Khá quát hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế GV. Vương Tuyết Linh
BẢN QUYỀN TÀI LIỆU THUỘC VỀ HTTP://SINHVIENNGANHANG.COM
1
LỜI MỞ ĐẦU
Trong thời đại “toàn cầu hoá thị trường”, “hội nhập kinh tế”, ngoại thương là
“động lực phát triển kinh tế”, vấn đề trao đổi mậu dịch giữa các nước ngày càng mạnh.
Ngoài ra, do tốc độ vận chuyển hàng hoá nhanh bởi phương tiện vận chuyển được cải
tiến vượt bậc, đã khiến chi phí vận tải giảm, đưa đến giá hàng mua bán rẻ hơn đã thúc
đẩy lưu lượng hàng hoá trao đổi càng ngày càng nhiều về số lượng và trị giá.Trong tình
hình đó, việc ký kết hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế đã đóng một vai trò quan
trọng trong mối giao lưu thương mại giữa các quốc gia. Có thể nói rằng hợp đồng mua
bán hàng hoá quốc tế đóng vai trò chủ đạo trong hoạt động ngoại thương của Việt
Nam. Đứng trước tình hình đó việc nắm rõ kiến thức về hợp đồng mua bán hàng hoá
quốc tế để phòng ngừa và đối mặt với những rủi ro pháp lý liên quan đến hợp đồng hết
sức quan trọng và cần thiết.
Nhóm 5 xin trình bày vài nét khái quát về hợp đồng mua bán hàng hoá trong
thương mại quốc tế và Công Ước Vienna 1980 về hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế.
Khá quát hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế GV. Vương Tuyết Linh
BẢN QUYỀN TÀI LIỆU THUỘC VỀ HTTP://SINHVIENNGANHANG.COM
• Đồng tiền tính giá hoặc thanh toán không còn là đồng nội tệ của một quốc gia mà
còn là ngoại tệ đối với ít nhất một bên ký kết. Phương thúc thanh toán thông qua
hệ thống ngân hàng.
• Hợp đồng mua bán hàng hoá có liên quan đến các hợp đồng khác như hợp đồng
vay tín dụng, hợp đồng vận chuyển.
• Thủ tục hải quan: hàng hoá di chuyển qua biên giới hải quan của một nước phải
làm thủ tục xuất nhập khẩu theo các quy chế quản lí hàng hoá xuất nhập khẩu của
Chính Phủ các nước.
• Hợp đồng có quy định các trường hợp bất khả kháng.
• Quy ước lựa chọn cơ quan giải quyết các tranh chấp phát sinh từ hợp đồng, có thể
là toà án hay trọng tài thương mại có thẩm quyền giải quyết các tranh chấp
trong lĩnh vực kinh tế đối ngoại và phải là cơ quan nước ngoài đối với ít nhất một
trong các chủ thể.
1.3. Tiêu chí xác định một hợp đồng là hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế.
Khá quát hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế GV. Vương Tuyết Linh
BẢN QUYỀN TÀI LIỆU THUỘC VỀ HTTP://SINHVIENNGANHANG.COM
3
Việc xác định một hợp đồng mua bán hàng hóa là hợp đồng mua bán hàng hoá quốc
tế tức là xác định tính quốc tế của hợp đồng đó. Việc xác định tính quốc tế hợp đồng mua
bán hàng hoá có ý nghĩa pháp lý và thực tiễn hết sức quan trọng bởi nó gắn liền với việc
xác định luật để điều chỉnh quan hệ của các bên trong hợp đồng. Nếu hợp đồng là hợp
đồng mua bán hàng hoá thông thường (hợp đồng nội địa) thì quyền và nghĩa vụ của các
bên xuất phát từ hợp đồng đó sẽ được pháp luật trong nước điều chỉnh, ví dụ như pháp
luật Việt Nam. Nếu là hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế thì nó sẽ được điều chỉnh bởi
luật do các bên lựa chọn: pháp luật của các quốc gia khác nhau, các điều ước quốc tế liên
về chính kiến, về pháp luật, tập quán, ngôn ngữ, tư duy truyền hống và về quyền lợi.
