Mâu thuẫn biện chứng và biểu hiện - Pdf 22

Đề án kinh tế chính trị
Mở đầu
Nền kinh tế nhà nớc trong thời kỳ quá độ lên CNXH là một nền kinh tế
nhiều thành phần. Đó là một tất yếu khách quan. Cơ cấu kinh tế nhiều thành
phần tồn tại không phải do ý muốn chủ quan của nhà nớc, nó tồn tại và phát
triển phụ thuộc vào những tiền đề kinh tế, chính trị khách quan của nền kinh tế.
Trong cơ cấu kinh tế này mà thành phần kinh tế luôn có vai trò vị trí và vận
động phát triển theo một xu hớng nhất định. Nhng xuất phát từ tính quy luật vốn
có của nền kinh tế. Trong cơ cấu kinh tế này mỗi thành phần kinh tế luôn có vai
trò vị trí và vận động, phát triển theo một xu hớng nhất định. Nhng xuất phát từ
tính quy luật vốn có của nền kinh tế đều vận động theo hớng đến mục tiêu lợi
ích. Nhng Đảng và Nhà nớc luôn khẳng định kinh tế nhà nớc luôn giữ vai trò
chủ đạo trong nền kinh tế quốc dân.
Thực tiễn trong hơn 10 năm đổi mới vừa qua Đảng và Nhà nớc đã có
nhiều cố gắng củng cố, nâng cao vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nớc và hiện
nay vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nớc đang từng bớc đợc khẳng định.
Tuy nhiên hiện nay đang có rất nhiều ý kiến khác nhau về việc phát triển
thành phần kinh tế này: đổi mới, cổ phần sắp xếp, nâng cao hiệuquả. Vì vậy
trong đề án này tôi tập trung đi vào việc nghiên cứu quan niệm về kinh tế thị tr-
ờng, tính tất yếu và nội dung vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nớc trong nền kinh
tế nhiều thành phần, vai trò của nó đợc thể hiện nh thế nào, các giải pháp để
trong thời gian tới tăng cờng vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nớc ở nớc ta. Tôi hi
vọng nó sẽ góp phần nhỏ để mọi ngời hiểu hơn về thành phần kinh tế này và
góp một phần vào việc phát triển kinh tế nhà nớc trở lên vững mạnh.
Trần Anh Tú Thơng mại 44A
Đề án kinh tế chính trị
Chơng I
Quan niệm chung về kinh tế nhà nớc (KTNn)
1. Quá trình hình thành kinh tế nhà nớc
Mỗi nhà nớc đều có chức năng kinh tế nhất định và chức năng này đợc
thông qua các mức độ khác nhau tuỳ từng giai đoạn phát triển. ở bất kì nớc nào

Trần Anh Tú Thơng mại 44A
Đề án kinh tế chính trị
2.2. Các bộ phận hợp thành và chức năng của từng bộ phận
a. Doanh nghiệp nhà nớc: "là tổ chức kinh tế do nhà nớc đầu t vốn,
thành lập và tổ chức quản lý, hoạt động kinh doanh hoạt động công ích,
nhằm thực hiện những mục tiêu đã định". Nh vậy doanh nghiệp nhà nớc có 2
loại: Một là, các doanh nghiệp hoạt động vì mục đích lợi nhuận, hai là: các
doanh nghiệp hoạt động vì mục đích xã hội. Nếu loại doanh nghiệp thuộc loại 1
thì hoạt động với mục đích ổn định chính trị và chủ yếu còn doanh nghiệp thuộc
loại 2 thì lấy mục đích lợi nhụân là chủ yếu tuy nhiên phải chấp hành pháp luật.
