vào sản phẩm trong chu kỳ sản xuất
kinh doanh đó. Vốn lưu động ứng với loại hình doanh nghiệp khác nhau thì khác
nhau. Đối với doanh nghiệp thương mại thì vốn lưu động bao gồm: Vốn lưu động
định mức và vốn lưu động không định mức. Trong đó:
7

tối đa hoá giá trị doanh nghiệp. Để đạt được mục tiêu này đòi hỏi doanh nghiệp phải
tìm các biện pháp nhằm khai thác và sử dụng một cách triệt để những nguồn lực bên
8
trong và ngoài doanh nghiệp, chính vì vậy vấn đề nâng cao hiệu quả sử dụng vốn
phải được doanh nghiệp đặt lên hàng đầu, đó là mục tiêu trung gian tất yếu để đạt
được mục tiêu cuối cùng bởi vốn có vai trò mang tính quyết định đối với quá trình
hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Nhưng trước hết ta cần phải hiểu
hiệu quả sử dụng vốn là gì?
Nói đến hiệu quả có nghĩa là đề cập đến mối quan hệ giữa kết quả đạt được và
chi phí bỏ ra, nó bao gồm hai mặt: hiệu quả kinh tế và hiệu quả xã hội.
- Hiệu quả kinh tế: Hiệu quả kinh tế của việc thực hiện mỗi nhiệm vụ kinh tế
xã hội biểu hiện ở mối tương quan giữa kết quả thu được và chi phí bỏ ra. Nếu xét
về tổng lượng, người ta chỉ thu được hiệu quả kinh tế khi nào kết quả lớn hơn chi
phí. Hiệu quả của bất kỳ một hoạt động kinh doanh nào cũng đều thể hiện mối quan
hệ giữa kết quả sản xuất và chi phí bỏ ra:
Hiệu quả kinh doanh =
Kết quả
Chi phí đầu vào
- Hiệu quả xã hội: mức độ hiệu quả kinh tế cao thu được phản ánh sự cố gắng
nỗ lực, trình độ quản lý ở mỗi khâu mỗi cấp trong hệ thống công việc và sự gắn bó
của việc giải quyết những yêu cầu và mục tiêu kinh tế với những yêu cầu và mục
tiêu chính trị xã hội.
Như vậy, hiệu quả kinh tế đạt được phải có đầy đủ cả hai mặt trên có nghĩa là
vừa phải đảm bảo sự có sự chênh lệch giữa kết quả thu được và chi phí bỏ ra đồng
thời phải đạt được mục tiêu chính trị xã hội nhất định.
Thông qua quan điểm tổng quát đã đưa ra ở trên có thể kết luận :
Hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp là một phạm trù kinh tế phản ánh
trình độ khai thác, sử dụng nguồn vốn của doanh nghiệp vào hoạt động sản xuất
kinh doanh nhằm mục đích sinh lợi tối đa với chi phí thấp nhất.
Để hiểu rõ hơn về khái niệm này cần phải xem xét một số chỉ tiêu phản ánh

doanh nghiệp là vốn sản xuất kinh doanh bao gồm vốn cố định và vốn lưu động.
Ngoài ra có thể đánh giá hiệu quả từng bộ phận vốn khác nhau. Vấn đề đặt ra là xác
định phạm vi từng loại vốn, bộ phận nào trực tiếp tạo ra doanh thu thì mới trực tiếp
tính vào chi phí đầu vào.
Hiệu quả sử dụng vốn được lượng hoá thông qua hệ thống các chỉ tiêu về khả
năng hoạt động, khả năng sinh lời, tốc độ luân chuyển vốn Nó phản ánh quan hệ
10
giữa đầu vào và đầu ra của quá trình sản xuất kinh doanh thông qua thước đo tiền tệ
hay cụ thể là mối quan hệ giữa kết quả thu được với chi phí bỏ ra để tiến hành hoạt
động sản xuất kinh doanh. Kết quả thu được càng cao so với chi phí vốn bỏ ra thì
hiệu quả sử dụng vốn càng cao. Do đó doanh nghiệp muốn đạt được mục tiêu tăng
trưởng và tối đa hoá giá trị doanh nghiệp cần phải đặt vấn đề nâng cao hiệu quả sử
dụng vốn lên hàng đầu. Tuy nhiên nâng cao hiệu quả sử dụng vốn không phải là một
nhiệm vụ đơn giản trước khi tìm ra các giải pháp thực hiện doanh nghiệp cần phải
giải quyết được các vấn đề cơ bản sau:
- Phải khai thác nguồn lực vốn một cách triệt để, không để vốn nhàn rỗi, lãng
phí, sử dụng vốn đúng mục đích ,tiết kiệm có nghĩa là doanh nghiệp phải xác định
được thời điểm bỏ vốn, quy mô bỏ vốn sao cho đem lại hiệu quả cao nhất với chi phí
thấp nhất.
- Doanh nghiệp cần phải có chiến lược sản xuất kinh doanh, có kế hoạch
quản lý phân bổ sử dụng vốn một cách hợp lý và quan trọng là phải luôn huy động,
đầu tư thêm để mở rộng qui mô sản xuất và lĩnh vực hoạt động.
Đây là những yếu tố có ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả hoạt động của doanh
nghiệp liên quan đến vấn đề bảo toàn và phát triển vốn của doanh nghiệp, thực hiện
được những yêu cầu trên tức là doanh nghiệp đã tìm ra một nửa trong số các giải
pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn.
1.2.2. Tầm quan trọng của việc nâng cao hiệu quả sử dụng vốn trong doanh
nghiệp
Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn sẽ đảm bảo an toàn tài chính cho doanh
nghiệp. Việc sử dụng vốn có hiệu quả giúp doanh nghiệp có uy tín huy động vốn tài