Những sự khác biệt đó dẫn đến xung đột. Muốn giải quyết xung đột đó, người ta phải
trao dổi ý kiến với nhau. Sự trao đổi ý kiến như thế trong quan hệ mua bán quốc tế gọi là
đàm phán thương mại.
Vì vậy ta có thể định nghĩa như sau: Đàm phán thương mại là quá trình trao đổi ý kiến
của các chủ thể trong một xung đột nhằm đi tới thống nhất cách nhận định, thống nhất
Khá quát hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế GV. Vương Tuyết Linh
BẢN QUYỀN TÀI LIỆU THUỘC VỀ HTTP://SINHVIENNGANHANG.COM
4
quan niệm, thống nhất cách xử lý những vấn đề nảy sinh trong quan hệ buôn bán giữa hai
bên hoặc nhiều bên.
Trong thương mại những vấn đề thường trở thành nội dung của cuộc đàm phán là:
Tên hàng,
Phẩm chất,
Số lượng,
Bao bì đóng gói,
Giao hàng,
Giá cả,
Thanh toán,
Bảo hiểm,
Bảo hành,
Khiếu nại,
Phạt và bồi thường thiệt hại,
Trọng tài,
Trường hợp bất khả kháng.
1.4.1.2. Các giai đoạn đàm phán : Có ba giai đoạn:
a) Giai đoạn chuẩn bị đàm phán
5
- Mở đầu trực tiếp (nghĩa là nhanh chóng chuyển vào nội dung)
Trong quá trình đàm phán các bên cần luôn thực hiện những nguyên tắc sau:
- Lễ phép, lịch sự,
- Hoà khí và thiện cảm,
- Không xa rời mục tiêu đã định,
- Chủ động.
Đi vào đàm phán, cần tranh thủ sự đồng tình của đối phương về từng vấn đề
một.
Cuối cùng, cần thúc đẩy ra quyết định bằng văn bản.
c) Sau đàm phán
Sau đàm phán, cần phải tỏ rõ thiện chí thực hiện những gì đã đạt được trong
cuộc đàm phán. Tuy nhiên, cũng lại cần phải tỏ ra rất sẵn sàng xem xét lại những
điều thoả tuận nào đó.
Mỗi cuộc đàm phán là một khoá học, đối với những người có ý chí cầu tiến,
mỗi bên đều có thể rút ra cho mình những bài học để tự hoàn thiện mình.
1.4.1.3. Các hình thức đàm phán.
a) Đàm phán trực tiếp: Các bên tham gia ký kết hợp đồng có mặt tại một nơi cùng
một thời điểm. Hình thức đàm phán này thường được dùng khi hai bên có điều kiện
phải giải thích cặn kẽ để thuyết phục nhau, khi đàm phán về những hợp đồng lớn,
hợp đồng có tính chất phức tạp…Việc hai bên mua bán trực tiếp gặp gỡ nhau tạo
điều kiện cho việc hiểu biết nhau tốt hơn và duy trì được quan hệ tốt lâu dài với
nhau.
Cũng phải thấy rằng đây là hình thức đàm phán khó khăn nhất trong các hình
thức đàm phán. Đàm phán trực tiếp đòi hỏi người tiến hành đàm phán phải chắc về
nghiệp vụ, tự chủ, phản ứng nhanh, nhạy… để có thể tỉnh táo, bình tĩnh nhận xét,
nắm được ý đồ, sách lược đối phương, nhanh chóng có biện pháp đối phó trong
Nội dung của thư thương mại bao giờ cũng hết sức chính xác. Tránh
những sự hiểu nhầm do trình bày không rõ ràng, không khúc triết hoặc do
sử dụng từ ngữ không chính xác. Một lý lẽ được diễn đạt đầy đủ, nhưng
không rườm rà. Cần nhớ rằng mỗi nước có một cách hiểu khác nhau về
từng vấn đề liên quan tới buôn bán như đơn vị đo lường, cách bao bì, đóng
gói, cách trả tiền, sự phân chia các chi phí trong giao nhận bốc dỡ… bởi
thế khi đề cập đến mỗi vấn đề, cần phải thật chi tiết, cụ thể,
rõ ràng về quan niệm của mình hoặc những yêu cầu của mình nêu ra.