Lĩnh vực hoạt động chủ yếu của loại 1 là: quốc phòng an ninh, tài chính, y tế,
văn hoá, giáo dục còn doanh nghiệp thuộc loại 2 là hoạt động trên tất cả các
ngành, lĩnh vực kinh doanh có hiệu quả. Vì vậy mỗi doanh nghiệp có chức năng
và đặc thù về cơ chế quản lý.
b) Ngân sách nhà nớc là một bộ phận của KTNN, thực hiện chức năng
thu, chi ngân sách, và có tác dụng điều chỉnh, quản lý, kiểm soát các hoạt động
của KTNN. Doanh nghiệp nhà nớc và các thành phần kinh tế khác,
c) Ngân hàng nhà nớc: là một bộ phận của KTNN nhằm đảm bảo cho
KTNN, kinh tế quốc dân hoạt động bình thờng trong mọi tình huống. Các quỹ
dự trữ quốc gia dùng lực lợng vật chât để điều tiết quản lý bình ổn giá cả, đảm
bảo cho tình hình kinh tế - xã hội chung.
d) Hệ thống bảo hiểm: là một bộ phận không thể thiếu đợc của kinh tế thị
trờng có sự quản lý của nhà nớc chịu trách nhiệm thực hiện chế độ bảo hiểm do
nhà nớc quy định phục vụ cho kinh tế nhà nớc và các thành phần kinh tế khác.
Các bộ phận cấu thành của KTNN có chức năng nhiệm vụ cụ thể là khác
nhau, nhng lại có quan hệ mật thiết với nhau, nhiệm vụ cụ thể là khác nhau, nh-
ng lại có quan hệ mật thiết với nhau trong một hệ thống kinh tế nhà nớc và các
thành phần kinh tế khác.
Các bộ phận cấu thành của KTNN có chức năng, nhiêm vụ cụ thể là khác
nhau, nhng lại có quan hệ mật thiết với nhau trong một hệ thống kinh tế nhà nớc

quyền, thực hiện công bằng xã hội.
Chúng ta đang thực hiện CNH, HĐH: đi tắt, đón đầu, quá trình này đòi
hỏi lợng vốn rất lớn, và rủi ro cao, các doanh nghiệp t nhân không thể hoặc
muốn tham gia vào chính phủ buộc phải thành lập các doanh nghiệp nhà nớc để
thực hiện nhiệm vụ naỳ.
Nh vậy vấn đề phát triển và tăng cờng vai trò chủ đạo của KTTT là một
tất yếu khách quan, cần thiết. Nhận thức đợc mục tiêu này chúng ta phải có
nhiều biện pháp chính sách để tăng cờng vai trò chủ đạo của nó.
Trần Anh Tú Thơng mại 44A
Đề án kinh tế chính trị
2. Vai trò chủ đạo của KTNN trong giai đoạn hiện nay
2.1. KTNN là lực lợng vật chất, công cụ sắc bén để nhà nớc thực hiện
chức năng định hớng, điều tiết và quản lý vĩ mô nền kinh tế. Trong nền kinh tế
hàng hoá nhiều thành phần có sự quản lý của nhà nớc theo định hớng XHCN,
KTNN với t cách là một yếu tố, một chủ thể kinh tế đặc biệt. Nó có vai trò vĩ
mô điều tiết, điều hành trên phạm vi toàn bộ nền kinh tế đất nớc làm cho nền
kinh tế hoạt động thông suốt, tạo lập những cân đối lớn theo định hớng XHCN
mà kinh tế thị trờng không tự điều chỉnh đợc.
Đây là một vai trò cực kỳ quan trọng của KTNN nó là cơ sở để đảm bảo
sự can thiệp của nhà nớc là có hiệu quả. Hơn nữa KTNN xuất hiện nh là một
chủ thể kinh tế độc lập và các chủ thể kinh tế khác trong một số trờng hợp lợi
ích của nhà nớc có thể mâu thuẫn với lợi ích của thành phần kinh tế khác đặc
biệt là t nhân. Sự điều tiết của nhà nớc không thể thuận chiều với động cơ lợi
nhuận, và lợi ích cá nhân, của các chủ thể. Để đảm bảo sự điều tiết, nhà nớc cần
có một tiềm lực kinh tế, đủ hoặc đền bù xứng đáng cho thua thiệt của các thành
phần kinh tế khác, hớng họ và những hành động theo mục tiêu nhà nớc đặt ra.