ích sau thuế. Chỉ tiêu này càng lớn càng tốt.
12
Thu nhập sau thuế
Doanh lợi tiêu thụ sản phẩm =
Doanh thu
Lợi nhuận sau thuế
Doanh lợi vốn chủ sở hữu =
Vốn chủ sở hữu
Thu nhập sau thuế
Doanh lợi tài sản =
Tổng tài sản
- Để xem xét hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp người ta thường xem xét
chỉ tiêu doanh lợi vốn (hệ số sinh lời của tài sản)
Hệ số sinh lời của tài sản dùng để đánh giá khả năng sinh lời của một đồng vốn
đầu tư (hoặc chỉ tiêu hoàn vốn đầu tư).
Qua bốn chỉ tiêu trên cho ta thấy một cái nhìn tổng thể về hiệu quả sử dụng
vốn của doanh nghiệp. Tuy nhiên nó chưa đánh giá được đầy đủ nhất vì doanh
nghiệp còn đầu tư vào các tài sản khác như tài sản cố định, tài sản lưu động.
1.2.3.2. Chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn cố định
- Hiệu suất sử dụng tài sản cố định: Chỉ tiêu này cho biết một đơn vị tài sản cố
định trong kì tạo ra được bao nhiêu đơn vị doanh thu
Chỉ tiêu này càng lớn chứng tỏ hiệu suất sử dụng tài sản cố định càng cao.
- Hiệu suất sử dụng vốn cố định: Chỉ tiêu này cho biết mỗi đơn vị vốn cố định
được đầu tư vào sản xuất kinh doanh đem lại bao nhiêu đơn vị doanh thu.

Chỉ tiêu này càng lớn chứng tỏ hiệu suất sử dụng vốn cố định càng cao.
- Vốn cố định sử dụng bình quân trong một kì: là bình quân số học của vốn cố
định có ở đầu kì và cuối kì. Vốn cố định đầu kỳ (hoặc cuối kì) là hiệu số của nguyên
giá tài sản cố định có ở đầu (hoặc cuối kì).
Khấu hao luỹ kế đầu kì là khấu hao luỹ kế ở cuối kì trước chuyển sang.