Sự khẩn trươg trong trao đổi thư tín cần được chú ý thích đáng. Tất cả mọi thư
tín đến đều phải được trả lời một cách nhanh chóng dù rằng mình chưa có cơ
hội bán hàng. Việc trì hoãn trả lời, thậm chí quên không trả lời thư của khách
hàng, sẽ gây những ấn tượng xấu. Một nhà kinh doanh tốt bao giờ cũng cố
gắng mở rộng quan hệ với nhiều khách hàng.
Trong giao dịch bằng thư tín đức tính kiên nhẫn là cần thiết. Kiên nhẫn trả lời
khách hàng về mọi vấn đề. Kiên nhẫn theo đuổi khách hàng bằng nhiều thư
liên tiếp và quan hệ trong thời gian dài. Kinh nghiệm cho thấy rằng, khi lựa
chọn, những khách hàng quen biết, có giao dịch thư từ trước đó, được ưu tiên
hơn những khách hàng mơi xuất hiện lần đầu.
Ưu điểm: tiết kiệm được nhiều chi phí, trong cùng một lúc có thể giao dịch
trao đổi với nhều hách hàng ở nhiều nuớc khác nhau, người viết thư tín có
điều kiện để cân nhắc suy nghĩ, tranh thủ ý kiến nhiều người và có thể khéo
léo giấu kín ý định thực sự của mình.
Nhược điểm: đòi hỏi nhiều thơì gian chờ đợi, có thể cơ hội mua bán tốt sẽ trôi
qua. Với một đối phương khéo léo già dặn thi việc phán đoán ý đồ của họ qua
thư từ là rất khó.
•
••
• Giao dịch đàm phán qua điện thoại. Khi phải sử dụng điện thoại, cần phải
chuẩn bị thật chu đáo để có thể trả lời ngay mọi vấn đề được nêu một cách
1. Đối với thương nhân Việt Nam không có vốn đầu tư trực tiếp của nước ngoài
(dưới đây gọi tắt là thương nhân):
Trừ hàng hoá thuộc Danh mục cấm xuất khẩu, tạm ngừng xuất khẩu, hàng hoá
thuộc Danh mục cấm nhập khẩu, tạm ngừng nhập khẩu, thương nhân được
xuất nhập khẩu hàng hoá không phụ thuộc vào ngành nghề đăng ký kinh
doanh.
Chi nhánh thương nhân được xuất khẩu, nhập khẩu hàng hoá theo uỷ quyền
của thương nhân.
2. Đối với thương nhân có vốn đầu tư nước ngoài, công ty và chi nhánh công ty
nước ngoài tại Việt Nam:
Các thương nhân, công ty, chi nhánh khi tiến hành hoạt động thương mại
thuộc phạm vi điều chỉnh tại Nghị định này, ngoài việc thực hiện các quy định
tại Nghị định này, còn thực hiện theo các quy định khác của pháp luật có liên
quan và các cam kết của Việt Nam trong các điều ước quốc tế mà Việt Nam là
một bên ký kết hoặc gia nhập.
Căn cứ pháp luật hiện hành và các Điều ước quốc tế, Bộ trưởng Bộ thương mại
công bố lộ trình và phạm vi hoạt động kinh doanh của thương nhân quy định
tại khoản 2 điều này.
Bên cạnh đó phải lưu ý đến người ký kết hợp đồng, người ký kết hợp đồng phải
có đủ thẩm quyền ký kết theo pháp luật của nước mà thương nhân đó có trụ sở.