Tất cả những tiềm lực ấy đều do KTNN tạo ra.
2.2. Hoạt động của khu vực KTNN là nhằm mở đờng, hớng dẫn, hỗ trợ,
thúc đẩy sự phát triển của các thành phần kinh tế khác. Chức năng tạo lập môi
trờng. Tức là nó phải tạo đợc tiền đề thuận lợi để khai thông và tận dụng mọi

của sản phẩm dịch vụ mình làm ra. Mặt khác, trong điều kiện toàn cầu hoá,
cuộc cách mạng KHCN đang diễn ra nh vũ bão để giữ vững độc lập, sự ổn định
về kinh tế - xã hội, kinh tế nhà nớc phải vững mạnh và giữ vị trí then chốt trong
nền kinh tế.
Với vai trò quan trọng then chốt của KTNN thì hiện trạng của nớc ta
trong giai đoạn hiện nay ra sao?
Trần Anh Tú Thơng mại 44A
Đề án kinh tế chính trị
Chơng III
Thực trạng doanh nghiệp nhà nớc
ở nớc ta hiện nay
1. Quá trình đổi mới doanh nghiệp ở nớc ta
1.1. Giai đoạn 1980-1986: Đây là giai đoạn đầu tiên trong việc chuyển cơ
chế quản lý doanh nghiệp nhà nớc từ cơ chế kế hoạch hoá tập trung sang cơ chế
thị trờng với nhiều biện pháp đổi mới.
Hội nghị Ban chấp hành Trung ơng lần thứ 6 (khoá IV tháng 9-1979 đã ra
quyết định về tình hình và nhiệm vụ cấp bách đánh giá tình hình thực tiễn và
những yêu cầu bức thiết của xã hội, và Nghị định 25/CP là bớc đầu tiên trong
việc chuyển cơ chế quản lý các doanh nghiệp nhà nớc từ cơ chế kế hoạch hoá
tập trung sang cơ chế thị trờng. Sau đó là các quyết định quan trọng nh quyết
định 146/HĐBT tháng 2-1982, nghị quyết 306 (dự thảo) của Bộ Chính trị đều đ-
a ra quan điểm và biện pháp đổi mới quản lý doanh nghiệp nhà nớc trong điều
kiện cải tiến, cơ chế quản lý nói chung.
Các biện pháp đổi mới trong giai đoạn này chủ yếu tập trung vào việc
tháo gỡ những vớng mắc, rào cản vô lý của cơ chế cũ, do đó có tác dụng nh cởi
trói, giải phóng năng lực sản xuất của các doanh nghiệp nhà nớc. Cho phép các
doanh nghiệp nhà nớc tự chủ bố trí nguồn lực sản xuất theo ba phần, đã có tác
dụng tích cực phát huy sáng tạo của cơ sở, từng bớc đa yếu tố thị trờng vào cơ
chế quản lý doanh nghiệp. Tuy nhiên các biện pháp này mang tính nửa vời chắp
vá, dẫn đến khó hạch toán, khó kiểm soát, khó đánh giá.

kinh nghiệm của quá trình thực hiện "cơ chế 217" các nội dung đổi mới cơ chế
quản lý doanh nghiệp nhà nớc gồm: Theo quyết định 315/HĐBT các doanh
nghiệp phải rà soát lại chức năng hoạt động kinh doanh, rà soát lại các yếu tố
sản xuất kinh doanh nh: thị trờng công nghệ, vốn, tổ chức lao động, tổ chức bộ
máy cán bộ, soát xét lại tình trạng tài chính, kế toán, thống kê
Theo Nghị định 388/HĐBT các doanh nghiệp phải đợc thành lập lại, đăng
ký lại để loại bỏ những doanh nghiệp làm ăn thua lỗ kéo dài. Luật doanh nghiệp
nhà nớc ban hành 4-1995 và các văn bản hớng dẫn thi hành đã tạo ra cơ sở pháp
lý tổng quát trong quan hệ giữa doanh nghiệp nhà nớc với nhà nớc.
