Giới thiệu khái quát về môi trường kinh tế Mỹ và rút ra ý nghĩa đối với các doanh nghiệp Việt Nam khi thâm nhập thị trường. - Pdf 61

1
“Bài tập điều kiện: Môn KINH DOANH QUỐC TẾ VÀ KHU VỰC”
LỜI MỞ ĐẦU
Việt Nam trở thành thành viên WTO, thị trường được mở rộng cùng với
mức độ cạnh tranh gay gắt hơn buộc các doanh nghiệp trong nước phải nỗ lực
hết mình để có thể cạnh tranh với doanh nghiệp nước ngoài. Đẩy mạnh thâm
nhập vào thị trường Hoa Kỳ trong điều kiện hội nhập mới, doanh nghiệp Việt
Nam vừa đạt được mục tiêu chiếm lĩnh thị trường, vừa gia tăng sự ảnh hưởng
trong quan hệ thương mại với Hoa Kỳ, mặt khác chúng ta có thể tiếp cận được
những công nghệ hiện đại, những nguồn lực kỹ thuật quan trọng cần thiết cho
phát triển kinh tế nội địa.
Hoa Kỳ là một cường quốc kinh tế hàng đầu trên thế giới. Thị trường
Hoa Kỳ thực sự hấp dẫn với bất kì doanh nghiệp nào: Thu nhập Quốc dân
GDP luôn duy trì ở mức cao, thu nhập bình quân đầu người cao, nhu cầu tiêu
dùng đối với các loại hàng hoá là rất đa dạng, kim ngạch nhập khẩu hàng năm
lên tới 1850 tỷ USD chiếm ≈ 22.5% tổng kim ngạch nhập khẩu toàn thế giới –
Đây là thị trường khổng lồ đối với các doanh nghiệp của Việt Nam có thể
thâm nhập.
Trong điều kiện mới hiện nay môi trường kinh doanh trong đó có môi
trường kinh tế có nhiều bất ổn, để có được một vị trí ổn định vững chắc cũng
như đẩy mạnh hơn nữa việc thâm nhập vào thị trường Hoa Kỳ, phía Nhà nước,
các doanh nghiệp và cả nền kinh tế còn phải làm rất nhiều việc.Vì vậy em đã
chọn vấn đề nghiên cứu là: “Giới thiệu khái quát về môi trường kinh tế Mỹ và
rút ra ý nghĩa đối với các doanh nghiệp Việt Nam khi thâm nhập thị trường”
Em xin chân thành cảm ơn thầy giáo đã hướng dẫn.
1
Học viên : Nguyễn Việt Đức Lớp CH: 15 K
1
2
“Bài tập điều kiện: Môn KINH DOANH QUỐC TẾ VÀ KHU VỰC”
CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ MÔI TRƯỜNG KINH TẾ MỸ

này nhờ những khoản thu trong chi phí tiêu dùng, đầu tư cố định kinh doanh,
đầu tư nhà đất và chi phí của chính phủ. Xuất khẩu ròng giữ ở mức tăng trưởng
2
Học viên : Nguyễn Việt Đức Lớp CH: 15 K
2
3
“Bài tập điều kiện: Môn KINH DOANH QUỐC TẾ VÀ KHU VỰC”
trong 4 quý năm 2007. Năm 2007 GDP của Hoa Kỳ ước tính khoảng 13,36 ngàn
tỷ USD, GDP tính theo đầu người là 43.800 USD.
Lạm phát: Lạm phát giữ ở mức thấp năm 2006, nhưng tăng trong suốt năm
2007. Chỉ số tiêu dùng (CPI) tăng 3,3% trong vòng 12 tháng năm 2007. Trừ tính
không ổn định ở lương thực và năng lượng, mức giá tiêu dùng tăng 2,4% năm
2007 từ 1,9% năm 2005. Giá tiêu dùng năng lượng tăng 19% năm 2006, đặc biệt
ở giá năng lượng cơ bản. Giá lương thực tăng 2,8% năm 2007. Lạm phát (được
đo bởi chỉ số tiêu dùng) được dự đoán sẽ tăng ở mức 3,5% thời gian tới. Tuy
nhiên năm 2006, lạm phát đã tăng lên ở mức 3,2%.
Việc làm: Lao động trong lĩnh vực phi nông nghiệp tăng khoảng 2,2 triệu
người trong năm 2007, lớn nhất kể từ năm 2000. Tỷ lệ thất nghiệp giảm xuống
4,4% vào tháng 12 năm 2007 (thấp so với đỉnh điểm 6,3% tháng 6 năm 2003).
Tỷ lệ thất nghiệp năm 2007 dưới mức trung bình của những thập niên 70, 80, 90
của thế kỷ XX. Việc làm gia tăng ở những khu vực ngành nghề chính năm 2007.
Dịch vụ đóng góp 85% sự gia tăng việc làm trong năm, chiếm 83% lao động.
Lao động gia tăng ở những ngành: lương thực, xây dựng, sản xuất. Năm 2007 tỷ
lệ thất nghiệp ước tính giảm xuống 4,3%.
Cán cân thanh toán: Sự thiếu hụt trong cán cân thanh toán tăng năm 2007
Xuất khẩu tăng 5 % nhờ sự tăng trưởng kinh tế mạnh ở những đối tác thương
mại nhưng nhập khẩu tăng mạnh hơn ở mức 7,2%. Sự thiếu hụt trong hàng hóa
và dịch vụ đạt mức 5,6% GDP trong quý 4 năm 2007. Sự gia tăng nhanh nhập
khẩu thực tế trải rộng ở nhiều lĩnh vực: của cải và cung ứng công nghiệp, xăng
dầu và hàng hóa tiêu dùng.