Theo quy định của pháp luật Việt Nam, người ký kết là người đại diện cho
thương nhân đó theo luật hoặc theo uỷ quyền. Đại diện theo luật là đại diện do pháp
luật quy định, là người đứng đầu pháp nhân theo quy định của điều lệ pháp nhân hoặc
quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Đại diện theo uỷ quyền là đại diện
được xác lập theo sự uỷ quyền và người đại diện chỉ được thực hiện giao dịch trong
phạm vi đại diện. Ủy quyền phải được làm bằng văn bản và nhười uỷ quyền phải chịu
hoàn toàn trách nhiệm về hành vi của người được uỷ quyền trong phạm vi quy định
của sự uỷ quyền. (Điều 140-142 Bộ luật dân sự 2005)
Khá quát hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế GV. Vương Tuyết Linh
gồm điện báo, telex, fax, thông điệp dữ liệu và các hình thức khác theo quy định của
pháp luật ( Điều 3, 27 Luật thương mại 2005).
Còn theo Công ước Vienna : Hợp đồng mua bán không cần phải được ký kết hoặc
xác nhận bằng văn bản hay phải tuân thủ một yêu cầu nào về hình thức của hợp
đồng. Hợp đồng có thể được chứng minh bằng mọi cách, kể cả bằng những lời khai
của nhân chứng.(Điều 11). Theo tinh thần của công ước này, điện báo và thư tín
cũng được coi là hình thức văn bản.
• Nội dung của hợp đồng: Nội dung của hợp đồng phải tuân thủ nguồn luật điều
chỉnh hợp đồng. Nguồn luật điều chỉnh hợp đồng có thể được các bên thỏa thuận
quy định trong hợp đồng. Khi nguồn luật điều chỉnh hợp đồng không được quy
được quy định trong hợp đồng thì áp dụng theo quy tắc luật xung đột: “luật nước
người bán”, “luật nơi xảy ra tranh chấp”, “luật nơi ký kết hợp đồng”, “luật nơi
thực hiện nghĩa vụ”.
Pháp luật Việt Nam cũng đã có sửa đổi khá cơ bản đối với nội dung của hợp
đồng theo hướng phù hợp hơn với pháp luật quốc tế. Cụ thể:
- Theo quy định của Bộ luật dân sự năm 2005 đã quy định khi ký kết hợp
Khá quát hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế GV. Vương Tuyết Linh
BẢN QUYỀN TÀI LIỆU THUỘC VỀ HTTP://SINHVIENNGANHANG.COM
9
đồng, các bên có thể thoả thuận những nội dung sau: Đối tượng của hợp đồng, số
lượng, chất lượng, giá cả, phương thức thanh toán; thời hạn, địa điểm, phương thức
thực hiện hợp đồng; quyền, nghĩa vụ của các bên; trách nhiệm do vi phạm hợp đồng;
phạt vi phạm hợp đồng, các nội dung khác ( Điều 402). Rõ ràng, quy định mới về
nội dung của hợp đồng là nhằm giúp các bên xác định được thoả thuận cụ thể giữa
họ chứ không phải để ràng buộc hay hạn chế quyền tự do hợp đồng của họ.
• Nguyên tắc tự nguyện trong hợp đồng. Hợp đồng phải được ký kết trên cơ sở tự
phương tiện thông tin liên lạc do người chào hàng sử dụng. Tuy nhiên, một sự chấp
nhận trễ cũng phát sinh hiệu lực (tức hợp dồng được thành lập), nếu người được chào
hàng chấp nhận bằng miệng hay bằng thư tín.
2. Công ước Vienna 1980 của Liên Hợp Quốc.
Giới thiệu về Công ước Vienna 1980
Khá quát hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế GV. Vương Tuyết Linh
BẢN QUYỀN TÀI LIỆU THUỘC VỀ HTTP://SINHVIENNGANHANG.COM
10
Công ước Vienna 1980 là công ước quốc tế nhiều bên được ký kết ngày
14/4/1980 tại Viên ( Áo) và có hiệu lực từ ngày 01/01/1988. Nội dung của Công
ước là quy định các vấn đề pháp lý cơ bản về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế.
