BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
NGÔ TRUNG BIÊN HOÀN THIỆN CÔNG TÁC QUẢN LÝ THUẾ THU
NHẬP CÁ NHÂN TẠI CÁC DOANH NGHIỆP TRÊN
ĐỊA BÀN THỊ XÃ BUÔN HỒ, TỈNH DAKLAK
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN TRỊ KINH DOANH
Đà Nẵng - 2015
LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu, kết
quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất
kỳ công trình nào khác.
Tác giả luận văn
Ngô Trung Biên
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 9
1. Tính cấp thiết của đề tài 9
2. Mục tiêu nghiên cứu 9
HỒ, TỈNH DAKLAK 47
2.1. GIỚI THIỆU CHUNG VỀ CHI CỤC THUẾ THỊ XÃ BUÔN HỒ 47
2.1.1. Quá trình hình thành và phát triển 47
2.1.2. Cơ cấu tổ chức 47
2.1.3. Kết quả thu ngân sách nhà nƣớc của Chi cục thuế thị xã Buôn Hồ
giai đoạn 2011- 2013 48
2.2. TÌNH HÌNH QUẢN LÝ THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN TẠI CÁC
DOANH NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN THỊ XÃ BUÔN HỒ, TỈNH DAKLAK 53
2.2.1. Công tác lập dự toán thu thuế thu nhập cá nhân 53
2.2.2. Công tác tổ chức thực hiện quản lý thuế thu nhập cá nhân 55
2.2.3. Công tác chỉ đạo điều hành quản lý thuế thu nhập cá nhân 64
2.2.4. Công tác thanh tra, kiểm tra việc quản lý thuế thu nhập cá nhân 65
2.3. ĐÁNH GIÁ CHUNG VỀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ THUẾ THU NHẬP CÁ
NHÂN 68
2.3.1. Những kết quả đạt đƣợc 68
2.3.2. Những mặt hạn chế 69
2.3.3. Nguyên nhân 71
KẾT LUẬN CHƢƠNG 2 73
CHƢƠNG 3. HOÀN THIỆN CÔNG TÁC QUẢN LÝ THUẾ THU NHẬP
CÁ NHÂN TẠI CÁC DOANH NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN THỊ XÃ BUÔN
HỒ, TỈNH DAKLAK 74
3.1. CĂN CỨ ĐỀ XUẤT QUẢN LÝ THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN TRÊN
ĐỊA BÀN THỊ XÃ BUÔN HỒ TỈNH DAKLAK TRONG THỜI GIAN TỚI 74
3.1.1. Mục tiêu chung 74
3.1.2. Định hƣớng quản lý thuế TNCN trên địa bàn thị xã Buôn Hồ 74
3.2. GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÔNG TÁC QUẢN LÝ THUẾ THU NHẬP
CÁ NHÂN TRÊN ĐỊA BÀN THỊ XÃ BUÔN HỒ 75
3.2.1. Hoàn thiện công tác lập dự toán trong thời gian tới 75
3.2.2. Kiện toàn bộ máy quản lý và tăng cƣờng công tác phối hợp giữa các
UBND : Ủy ban nhân dân
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Số hiệu
bảng
Tên bảng
Trang
2.1.
Kết quả thu NSNN của Chi cục thuế Buôn Hồ giai đoạn
2011-2013
49
2.2:
Tình hình thực hiện thu thuế TNCN so với dự toán tại
Chi cục Thuế Buôn Hồ giai đoạn 2011 đến 2013
53
2.3
Tổ chức bộ máy quản lý thu thuế theo chức năng của
Chi cục Thuế Buôn Hồ
55
2.4
Tình hình thực hiện công tác quyết toán thuế tại chi cục
thuếBuôn Hồ giai đoạn 2011 - 2013
58
2.5
Tình hình quản lý công tác hoàn thuế TNCN tại chi cục
thuế Buôn Hồ giai đoạn 2011-2013
60
2.6
Kết quả thực hiện công tác kiểm tra tại trụ sở NNT của
Chi cục Thuế Buôn Hồ trong giai đoạn 2011 – 2013
2. Mục tiêu nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu nhằm mục đích giải quyết ba vấn đề cơ bản sau:
10
Hệ thống hóa những vấn đề lý luận cơ bản về quản lý thu thế thu
nhập cá nhân.