suất lên 3,2%.
Triển vọng trung – dài hạn: Nền kinh tế Hoa Kỳ tiếp tục đạt hiệu quả tăng
trưởng lâu dài. Chính phủ trông đợi GDP sẽ tăng mạnh năm 2010, lạm phát
được giữ ở mức cũ và thị trường lao động được đẩy mạnh. GDP thực tế dự kiến
sẽ tăng với tỷ lệ trung bình hàng năm 3,3% trong vòng 4 năm từ 2005 - 2008. Tỷ
lệ thất nghiệp dự tính sẽ dưới mức 5,4% vào cuối năm 2005 và dưới 5,1% năm
2006. Kinh tế tăng trưởng với mức 3,2% năm 2007, 2008 và ở mức 3,15% năm
2009, 2010.
2.Một số đặc điểm về môi trường kinh tế:
2.1.Môi trường kinh tế có tính mở cao
Hoa Kỳ là quốc gia tiên phong trong việc ủng hộ tự do hóa thương mại vì
vậy các quy chế xuất nhập khẩu mà quốc gia này đã và đang áp dụng đều phù
hợp với những nguyên tắc cơ bản của WTO, đây là quốc gia nhập khẩu với khối
lượng lớn các mặt hàng có hàm lượng lao động cao: dệt may, giày dép…trong
đó có nhiều mặt hàng tiêu dùng thông thường mà Hoa Kỳ hầu như không sản
xuất. Một thực tế là sự phát triển của nền kinh tế Hoa Kỳ đã liên tục đóng góp
cho sự phát triển toàn cầu nhờ duy trì chính sách mở cửa thị trường. Thông qua
chính sách mở cửa của mình, các nhà sản xuất cũng như người tiêu dùng Hoa
Kỳ có thể tiếp cận với hàng hóa dịch vụ từ nước ngoài với những điều kiện ưu
đãi nhất. Trong hầu hết các chính sách phát triển kinh tế, Hoa Kỳ luôn chủ
trương đặt hệ thống thương mại đa phương vào trung tâm của các quan hệ
thương mại quốc tế của mình, luôn có xu hướng mở cửa thị trường một cách cao
độ thông qua các cuộc đàm phán từ song phương cho tới khu vực để đạt tới một
chiến lược tự do hóa thương mại mang lại nhiều lợi ích quốc gia nhất.
Tính mở của thị trường còn được thể hiện ở nhu cầu thị hiếu cũng như
những yêu cầu trong tiêu dùng của người Hoa Kỳ không quá khắt khe, nhu cầu
4
Học viên : Nguyễn Việt Đức Lớp CH: 15 K
4
5