Hiện nay Công ước này có 66 nước thành viên.
Công ước này gồm có 101 điều chia làm 4 phần:
Phần một ( từ điều 1 đến điều 13):
a) Phạm vi áp dụng và các quy định chung.
Công ước áp dụng cho các hợp đồng mua bán hàng hóa giữa các bên có trụ sở
thương mại tại các nước khác nhau (Điều 1).
Quy định này được áp dụng trong hai trường hơp cụ thể sau:
- Khi trụ sở của các bên đóng tại các nước khác nhau là thành viên của Công ước.
- Khi nguyên tắc trong tư pháp quốc tế quy định luật được áp dụng là luật của các
nước thành viên của Công ước.
b). Phạm vi không áp dụng Công ước
Công ước không áp dụng trong các trường hợp sau:
- Mua bán hàng hóa dùng cho cá nhân,gia đình, nội trợ;
11
Về trình tự ký kết hợp đồng, Công ước Viên 1980 chỉ đề cập đến trình tự ký
kết hợp đồng giữa các bên vắng mặt, trong đó, các quy định về chào hàng và chấp
nhận chào hàng được ghi nhận một cách cụ thể.
Chào hàng
- Khái niệm chào hàng (điều 14)
Chào hàng là một đề nghị rõ ràng về việc ký kết hợp đồngcủa một người gửi
cho một hay nhiều người xác định.trong đó, người đề nghị bày tỏ ý chí sẽ bị ràng
buộc bởi lời đề nghị của mình nếu có sự chấp nhận đề nghị đó.
Tính rõ ràng về nội dung của hợp đồng được Công ước quy định tại khoản 1
điều 14 theo đó, đề nghị được coi là rõ ràng nếu trong đó đã xác định rõ hàng hóa,số
lượng hàng hóa và giá cả của hàng hóa hoặc các cơ sở để xác định những vấn đề trên.
Như vậy, một đè nghị chỉ có thể được coi là cơ sở hợp pháp làm phát sinh
quan hệ hợp đồng khi nội dung của nó thể hiện được: tên của hàng hóa, số lượng của
hàng hóa và giá cả của hàng hóa,đồng thời đề nghị này phải được gửi cho một hoặc
nhiều người được xác định.bởi vì một đề nghị gửi cho một hoặc nhiều người không
xác đính sẽ được coi là một lời mời chào hàng (khoản 2 điều 14)
- Giá trị pháp lý của chào hàng (điều 15)
Về mặt pháp lý, người chào hàng sẽ bị ràng buộc nghĩa vụ của mình bởi những điều
cam kết của mình trong chào hàng đối với người được chào hàng.
Tuy nhiên, chào hàng sẽ không có giá trị pháp lý ràng buộc người chào hàng trong
các trương hợp sau:
+ Chào hàng không tới tay người được chào hàng.như vậy, vì một lý do nào đó như
sai địa chỉ của người được chào hàng thì chào hàng sẽ không có giá trị ràng buộc
người chào hàng.
+ Người chào hàng nhận được thông báo việc từ chối chào hàng của người được chào
hàng (điều 17)
- Các trường hợp chào hàng không thể bị hủy bỏ (khỏan 2 điều 16):
+ Nếu chào hàng quy định một thời gian nhất định cho việc chấp nhận chào hàng,
hoặc chào hàng có quy định chào hàng sẽ không thể bị hủy bỏ.
+ Nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho người được chào hàng xem xét đề nghị của mình,
thông thường người chào hàng quy định cho chào hàng rằng sẽ dành một khoảng thời
gian nhất định để người được chào hàng chấp nhận chào hàng. Như vậy, nếu trong
thời gian này chào hàng đựơc người được chào hàng chấp nhận vô điều kiện thi hợp
đồng coi như đã được ký kết. Việc dành một khoảng thời gian cho bên được chào
hàng xem xét đề nghị của mình, người chào hàng đã tuyên bố ràng buộc nghĩa vụ đã
cam kết của mình đối với người được chào hàng trong thời gian đó. Điều này có nghĩa là chào hàng sẽ không thể bị hủy bỏ trong thời gian đã
được quy định trong chào hàng.
+ Nếu người được chào hàng đã coi chào hàng là loại chào hàng không thể bị hủy bỏ
là hợp lý và người được chào hàng đã hành động một cách hợp lý.
Trong trường hợp, mặc dù người chào hàng không quy định một cách rõ ràng là chào
hàng không thể bị hủy bỏ, nhưng do nội dung của chào hàng hoặc vì một lý do khách
quan nào đó mà người được chào hàng đã coi chào hàng là chào hàng không thể bị
hủy bỏ và người được chào hàng đã hành động theo xu hướng đó, thì chào hàng này
cũng đợc coi là chào hàng không thể bị hủy bỏ.
- Hòan giá chào (điều 19)
Hòan giá chào là việc người được chào hàng trả lời người chào hàng với mục
đích chấp nhận chào hàng, nhưnng đưa ra điều kiện sửa đổi, bổ sung nội dung của
chào hàng.
Về mặt pháp lý thì hòan giá chào được coi như chào hàng mới của người đựơc
chào hàng đối với người chào hàng ban đầu.
Tuy nhiên theo quy định của công ước Viên thì không phải tất cả những trả lời
chào hàng có xu hướng chấp nhận chào hàng nhưng có sửa đổi, bổ sung nội dung
chào hàng đều bị coi là hoàn giá chào.
+ Chấp nhận phải được gửi cho người chào hàng trong thời hạn đã ghi trong chào
hàng hoặc trong thời gian hợp lý.
- Hủy bỏ chấp nhận (điều 22)
Chấp nhận chào hàng có thể bị hủy bỏ nếu thông báo không chấp nhận chào
hàng tơi tay người chào hàng trước hoặc cùng một lúc với chấp nhận.
Thời điểm hợp đồng được ký kết (điều 23)
thông thường, thời điểm ký kết hợp đồng giữa các bên có mặt là thời điểm các bên
cùng ký vào hợp đồng. Trong trường hợp ký kết hợp đồng, giữa các bên vắng mặt thì
thời điểm ký kết là thời điểm chấp nhận chào hàng có hiệu lực.
Theo quy định của công ước Viên thì thời điểm hợp đồng được ký kết là thời
điểm người chào hàng nhận đựoc sự chấp nhận vô điều kiện của người được chào
hàng (khỏan 2 điều 18, điều 23)
Phần ba( điều 25- điều 88):
Đây là phần trọng tâm, giải quyết 3 vấn đề sau:
Nghĩa vụ của bên bán và bên mua trong hợp đồng:
- Nghĩa vụ người bán: giao hàng đúng thời gian, địa điểm, đúng số lưộng và chất
lượng; nghĩa vụ giao giấy tờ liên quan đến hàng …
- Nghĩa vụ bên mua: nhận hàng, thanh toán tiền hàng…
Sự vi phạm hợp đồng, trách nhiệm của bên bán và bên mua khi vi phạm hợp
đồng(Điều 74 - điều 77 Công ước Vienna)
Thời điểm dịch chuyển rủi ro đối với hàng hoá mua bán phù thuộc vào từng
phương thức giao hàng cụ thể
Phần 4: Những quy định cuối cùng về:
Khá quát hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế GV. Vương Tuyết Linh
BẢN QUYỀN TÀI LIỆU THUỘC VỀ HTTP://SINHVIENNGANHANG.COM
14