Phân tích, đánh giá thực trạng công tác quản lý thuế thu nhập cá
nhân tại các doanh nghiệp trên địa bàn thị xã Buôn Hồ, tỉnh Daklak.
Đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn hiện công tác quản lý thuế thu
nhập cá nhân tại các doanh nghiệp trên địa bàn thị xã Buôn Hồ, tỉnh Daklak
trong thời gian đến.
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Đối tƣợng nghiên cứu: những vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan
đến công tác quản lý thuế thu nhập cá nhân tại các doanh nghiệp trên địa bàn
thị xã Buôn Hồ, tỉnh Daklak.
Phạm vi nghiên cứu:
+ Về nội dung: Đề tài tập trung nghiên cứu công tác quản lý thuế thu
nhập cá nhân.
+ Về không gian và thời gian: Những vấn đề liên quan đến công tác
quản lý thuế thu nhập cá nhân tại doanh nghiệp trên địa bàn thị xã Buôn Hồ,
tỉnh Daklak trong thời gian 03 năm từ năm 2011 đến 2013.
4. Phƣơng pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng các phƣơng pháp nghiên cứu sau:
- Luận văn dựa trên cơ sở phƣơng pháp luận là Chủ nghĩa duy vật biện
chứng, phƣơng pháp luận nghiên cứu duy vật lịch sử nhằm đánh giá vấn đề
trên cơ sở khoa học, khách quan.
- Phƣơng pháp so sánh theo trình tự thời gian để đánh giá quá trình vận
động của vấn đề thật toàn diện.
- Phƣơng pháp thống kê, tổng hợp số liệu qua các năm tạo cơ sở phân
tích, đánh giá thực trạng công tác quản lý thuế thu nhập cá nhân tại
các doanh nghiệp trên địa bàn thị xã Buôn Hồ, tỉnh Daklak.
Chƣơng 2: Thực trạng công tác quản lý thuế thu nhập các nhân tại các
doanh nghiệp trên địa bàn thị xã Buôn Hồ, tỉnh Daklak.
Chƣơng 3: Giải pháp hoàn thiện công tác quản lý thuế thu nhập cá nhân
tại các Doanh nghiệp trên địa bàn thị xã Buôn Hồ, tỉnh Daklak.
7. Tổng quan tài liệu nghiên cứu
Để thực hiện các mục tiêu và đạt đƣợc những ý nghĩa đã nêu trên, cần
có nguồn thông tin thiết thực liên quan và sự tiến hành nghiên cứu một cách
khoa học. Do đó tác giả đã tích cực tìm hiểu, tiến hành thu thập thông tin,
tham khảo các công trình, luận văn khoa học có nội dung tƣơng tự đã đƣợc
công nhận để tiến hành nghiên cứu nhằm tìm ra nền tảng cho quá trình
hoàn thành luận văn:
[5] Dƣơng Thị Nguyên (2011), Hoàn thiện công tác quản lý thu thuế
thu nhập cá nhân trên địa bàn Hà Nội, Luận văn thạc sĩ kinh tế, Trƣờng Đại
học Kinh tế Quốc dân.
Đối với đề tài này, trong chƣơng 1 tác giả đã hệ thống hóa đƣợc các vấn
đề lý thuyết cơ bản về công tác quản lý thuế TNCN, nêu ra đƣợc các nhân tố
ảnh hƣởng đến công tác quản lý thuế TNCN. Đề tài đã đánh giá thực trạng
của công tác quản lý thuế TNCN của nƣớc ta trong việc ban hành chính sách
thuế, Công tác tổ chức thực hiện chính sách thuế, xử lý các trƣờng hợp vi
phạm về kê khai nộp thuế và tổ chức bộ máy quản lý thuế. Từ thực trạng trên
đề tài đã cho thấy đƣợc những thành tựu, hạn chế trong công tác quản lý thuế
TNCN ở Hà Nội từ năm 2008 đến năm 2010 và chỉ ra năm nguyên nhân cơ
bản là: hệ thống pháp luật chƣa hoàn thiện; nhân lực, trình độ chuyên môn
nghiệp vụ của đội ngũ cán bộ thuế còn thiếu, hạn chế; quá trình thanh toán
chủ yếu bằng tiền mặt nên khó kiểm soát nguồn thu nhập thực tế; bất cập
trong chế độ kê khai thuế,nộp thuế, quyết toán thuế, hoàn thuế và cấp mã số
13
thuế; ý thức của ngƣời dân về thuế TNCN còn thấp. Đề tài cũng đã đề xuất
một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý thu thuế trên địa bàn nhƣ:
đầu tƣ cơ sở hạ tầng, tin học hoá công tác quản lý thu thuế. Cục Thuế Hà Nội
trên địa bàn. Từ đó, tác giả đã đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện công tác
quản lý thuế thu nhập cá nhân trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng với bốn nhóm giải
pháp chính là: giải pháp về tổ chức bộ máy, nguồn nhân lực; giải pháp về
chuyên môn nghiệp vụ, giải pháp về mặt pháp lý. Đây là đề tài có nội dung
khá sát với các vấn đề mà học viên sẽ nghiên cứu trong luận văn tốt nghiệp.