VCĐ sử dụng bình quân trong 1 kỳ
Vốn (TSCĐ) sử dụng BQ trong kỳ
Hàm lượng vốn TSCĐ =
Doanh thu thuần trong kỳ
Doanh thu thuần
Số vòng quay VLĐ =
VLĐ bình quân
Tổng số ngày trong 1 kỳ
Kỳ thu tiền b/q =
Vòng quay khoản phải thu trong kỳ
Vòng quay khoản phải thu trong kỳ càng nhỏ chứng tỏ hiệu quả sử dụng càng
cao.
- Hiệu suất sử dụng vốn lưu động: phản ánh một đồng vốn lưu động sử dụng
trong kì sẽ tạo ra bao nhiêu đồng doanh thu thuần (có thuế).
.
- Doanh lợi vốn lưu động (tỷ suất lợi nhuận vốn lưu động): phản ánh một đồng
vốn lưu động sử dụng bình quân trong kì tạo ra được bao nhiêu đồng lợi nhuận sau
thuế:
- Nhóm chỉ tiêu phản ánh khả năng thanh toán của doanh nghiệp
+ Khả năng thanh toán hiện hành là thước đo khả năng thanh toán ngắn hạn
của doanh nghiệp, chỉ tiêu này cho biết khoản nợ của các chủ nợ ngắn hạn.
Chỉ tiêu này lớn hơn 1 thì tốt cho doanh nghiệp.
+ Khả năng thanh toán nhanh: là tỷ số giữa các khoản quay vòng nhanh và nợ
ngắn hạn. Tài sản quay vòng nhanh là những tài sản có thể nhanh chóng chuyển đổi
thành tiền như: chứng khoán ngắn hạn, các khoản phải thu. Tài sản dự trữ là các tài
sản khó chuyển thành tiền hơn trong tổng tài sản lưu động và dễ bị lỗ nhất.
15
Doanh thu bán hàng trong kỳ
Vòng quay khoản phải thu trong kỳ =
Các khoản phải thu bình quân

Lợi nhuận trước thuế
Doanh lợi vốn cố định =
VLĐ bình quân
1.3. Các nhân tố ảnh hưởng tới hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp
1.3.1. Các nhân tố chủ quan
Các yếu tố thuộc về doanh nghiệp có tác động trực tiếp tới tình hình tài chính
của doanh nghiệp mình.
- Trình độ kỹ thuật sản xuất: đối với doanh nghiệp có công nghệ hiện đại, trình
độ sản xuất cao, sẽ tiết kiệm được nhiều chi phí sản xuất, từ đó hạ giá thành sản
phẩm, tăng sức cạnh tranh trên thị trường. Nhưng ngược lại trình độ kỹ thuật thấp,
máy móc lạc hậu sẽ làm giảm doanh thu, ảnh hưởng đến tài chính của doanh nghiệp.
- Quy mô, cơ cấu tổ chức của doanh nghiệp.
Doanh nghiệp có quy mô càng lớn thì việc quản lý hoạt động của doanh nghiệp
càng phức tạp. Khi quy mô DN tăng thì lượng vốn sử dụng ngày càng nhiều, vì vậy
cơ cấu tổ chức của DN càng chặt chẽ thì sản xuất càng hiệu quả. Khi quản lý sản
xuất được quy củ, kỉ luật lao động tốt thì sẽ tiết kiệm được chi phí và thu lợi nhuận
cao. Mà công cụ chủ yếu để theo dõi quản lý hoạt động kinh doanh của doanh
nghiệp là hệ thống kế toán tài chính. Công tác kế toán thực hiện tốt sẽ đưa ra các số
liệu chính xác giúp cho lãnh đạo nắm được tình tình tài chính của doanh nghiệp, trên
cơ sở đó dưa ra các quyết định hợp lý, đúng đắn.
- Trình độ đội ngũ cán bộ lao động sản xuất:
+ Trình độ tổ chức quản lý của lãnh đạo: vai trò của người lãnh đạo trong tổ
chức sản xuất kinh doanh là rất quan trọng. Sự điều hành quản lý phải kết hợp được
tối ưu các yếu tố sản xuất, giảm chi phí không cần thiết, đồng thời nắm bắt được cơ
hội kinh doanh, đem lại sự phát triển cho doanh nghiệp.
+ Trình độ tay nghề của người lao động: nếu công nhân sản xuất có trình độ
tay nghề cao phù hợp với trình độ dây chuyền sản xuất thì việc sử dụng máy móc sẽ
tốt hơn, khai thác được tối đa công suất thiết bị làm tăng năng suất lao động, tạo ra
chất lượng sản phẩm cao. Điều này chắc chắn sẽ làm tình hình tài chính của doanh
nghiệp ổn định.

: Là chi phí lưu kho.
C
2
: Là chi phí mỗi lần đặt hàng.
Q : Là số lượng mỗi lần cung ứng hàng hóa.
D : Là lượng hàng hoá cần sử dụng trong 1 đơn vị thời gian
Ta có: Số lượng hàng hóa cung ứng tối ưu là:
Q
*
= (2*DC
2
/C
1
)
1/2