Sắp xếp lại doanh nghiệp nhà nớc. Việc sắp xếp lại các doanh nghiệp nhà
nớc từ 1990 đến 2000 chia 3 giai đoạn:
Giai đoạn 1: (1991-1993)
Với quyết định 315/HĐBT (tháng 9-1990) về giải thể và tổ chức lại
những doanh nghiệp nhà nớc yếu kém, nghị định 388/HĐBT về nguyên tắc điều
hành doanh nghiệp nhà nớc. Quyết định số 202/CT (8-6-1992) thí điểm cổ phần
hoá một số doanh nghiệp nhà nớc.
Giai đoạn 2 (1994-1997)
Với quyết định số 90/TTg và 91/TTg (3-1994) và chỉ thị 500/TTg (5-
1995) về sắp xếp các doanh nghiệp nhà nớc, giải thể những liên hiệp xí nghiệp,
tổng công ty trớc đây, hình thành tổng công ty có quy mô lớn (tổng công ty 91)
Trần Anh Tú Thơng mại 44A
Đề án kinh tế chính trị
và quy mô vừa (tổng công ty 90). Nghị định 38/CP (5-1996) chuyển một số
doanh nghiệp nhà nớc thành công ty cổ phần.
Giai đoạn 3 (từ 1998-2000):
Theo chỉ thị 20/CT-TTg (4-1998), chỉ thị 15/CT-TTg (5-1999) và Nghị
định 44/CP (6-1998) về cổ phần hoá kết hợp phơng án tổng thể sắp xếp doanh
nghiệp nhà nớc.
Đến đại hội đại biểu toàn quốc lần 9 (2001) tiếp tục đổi mới và phát triển
kinh tế nhà nớc trong đó doanh nghiệp nhà nớc giữ vị trí then chốt trong nền

nhiên tốc độ tăng trởng của các doanh nghiệp nhà nớc vẫn cao hơn tốc độ tăng
trởng nền kinh tế.
Việc sắp xếp các doanh nghiệp nhà nớc đã góp phần thay đổi một bớc cơ
cấu vốn và lao động của doanh nghiệp, có tác động tích cực đến quá trình tích
tụ và tập trung . Số doanh nghiệp có vốn dới 1 tỷ đồng giảm từ gần 50% (1994)
xuống còn 33% (năm 1996) và 26% (năm 1998). Số doanh nghiệp có số vốn
trên 10 tỷ đồng từ 10% tăng lên 15% (năm 1996) và gần 20% (năm 1998).
Đồng thời vốn bình quân cho một doanh nghiệp tăng từ 3,3 tỷ đồng lên hơn 11
tỷ đồng (năm 1996) và hơn 18 tỷ đồng (năm 1998). Đặc biệt bằng những chính
sách phù hợp chúng ta đã giải quyết vấn đề trợ cấp và bảo đảm chính sách cho
600.000 công nhaan giảm biên chế trong 2 đợt sắp xếp đồng thời lại tuyển
dụng một số lợng gần tơng đơng.
2.2. Những nguyên nhân hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
nhà nớc
Hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp nhà nớc về tổng thể đã
đợc nâng lên so với trớc trên tất cả các mặt. Các chỉ số về hiệu suất vốn, lãi
tuyệt đối, số nộp ngana sách nhà nớc, tỷ lệ nộp ngân sách nhà nớc trên vốn đã
có những cải thiện đáng kể. Cụ thể đến 1-1-2001 nớc ta có 57.631 doanh nghiệp
thì có 42.762 doanh nghiệp đang hoạt động sản xuất kinh doanh chiếm 74,2%,
9.482 doanh nghiệp đang xây dựng cơ bản hoặc mới có giấy phép chiếm 16,5%,
có 1.498 doanh nghiệp không có khả nang hoạt động, chờ phá sản, giải thể hoặc
sát nhập chuyển đổi hình thức chiếm 36%, trong đó doanh nghiệp nhà nớc vẫn
có vai trò chủ đạo của nền kinh tế từ số lợng 12.600 doanh nghiệp nhà nớc đến
nay chỉ còn 5.531 doanh nghiệp măc dù doanh nghiệp nhà nớc chỉ chiếm 12,9%
về số lợng, nhng chiếm 57,2% về lao động, 4,9% vốn thực tế, 48,6% giá trị tài
sản cố định và 52,8% tổng nộp ngân sách của toàn bộ doanh nghiệp nhà nớc nói
chung.