Do đó, một số nội dung về cơ sở lý luận về thuế thu nhập cá nhân và công tác
quản lý thuế thu nhập cá nhân là rất hữu ích để học viên tham khảo nhằm xây
dựng nên cơ sở lý luận phù hợp với thực trạng của địa bàn đƣợc nghiên cứu.
[8] Trần Công Thành (2013), Hoàn thiện công tác quản lý thu thuế thu
nhập cá nhân trên địa bàn tỉnh Trà Vinh, Luận văn thạc sĩ quản trị kinh
doanh, Trƣờng Đại học Kinh tế Đà Nẵng.
Trong luận văn này, tác giả cũng trình bày những vấn đề lý luận cơ bản
nhất về thuế thu nhập cá nhân và công tác quản lý thuế thu nhập cá nhân cũng
nhƣ các nhân tố ảnh hƣởng đến công tác quản lý thuế thu nhập cá nhân. Trên
cơ sở đánh giá thực trạng công tác quản lý thuế thu nhập cá nhân ở Trà Vinh
trong giai đoạn từ 2009 đến 2012, tác giả cũng đã chỉ ra đƣợc những hạn chế
còn tồn tại ở địa phƣơng, có thể kể đến nhƣ: một số quy định chính sách chƣa
thực sự rõ ràng, một số thủ tục còn phức tạp, nhƣng việc sửa đổi không kịp
thời gây khó khăn trong thực hiện; khó kiểm soát đƣợc thu nhập tính thuế của
cá nhân để đƣa vào diện thu thuế do tình trạng thanh toán bằng tiền mặt còn
rất phổ biến; đội ngũ cán bộ quản lý thuế của tỉnh còn hạn chế cả về số lƣợng
lẫn trình độ chuyên môn, không thƣờng xuyên cập nhật thông tin mới về về
15
sự thay đổi chính sách thuế, Qua việc phân tích thực trạng thì tác giả cũng
đã đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý thuế thu nhập
cá nhân trên địa bàn tỉnh Trà Vinh, những giải pháp này có ý nghĩa trong thời
gian 5 năm tính từ năm 2012. Các giải pháp này có tính thực tiễn và có khả
năng áp dụng vào thực tế phù hợp với chiến lƣợc phát triển của tỉnh trong thời
gian tới.
[9] Nguyễn Thị Thanh Thủy (2010), “Thuế thu nhập cá nhân: Kinh
thuế TNCN vào năm 1864. Các nƣớc Châu Âu nhƣ Úc, Niu Dilân, và
NhậtBản áp dụng các loại thuế thu nhập thƣờng xuyên vào nửa cuốiThế kỷ
19. Tại các nƣớc Châu Á: Thái Lan bắt đầu áp dụng năm 1939, Philippine
năm1945, Hàn Quốc năm 1948, Indonesia năm 1949, Trung Quốc năm 1984;
các nƣớc Đông Âu mới áp dụng nhƣ Rumani năm 1990, Nga năm 1991, Ba
Lan năm 1992. Ở Việt Nam thuế TNCN chính thức có hiệu lực thi hành từ
ngày 01/01/2009.