Nam. Đây là Công ước về mua bán hàng hoá quốc tế đã được nhiều nước tham gia, phê
chuẩn, đóng vai trò quan trọng trong việc giải quyết các xung đột pháp luật trong thương
mại quốc tế và thúc đẩy thương mại quốc tế phát triển. Việt Nam đang trên con đường
hội nhập một cách chủ động và tích cực vào nền kinh tế thế giới, đẩy mạnh các quan hệ
hợp tác song phương và đa phương, do đó, việc các văn bản luật quốc gia chưa phù hợp
vơi pháp luật quốc tế sẽ gây cho chúng ta nhiều khó khăn, bất lợi, làm phát sinh những
xung đột pháp luật với các nước khác khi giải quyết tranh chấp cũng khó khăn. Luật
Thương mại Việt Nam 2005 liên quan đến hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế còn bộc
lộ nhiều mặt hạn chế và còn chứa đựng những điều khoản chưa phù hợp với thực tiễn và
đòi hỏi của các nhà kinh doanh quốc tế. Điều này đòi hỏi chúng ta phải nhanh chóng có
các giải pháp tiến tới gia nhập CISG trong thời gian sớm nhất để thống nhất nguồn luật
áp dụng cho mua bán hàng hoá quốc tế giữa các doanh nghiệp Việt Nam và các đối tác
nước ngoài. Khi đó các doanh nhiệp Việt Nam và nước ngoài sẽ cùng chung “tiếng nói”,
cùng chung quan điểm và nhờ đó, các
Khá quát hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế GV. Vương Tuyết Linh
BẢN QUYỀN TÀI LIỆU THUỘC VỀ HTTP://SINHVIENNGANHANG.COM
15mối quan hệ hợp tác thương mại quốc tế sẽ ngày càng gắn chặt, lâu bền hơn và rộng mở
hơn.
Hiện nay Việt Nam vẫn chưa gia nhập CISG thì các doanh nghiệp Việt Nam
nên làm gì khi đứng trước các xung đột về pháp lý với nước ngoài?
Thư nhất, các doanh ngiệp Việt Nam nên nắm vững tinh thần và nội dung của công ước,
do rất có thể nhiều tranh chấp về hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế giũa doanh nghiệp
Việt Nam và các đối tác nước ngoài sẽ được giải quyết bằng CISG bởi toà án Việt Nam,
toà án nước ngoài và đặc biệt là các trọng tài quốc tế.
đồng. Do vậy, để chặt chẽ và phát sinh tranh chấp khi lựa chọn CISG là luật áp
dụng cho hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế, các bên nên chọn một nguồn luật
“phụ trợ” để giải quyết các vấn đề mà CISG không bao trùm (thường nguồn luật
phụ trợ này là luật quốc gia).
Khá quát hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế GV. Vương Tuyết Linh
BẢN QUYỀN TÀI LIỆU THUỘC VỀ HTTP://SINHVIENNGANHANG.COM
16
KẾT LUẬNTrong guồng quay chuyển động không ngừng của đời sống kinh tế toàn cầu,
các hoạt động thương mại quốc tế đang từng giở góp phần tích cực làm thay
đổi diện mạo của các quốc gia, của các khu vực và trên toàn thế giới. Ngày nay
hoạt động thương mại không chỉ bó hẹp trong phạm vi một quốc gia. Tính quốc
tế trong các giao lưu thương mại ngày càng được thể hiện rõ nét với sự tham
gia rộng rãi của các chủ thể khác nhau về quốc tịch, sự di chuyển liên tục hàng
hóa, dịch vụ, sức lao động qua biên giới. Việt Nam cũng nằm trong guồng quay
chuyển động đó với sự hội nhập kinh tế khu vực, quốc tế thúc đẩy phát triển
kinh tế trong nước và quan hệ thương mại với các quốc gia và đặc biệt là hoạt
động mua bán hàng hóa quốc tế.
Khá quát hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế GV. Vương Tuyết Linh
BẢN QUYỀN TÀI LIỆU THUỘC VỀ HTTP://SINHVIENNGANHANG.COM