được coi trọng. Mức thuế nhập khẩu được áp dụng khác nhau cho các hàng
hóa đến từ các nhóm nước khác nhau và một số mặt hàng còn chịu sự quản lý
bằng hạn ngạch phân bổ theo quốc gia do đó việc xác định được xuất xứ hàng
hóa là hết sức quan trọng.
2.3.Hệ thống phân phối thống nhất và ổn định
Do đặc tính là thị trường lớn, thị hiếu tiêu dùng đa dạng nên việc cung
ứng các loại hàng hóa tới người tiêu dùng cũng phải có quy mô tương ứng.
Thực tế đã cho thấy hệ thống phân phối hàng hóa ở Hoa Kỳ phát triển ở trình
độ cao và có một tổ chức hoàn chỉnh. Tại Hoa Kỳ hiện nay có nhiều loại công
5
Học viên : Nguyễn Việt Đức Lớp CH: 15 K
5
6
“Bài tập điều kiện: Môn KINH DOANH QUỐC TẾ VÀ KHU VỰC”
ty lớn, vừa và nhỏ sử dụng các kênh phân phối sản phẩm khác nhau. Các công
ty lớn thường có hệ thống phân phối riêng và tự mình thực hiện các khâu từ
nghiên cứu, sản xuất, tiếp thị, phân phối và tự nhập khẩu. Còn đối với các
công ty vừa và nhỏ thì vận động xung quanh hệ thống thị trường và được sự
hỗ trợ từ phía Chính phủ. Các công ty vừa và nhỏ của Hoa Kỳ tiến hành nhập
khẩu hàng hóa về và bán tại thị trường trong nước thông qua nhiều cách khác
nhau: bán cho các cửa hàng bán lẻ, bán cho các nhà phân phối, tiến hành bán
lẻ trực tiếp…Khi nói tới các kênh phân phối trên thị trường Hoa Kỳ không thể
không nhắc tới vai trò của hệ thống bán lẻ. Hiện nay Hoa Kỳ có trên 1 triệu
doanh nghiệp bán lẻ chiếm khoảng 11,7% tổng số việc làm tại Hoa Kỳ, riêng
trong ngành may mặc đã có hàng trăm cửa hàng bán lẻ quần áo với doanh thu
khoảng 93 tỷ USD/ năm. Với mặt hàng thủy sản, việc cung ứng cũng rất tiện
lợi với hệ thống các nhà hàng, hệ thống cung cấp cho các cơ sở ăn uống công
cộng như trường học, hộ gia đinh; hệ thống bán lẻ là các chuỗi siêu thị, các
cửa hàng bán lẻ, các chợ, các cửa hàng…
2.4.Cường độ cạnh tranh cao

khẩu hàng hóa vào thị trường Hoa Kỳ là: thông qua thiết lập mối quan hệ tốt
đẹp bình đẳng với các tổ chức Hiệp hội ngành hàng của Hoa Kỳ, nhà xuất
khẩu nước ngoài sẽ có thể dễ dàng tìm cho mình những đối tác làm ăn là các
doanh nghiệp nội địa phù hợp nhất từ đó thiết lập quan hệ thương mại, cơ sở
cho việc mở rộng thị trường xuất khẩu, đây là cách tiếp cận thị trường hiệu
quả cao và đảm bảo được sự tin cậy.
Hệ thống pháp luật Hoa Kỳ vốn phức tạp nên để có thể hiểu được những
vấn đề liên quan đến pháp luật cũng như có một sự đảm bảo pháp lý vững
chắc cho hoạt động kinh doanh của mình, nhà xuất khẩu thường lựa chọn cho
mình những cố vấn luật pháp riêng. Các nhà nhập khẩu Hoa Kỳ rất đề cao vai
trò của các dịch vụ tư vấn đặc biệt là dịch vụ tư vấn luật, họ rất sợ trong hợp
đồng của mình có bất cứ điều gì không rõ ràng hay không đúng với quy định
của pháp luật, và họ cũng muốn các đối tác làm ăn của mình nắm vững cơ sở
pháp lý cho các điều khoản hợp đồng. Các nhà xuất khẩu, doanh nghiệp nước
ngoài luôn cần phải có sự hỗ trợ của các loại hình dịch vụ này cho quá trình
hoạt động của mình trong quan hệ làm ăn với thương nhân Hoa Kỳ, tuy nhiên
cũng cần phải tính toán cụ thể vì giá của những dịch vụ này tại Hoa Kỳ là
tương đối cao. Với người Hoa Kỳ, “thời gian là tiền bạc”, họ cũng coi thời
gian là một loại hàng hóa như tất cả các loại hàng hóa khác, người Hoa Kỳ
tiết kiệm thời gian như tiết kiệm tiền bạc đặc biệt là những người làm dịch vụ
tư vấn, luật sư…thường tính phí hoặc tiền công dựa trên số giờ làm việc với
khách hàng. Vì vậy, các nhà kinh doanh nước ngoài khi cần phải sử dụng các
dịch vụ này phải hết sức lưu ý: chuẩn bị đầy đủ và chu đáo mọi câu hỏi cần
giải đáp cũng như nội dung cần tư vấn để đi thẳng vào vấn đề, tiết kiệm tối đa
thời gian sử dụng các dịch vụ này. Cũng chính vì tiết kiệm thời gian mà các
nhà kinh doanh Hoa Kỳ không có nhiều thời gian cho những câu chuyện rông
dài hoặc đọc những bức thư dài hoặc phải chờ đợi sự trả lời chậm trễ. Do đó,
các bức thư chào hàng hoặc giao dịch trước hết phải đảm bảo được sự ngắn
gọn súc tích thu hút được sự chú ý của đối tác, nội dung phải rõ ràng và trả lời
thẳng vào vấn đề mà đối tác quan tâm. Sự chậm trễ trả lời các thư hỏi hàng sẽ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status