Thời gian đầu khi mới ban hành Luật thuế TNCN, các Chính phủ ở một
sốnƣớc áp dụng luật thuế TNCN thƣờng chọn đánh thuế vào những đối tƣợng
dễ đo lƣờng đƣợc nhƣ đất đai, tài sản, hàng hóa hữu hình Tuy nhiên cho
đếnnay sau nhiềulần sửa đổi, bổ sung, thay thế những chế định quan trọng
17
trong Luật thuế TNCN đã có nhiềubiếnđổi. Có thể nói khác với các loại
thuếkhác, thuế TNCN có diện điều chỉnh rộng với tất cả các cá nhân có thu
nhập từ tiền lƣơng, tiền công; thu nhập từ kinh doanh; từ đầu tƣ gián tiếp nhƣ
mua, bán cổ phần, trái phiếu, cổ phiếu Thuế TNCN điều chỉnh không chỉ cá
nhân trong nƣớc mà cả cá nhân nƣớc ngoài nếu làm việc có thu nhập tại nƣớc
sở tại. Các khoản thu nhập chịu thuế cũng có diện rộng bao gồmtất cả các
khoản thu nhập của cá nhân. Tuy nhiên, thực hiện chính sách xã hội và mục
tiêu công bằng của thuế TNCN, luật thuế cũng qui định cụ thể một số khoản
thu nhập không chịu thuế, miễn thuế, giảm thuế.
Ở Việt Nam, cùng với quá trình chuyển sang nền kinh tế thị trƣờng định
hƣớng xã hội chủ nghĩa và thực hiện nền kinh tế mở, sản xuất kinh doanh
trong nƣớc và đầu tƣ nƣớc ngoài đều tăng mạnh, đời sống kinh tế xã hội có
những bƣớc chuyến biến đáng kế. Tuy nhiên, kèm theo đó là sự phát sinh
chênh lệch về mức sống ngày càng rõ rệt, tiền lƣơng, tiền công của ngƣời lao
động giữa các đơn vị, nhất là khu vực kinh tế quốc doanh và khu vực có vốn
đầu tƣ nƣớc ngoài có sự khác biệt ngày càng lớn. Trong bối cảnh đó, hệthống
chính sách thuế đƣợc cải cách bƣớc 1 (năm 1990), bên cạnh Luật Thuế lợi tức
áp dụng đối với cơ sở sản xuất, kinh doanh, Quốc hội ủy quyền cho Hội đồng
Thuế thu nhập cá nhân là loại thuế trực thu đánh vào thu nhập thực nhận
được của các cá nhân trong một kỳ tính thuế nhất định thường một năm, từng
tháng hoặc từng lần, không phân biệt nguồn gốc phát sinh thu nhập.
Thuế TNCN là một loại thuế trực thu vì nó đánh trực tiếp vào thu nhập
của cá nhân, cá nhân khó có thể chuyển đƣợc gánh nặng thuế sang cho chủ
thể khác.
Thu nhập cá nhân là tổng số tiền, hàng hóa, dịch vụ mà một cá nhân
19
nhận đƣợc trong một thời kỳ nhất định (thƣờng là một năm).
Thu nhập chịu thuế của cá nhân trong kỳ tính thuế là thu nhập sau khi đã
giảm trừ các khoản chi phí liên quan để tạo ra thu nhập, các khoản giảm trừ
mang tính chất xã hội và các khoản giảm trừ khác.
Nguyên nhân ra đời và tồn tại của Thuế TNCN:
Thứ nhất, Thuế TNCN ra đời xuất phát từ yêu cầu đảm bảo sự công bằng
trong tiêu dùng hàng hóa công cộng và phân phối thu nhập. Điều này đặc biệt
cần thiết trong điều kiện kinh tế thị trƣờng vì sự phân hóa giàu nghèo là điều
khó tránh khỏi. Trong hoàn cảnh đó, thuế thu nhập cá nhân sẽ là một biện
pháp tốt để rút ngắn khoảng cách giàu nghèo trong xã hội mà vẫn đảm bảo
tính công bằng trong đóng góp của các cá nhân cho xã hội.
Thuế TNCN đánh vào thu nhập của cá nhân dựa trên nguyên tắc "lợi ích",
"công bằng" và "khả năng nộp thuế". Theo nguyên tắc "lợi ích" của kinh tế học
công cộng, công dân phải có nghĩa vụ nộp thuế để đƣợc hƣởng những lợi ích do
Nhà nƣớc mang lại, chẳng hạn nhƣ hệ thống luật pháp, quốc phòng, an ninh, trật
tự, dịch vụ, hàng hóa công Thuế TNCN đảm bảo nguyên tắc "công bằng".