Trong quá trình quản lý nguyên vật liệu, người ta tính toán sao cho chi phí
quản lý là thấp nhất nhưng vẫn đảm bảo được hiệu quả sản xuất.
+ Quản lý theo phương pháp cung cấp đúng lúc hay dự trữ bằng không.
Các doanh nghiệp trong một số ngành có liên quan chặt chẽ với nhau hình
thành nên những mối quan hệ, khi có một đơn đặt hàng nào đó sẽ tiến hành sử dụng
những loại hàng hóa và sản phẩm dở dang của các đơn vị khác mà họ không phải dự
trữ. Phương pháp này giảm mức thấp nhất chi phí cho dự trữ.
- Quản lý tiền mặt và các chứng khoán thanh khoản cao:
18
Tiền mặt là tiền tồn quỹ, tiền trên tài khoản thanh toán của doanh nghiệp ở
ngân hàng. Tiền mặt là tài sản không sinh lãi. Vì vậy, cần phải quản lý sao chô tối
thiểu hóa lượng tiền mặt phải giữ. Tuy nhiên việc giữ tiền mặt trong kinh doanh
cũng là vấn đề cần thiết để đảm bảo giao dịch kinh doanh hàng ngày, để bù đắp cho
ngân hàng về việc ngân hàng cung cấp những dịch vụ cho doanh nghiệp, để đáp ứng

- Quản lý cho thuê, thế chấp, nhượng bán thanh lý tài sản:
+ Nhượng bán thanh lý tài sản:
Nhượng bán: DN được nhượng bán các tài sản không dùng nữa do lạc hậu về
kĩ thuật, để thu hồi vốn cho mục đích kinh doanh có hiệu quả hơn.
Thanh lý: DN được quyền thanh lý những tài sản kém phẩm chất hư hỏng,
không có khả năng phục hồi, tài sản lạc hậu kí thuật, không có nhu cầu sử dụng,
hoặc sử dụng không có hiệu quả, không thể nhượng bán nguyên dạng được.
+ Cho thuê thế chấp tài sản: DN được quyền cho các tổ chức, cá nhân trong
nước thuê hoạt độngcác tài sản thuộc quyền quản lý và sử dụng của mình. Đối với
tài sản cho thuê hoạt động, doanh nghiệp phải tính khấu hao theo chế độ quy định.
Doanh nghiệp được đem tài sản thuộc quyền quản lý và sử dụng của mình để cầm
cố, thế chấp vay vốn hoặc bảo lãnh tại các tổ chức tín dụng theo đúng trình tự, thủ
tục quy định của pháp luật.
- Xử lý tổn thất tài sản:
Tài sản tổn thất do nguyên nhân chủ quan của tập thể cá nhân thì người gây tổn
thất phải bồi thường theo quy định của pháp luật; mức độ bồi thường do doanh
nghiệp quy định. Tài sản đã mua bảo hiểm nếu tổn thất thì các tổ chức bảo hiểm bồi
thường theo hợp đồng bảo hiểm
1.3.2. Các nhân tố khách quan
- Yếu tố khách hàng:
Ngày nay, nhu cầu sử dụng sản phẩm của khách hàng ngày càng cao đòi hỏi
nhà cung cấp phải tạo ra được những sản phẩm độc đáo, hấp dẫn và lôi kéo được
người mua. Vì vậy doanh nghiệp cần phải làm sao tạo ra được những sản phẩm đó
với giá thành hợp lý để có lợi nhuận cao. Doanh nghiệp sẽ phải bỏ ra chi phí hợp lý
để nghiên cứu thị trường tìm hiểu các mặt hàng đang được ưa chuộng, tìm hiểu mẫu
mã, bao bì đóng gói để từ đó có quyết định sản xuất cho hiệu quả. Nhu cầu đòi hỏi
của khách hàng càng cao thì DN càng phải tích cực hơn trong công tác tổ chức thực
hiện làm cho hiệu quả hoạt động tốt hơn cũng có nghĩa tình hình tài chính được cải
thiện.
- Thị trường:

thành thấp thoả mãn nhu cầu của khách hàng. Do đó nó sẽ làm tăng doanh thu của
doanh nghiệp, lợi nhuận của doanh nghiệp tăng lên càng khuyến khích doanh nghiệp
tích cực sản xuất, tình hình tài chính của doanh nghiệp được cải thiện ngày càng tốt
hơn.
21
Ngựơc lại, nếu trạng thái nền kinh tế đang ở mức suy thoái thì việc doanh
nghiệp muốn cải thiện tình hình tài chính là khó khăn hơn, thậm chí là rất khó khăn.
- Về cơ chế chính sách kinh tế:
Vai trò điều tiết của Nhà nước trong nền kinh tế thị trường là điều không thể
thiếu. Điều này được quy định trong các Nghị quyết TW Đảng. Các cơ chế, chính
sách này có tác động không nhỏ tới tình hình tài chính của doanh nghiệp. Ví dụ như
từ cơ chế giao vốn, đánh giá lại tài sản, sự thay đổi các chính sách thuế (thuế GTGT,
thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế xuất nhập khẩu ), chính sách cho vay, bảo hộ và
khuyến khích nhập khẩu công nghệ đều ảnh hưởng tới quá trình sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp từ đó ảnh hưởng tới tình hình tài chính.
22
CHƯƠNG 2:
THỰC TRẠNG HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN TẠI CÔNG TY TRÁCH NHIỆM
HỮU HẠN THƯƠNG MẠI DỊCH VỤ ĐIỆN QUANG
2.1 Khái quát về công ty:
2.1.1. Quá trình hình thành, phát triển của công ty:
Căn cứ Luật thành lập công ty do Quốc hội thông qua tại kỳ họp thứ 5 khoá
IX ngày 20 tháng 6 năm 1994.
Căn cứ Giấy phép kinh doanh số 22.02.000632 của Sở Kế hoạch và đầu tư
tỉnh Quảng Ninh, Công ty Trách Nhiệm Hữu Hạn Thương Mại Dịch Vụ Điện Quang
được chính thức thành lập vào ngày 20 tháng 4 năm 2004.
Công ty đã chính thức đi vào hoạt động với số vốn điều lệ 500.000.000 VNĐ.
Qua 3 lần thay đổi Vốn điều lệ Công ty đã tăng lên 26.000.000.000 VNĐ.
Tên giao dịch : DIENQUANG TRADE-SERVICE LTD.CO
Tên viết tắt: CÔNG TY TNHH ĐIỆN QUANG

Công ty tuy mới thành lập được 7 năm nhưng đã đạt được nhiều thành tựu
với các ngành nghề kinh doanh như:
- Chiết nạp khí đốt hóa lỏng (LPG), kinh doanh gas và các sản phẩm liên
quan đến gas, ô xy đóng chai;
- Sản xuất, lắp ráp, buôn bán bếp gas, bình gas, đồ gia dụng tổng hợp;
- Kinh doanh hàng nông, lâm, thủy sản và thực phẩm hàng công nghệ phẩm,
đồ uống, rượu;
- Kinh doanh dịch vụ vận tải hàng hóa;
- Kinh doanh du lịch và dịch vụ ăn uống;
- Sản xuất, kinh doanh hoa sinh vật cảnh giống cây trồng;
- Kinh doanh máy móc, thiết bị ngành xây dựng, giao thông, hàng điện tử,
điện lạnh, tin học, phương tiện vận tải ô tô, xe máy và phụ tùng.
2.1.1.2. Thị trường kinh doanh của Công ty TNHH TMDV Điện Quang
Mặc dù công ty mới đi vào hoạt động nhưng đã Công ty đã tạo dựng cho
mình một vị thế trên thị trường. Bằng sự nỗ lực, phấn đấu của toàn bộ tập thể cán bộ
24
công nhân viên và sự đầu tư khoa học công nghệ. Công ty ngày càng nâng cao uy tín
của minh trên địa bàn trong và ngoài tỉnh.
Khi thành lập năm 2004, Công ty chỉ phân phối trên địa bàn TP Hạ Long, sau
04 năm hoạt động, đến năm 2008 Công ty đã vươn ra toàn thị trường Quảng Ninh.
Có hệ thống đại lý, chi nhánh, cửa hàng trực thuộc trải rộng toàn tỉnh: từ huyện
Đông Triều đến Thành phố Móng Cái. Hiện nay, công ty có 120 đại lý cấp 2 và 12
cửa hàng trực thuộc.
Ngoài ra công ty còn phát triển thêm các đại lý ở thị trường Hải Phòng, Hải
Dương, Bắc Ninh, Hà Nội, Thái Bình
2.1.1.3. Phương thức bán hàng của Công ty TNHH TMDV Điện Quang
Nhiệm vụ kinh doanh: Thương mại và dịch vụ
Trong điều kiện nền kinh tế thị trường hiện nay, việc lựa chọn áp dụng các
phương thức bán hàng và các chính sách khuyến khích tiêu thụ góp phần quan trọng
vào việc thực hiện kế hoạch tiêu thụ hàng hóa, đồng thời giúp cho doanh nghiệp có


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status