2.3. Những thay đổi về mặt quản lý - tổ chức quản lý
Về mặt quản lý, bớc đầu đã phân định chức năng quản lý nhà nớc của các
cơ quan nhà nớc với chức năng sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp nhà

tăng còn 8 - 9%. Hiệu quả sử dụng vốn giảm. Năm 1995 một đồng vốn tạo ra đ-
ợc 3,46 đồng doanh thu, 019 đồng lợi nhuận đến 1998, 1 đồng vốn chỉ tạo 2,9
đồng doanh thu, 0,14 đồng lợi nhuận. Số doanh nghiệp bị lỗ trong ngành thơng
mại, dịch vụ, du lịch, khách sạn chiếm tới 41% và nợ phải trả 124% vốn nhà n-
ớc trong doanh nghiệp, trong đó tỷ lệ nợ quá hạn hoặc khó đòi chiếm tỷ lệ lớn.
Số doanh nghiệp này đặc biệt nhiều trong các doanh nghiệp nhà nớc do địa ph-
ơng quản lý.
Về khả năng cạnh tranh, các doanh nghiệp nhà nớc ở nớc ta rất kém về
khả năng cạnh tranh, có nhiều ngành, sản phẩm của doanh nghiệp nhà nớc đang
đợc bảo hộ tuyệt đối hoặc bảo hộ qua hàng rào hoặc trợ cấp, nhng các doanh
nghiệp nhà nớc vẫn cha chứng tỏ đợc khả năng cạnh tranh của mình, thậm chí
nhiều doanh nghiệp nhà nớc nhà nớc lại cố gắng luận chứng để nhà nớc tăng c-
ờng bảo hộ mạnh hơn để duy trì thi phần và việc làm, theo số liệu nghiên cứu
gần đây của Bộ kế hoạch mạnh hơn để duy trì thi phần và việc làm theo số liệu
nghiên cứu gần đây của Bộ kế hoạch và đầu t năm 2000 cho thấy các mặt hàng
nh thép xi măng, phân bón, đồ điện dân dụng kính xây dựng đều đ ợc bảo hộ
Trần Anh Tú Thơng mại 44A
Đề án kinh tế chính trị
bằng cả công cụ thuế quan lẫn chi phí thuế quan dẫn đến giá trên thị trờng Việt
Nam cao hơn giá quốc tế 10 - 50%, tuỳ mặt hàng khả năng cạnh tranh của các
doanh nghiệp nhà nớc trên thị trờng nội địa cũng kém hiệu quả: ở những ngành
có khả năng sin lợi, thì phần các doanh nghiệp nhà nớc có xu hớng giảm xút nh-
ờng chỗ cho khu vực đầu t nớc ngoài và khu vực t nhân.
Về cơ cấu doanh nghiệp nhà nớc. Khu vực doanh nghiệp nhà nớc có cơ
cấu hợp lý. Cơ cấu ngành vùng, quy mô còn bất hợ lý đều cha đợc chuyển dịch
theo hớng sắp xếp lại trớc hết tỷ trọng doanh nghiệp nhà nớc (theo số lợng) ở
khu vực nông nghiệp (25%) khu vực thơng mại (10%) là quá lớn, trong khi cơ
cấu doanh nghiệp nhà nớc đòi hỏi phải tập trung vào lĩnh vực công nghiệp, đặc
biệt là công nghiệp chế biến , chế tạo. Cơ cấu cấp quản lý cũng là bất hợp lý ở
chỗ tỷ trọng doanh nghiệp do địa phơng quản lý là quá cao (trên 60% về số sản


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status