Trong đó, những ngƣời có thu nhập nhƣ nhau phải nộp thuế nhƣ nhau (công
bằng theo chiều ngang), những ngƣời có thu nhập cao phải nộp thuế nhiều hơn
ngƣời có thu nhập thấp (công bằng theo chiều dọc). Bên cạnh đó, cần phải xem
xét "khả năng nộp thuế" của đối tƣợng nộp để đảm bảo tính khả thi của chính
sách thuế vì ngƣời dân không thể nộp thuế khi không đảm bảo thu nhập để duy
trì cuộc sống tối thiểu. Trên ý nghĩa đó, thuế TNCN là sắc thuế đảm bảo tính
Thuế TNCN luôn gắn với chính sách xã hội của mỗi quốc gia nhƣ phúc
lợi công cộng, chăm sóc sức khỏe
Thuế TNCN là thuế trực thu. Do vậy, NNT cũng là ngƣời chịu thuế.
21
Thuế TNCN có diện thu thuế rất rộng, tất cả các cá nhân có thu nhập bao
gồm: công dân nƣớc sở tại và ngƣời nƣớc ngoài cƣ trú thƣờng xuyên hay
không thƣờng xuyên tại nƣớc đó và hầu nhƣ tất cả số thu nhập có đƣợc của
các cá nhân đều phải tính thuế không kể nguồn thu cho ngân sách của Thuế
TNCN rất cao.
Việc đánh Thuế TNCN thƣờng áp dụng theo tắc thuế suất lũy tiến từng
phần. Đặc điểm này xuất phát từ vai trò chủ yếu từ Thuế TNCN là điều tiết
mạnh ngƣời có thu nhập cao, góp phần thực hiện công bằng xã hội. Do vậy,
việc sử dụng thuế suất lũy tiến từng phần sẽ đáp ứng đƣợc nhu cầu đó vì phần
thu nhập tăng thêm càng cao thì sẽ phải tính thuế suất càng cao.
Xét về góc độ kinh tế, Thuế TNCN có tính trung lập cao hơn so với các
loại thuế khác nhau vì việc tăng hay giảm Thuế TNCN hầu nhƣ không kéo
theo những biến đổi về cơ cấu kinh tế.
1.1.3. Vai trò của thuế thu nhập cá nhân
Là công cụ góp phần thực hiện công bằng xã hội, giảm bớt sự chênh lệch
về thu nhập giữa những ngƣời có thu nhập cao và những ngƣời có thu nhập
thấp trong xã hội; đảm bảo nguồn thu quan trọng và ổn định cho ngân sách
nhà nƣớc; giúp Nhà nƣớc điều tiết thu nhập, tiêu dùng và tiết kiệm.
Đối với nền kinh tế
Tạo lập nguồn tài chính cho NSNN: Thuế là nguồn thu chủ yếu của NSNN,
trong đó Thuế TNCN là một trong những bộ phận quan trọng cấu thành thuế nói
chung nên cũng góp một phần quan trọng để tạo nguồn tài chính cho nhà nƣớc.
Thuế TNCN đƣợc tính với diện rộng, khả năng tạo nguồn thu cho ngân sách rất
lớn, giúp đẩy mạnh khai thác tăng thu nguồn thu “nội địa” giảm vay từ bên ngoài
và xác định thu nội địa có ý nghĩa quan trọng mang tính quyết định sống còn đối
với một nƣớc đang phát triển nhƣ Việt Nam.
thuế nhƣ nhau.
Góp phần hạn chế sự thất thu thuế thu nhập doanh nghiệp: Trong doanh
nghiệp thƣờng tồn tại cả thuế thu nhập doanh nghiệp và Thuế TNCN. Giữa
hai loại thuế này luôn luôn tồn tại mối quan hệ gắn bó với nhau.
Thuế TNCN còn góp phần khắc phục sự thất thu thuế thu nhập doanh
nghiệp khi có sự thông đồng giữa các doanh nghiệp hay giữa doanh nghiệp
với cá nhân. Trong trƣờng hợp doanh nghiệp kê khai cao hơn thực tế những
chi phí phải trả cho các cá nhân để làm giảm thu nhập tính thuế của doanh
nghiệp hòng trốn thuế thu nhập doanh nghiệp thì các cá nhân nhận đƣợc
những khoản trả nói trên sẽ phải nộp thêm Thuế TNCN đối với phần thu nhập
nhận đƣợc kê khai tăng thêm đó.
1.1.4. Mục tiêu của quản lý thuế thu nhập cá nhân
Công tác quản lý Thuế TNCN nhằm đạt đƣợc các mục tiêu cơ bản sau:
- Thứ nhất, tăng cƣờng tập trung, huy động đầy đủ và kịp thời số thu cho
NSNN trên cơ sở không ngừng nuôi dƣỡng và phát triển nguồn thu. Thuế
TNCN chiếm tỷ trọng chủ yếu trong số thu NSNN ở hầu hết các quốc gia trên
thế giới. Vì vậy, làm tốt công tác quản lý thuế thu nhập nói chung và Thuế
TNCN nói riêng sẽ có tác dụng lớn trong việc tập trung, huy động đầy đủ và
kịp thời số thu cho NSNN.
Bên cạnh đó, Thuế TNCN tác động trực tiếp đến thu nhập của các cá
nhân, có thể làm giảm nỗ lực làm việc và gây nên các phản ứng ngay lập tức
từ ngƣời chịu thuế nhƣ hành vi trốn thuế Để tăng cƣờng và ổn định số thu
NSNN trong tƣơng lại, công tác quản lý Thuế TNCN cũng cần đƣợc chú ý để
duy trì và phát triển cơ sở tạo nguồn thu thuế thu nhập của các cá nhân.
- Thứ hai, góp phần tăng cƣờng nâng cao ý thức chấp hành luật cho các
tổ chức kinh tế và dân cƣ.
Trong nền kinh tế thị trƣờng, nhà nƣớc thông qua công cụ luật pháp để
24
tác động vào nền kinh tế ở tầm vĩ mô. Ý thức chấp hành luật pháp của các tổ
chức kinh tế và dân cƣ sẽ có ảnh hƣởng không nhỏ đến việc thực hiện những
năng số thuế nộp ngân sách tăng hay giảm ngay trong năm làm kế hoạch để
tiên lƣợng tăng, giảm khoản thu.
- Đánh giá nhận định, dự báo khả năng thu và đánh giá tăng, giảm, phân
chia cụ thể theo khoản thu nhập, trong đó tập trung vào các khoản thu nhập: tiền
lƣơng, tiền công; hoạt động SXKD; đầu tƣ vốn; chuyển nhƣợng vốn; chuyển
nhƣợng bất động sản; trúng thƣởng theo tiến độ thu hàng tháng trong năm.
- Dự kiến số thu thuế TNCN ngay trong năm lập kế hoạch từ đó xây dựng
kế hoạch thu cho năm sau đảm bảo con số giao kiểm tra.
Do chính sách của thuế TNCN liên tục đƣợc thay đổi nên việc lập dự toán
phải luôn bám sát các quy định tại các Thông tƣ hƣớng dẫn, sửa đổi bổ sung để
loại trừ một số khoản dự kiến sẽ không thu trong tƣơng lai do có các chính sách
Quốc hội,Chính phủ đƣa ra để thúc đẩy nền kinh tế, kích thích tiêu dùng.
1.2.2. Công tác tổ chức thực hiện quản lý thuế thu nhập cá nhân
Để tổ chức tốt công tác thu thuế, trƣớc hết phải thực hiện tốt việc tổ chức
bộ máy thu thuế. Cơ quan thuế các cấp thực hiện sắp xếp, bố trí công chức
thuế vào các vị trí quản lý phù hợp khả năng, sở trƣờng của cán bộ thuế và để
thực hiện tốt công tác quản lý thu thuế thu nhập cá nhân, cần phải xây dựng
một đội ngũ công chức thuế chuyên trách đƣợc đào tạo chuyên sâu trong công
tác quản lý thu thuế thu nhập cá nhân.
Ở từng cấp, bộ máy cơ quan thuế có thể đƣợc tổ chức theo các mô hình
sau: Mô hình tổ chức theo sắc thuế, mô hình tổ chức theo chức năng, mô hình
tổ chức theo đối tƣợng nộp thuế.
Quản lý thuế TNCN là quản lý theo chức năng. Do vậy bộ máy quản lý