Luận văn thạc sĩ Hoàn thiện công tác thu bảo hiểm xã hội băt buộc tại Huyện Krông Nô, Tỉnh Đăk Lăk (full) - Pdf 28


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRẦN NGỌC QUÂN HOÀN THIỆN CÔNG TÁC
THU BẢO HIỂM XÃ HỘI BẮT BUỘC
TẠI HUYỆN KRÔNG NÔ TỈNH ĐĂK NÔNG Chuyên ngành : Kinh tế phát triển
Mã số : 60.31.05 LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: PGS.TS. NGUYỄN NGỌC VŨ

Đà Nẵng, Năm 2015 LỜI CAM ĐOAN
6. Bố cục của đề tài. 3
7. Tổng quan tài liệu nghiên cứu. 3
CHƢƠNG 1. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ BHXH VÀ CÔNG
TÁC THU BHXH BẮT BUỘC 7
1.1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ BẢO HIỂM XÃ HỘI 7
1.1.1. Khái niệm Bảo hiểm xã hội 7
1.1.2. Quá trình ra đời của BHXH 8
1.1.3. Đặc điểm của BHXH. 10
1.1.4. Vai trò của BHXH. 11
1.2. MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ CÔNG TÁC THU BHXH BẮT BUỘC 14
1.2.1. Khái niệm thu BHXH bắt buộc 14
1.2.2. Vai trò của công tác thu BHXH bắt buộc 14
1.2.3. Nội dung và tiêu chí của công tác thu BHXH bắt buộc. 15
1.3. CÁC YẾU TỐ ẢNH HƢỞNG TỚI CÔNG TÁC THU BHXH BẮT
BUỘC. 27
1.3.1. ự nhiên 27
1.3.2. ội 28
1.3.3. ế 29
1.4. KINH NGHIỆM CỦA MỘT SỐ ĐỊA PHƢƠNG VỀ VỀ CÔNG TÁC THU
BHXH BẮT BUỘC 30
1.4.1. Kinh nghiệm của huyện Hiệp Hoà, tỉnh Bắc Giang 30
1.4.2. Kinh nghiệm của huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn 31
1.4.3. Kinh nghiệm của thị xã Hồng Lĩnh, tỉnh Hà Tĩnh 32
KẾT LUẬN CHƢƠNG 1 32
CHƢƠNG 2. THỰC TRẠNG CÔNG TÁC THU BẢO HIỂM XÃ HỘI BẮT
BUỘC TẠI BẢO HIỂM XÃ HỘI HUYỆN KRÔNG NÔ, TỈNH ĐĂK
NÔNG GIAI ĐOẠN 2009 – 2013 33
2.1. GIỚI THIỆU CHUNG VỀ HUYỆN KRÔNG NÔ VÀ BẢO HIỂM XÃ HỘI
HUYỆN KRÔNG NÔ 33
2.1.1. Giới thiệu chung về huyện Krông Nô. 33

3.2.3. Tăng cƣờng phối kết hợp với các ban ngành liên quan 85
3.2.4. Tăng cƣờng truyên truyền về chính sách BHXH 87
3.2.5. Cải cách thủ tục hành chính 89
3.2.6. Nâng cao năng lực của đội ngũ cán bộ thu BHXH bắt buộc 90
3.2.7. Ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác thu BHXH bắt buộc 92
3.2.8. Tăng cƣờng công tác thanh tra, kiểm tra về công tác thu BHXH bắt
buộc 93
3.3. MỘT SỐ KIẾN NGHỊ 94
3.3.1. Đối với Nhà nƣớc 94
3.3.2. Đối với cơ quan BHXH Việt Nam 95
3.3.3. Với BHXH tỉnh Đăk Nông. 96
KẾT LUẬN CHƢƠNG 3 97
KẾT LUẬN 98
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 100
QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI LUẬN VĂN (Bản sao)
PHỤ LỤC. DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

Tên viết tắt Tên đầy đủ
ASXH: An sinh xã hội
BHXH: Bảo hiểm xã hội
BHYT: Bảo hiểm y tế
CCVC: Công chức viên chức
CNVC: Công nhân viên chức
DN: Doanh nghiệp
HCSN: Hành chính sự nghiệp
HĐLĐ: Hợp đồng lao động
HĐND: Hội đồng nhân dân

45
2.5
Số lƣợng đơn vị tham gia BHXH bắt buộc tại BHXH
huyện Krông Nô từ 2009-2013
47
2.6
Số lƣợng lao động tham gia BHXH bắt buộc tại BHXH
huyện Krông Nô từ 2009-2013
48
2.7
Số lƣợng và cơ cấu đơn vị SDLĐ tham gia BHXH theo
khối tại BHXH huyện Krông Nô giai đoạn 2009 - 2013
50
2.8
Số lƣợng và cơ cấu lao động tham gia BHXH theo khối tại
BHXH huyện Krông Nô giai đoạn 2009 – 2013
51
2.9
Tổng quỹ lƣơng trích nộp BHXH của các đơn vị trên địa
bàn huyện Krông Nô giai đoạn 2009 - 2013
53
2.10
Kết quả thực hiện kế hoạch thu tại BHXH huyện Krông
Nô giai đoạn 2009 - 2013
61
2.11
Kết quả thu BHXH phân theo khu vực tại BHXH huyện
Krông Nô giai đoạn 2009 – 2013
64
2.12

huyện Krông Nô năm 2013
65
3.1
Quy trình đối chiếu giữa đơn vị SDLĐ với cơ quan
BHXH
83
3.2
Sơ đồ quản lý thu BHXH đối với từng đơn vị SDLĐ
84
1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài.
Bảo hiểm xã hội (BHXH) ở Việt Nam là một trong những chính sách
lớn của Đảng và Nhà nƣớc đối với ngƣời lao động ( NLĐ). Lịch sử phát triển
ngành BHXH đƣợc đánh dấu nhƣ một bƣớc phát triển mới khi Luật BHXH
đƣợc Quốc hội nƣớc Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XI, kỳ họp
thứ 9 thông qua ngày 29 tháng 06 năm 2006 và có hiệu lực thi hành kể từ
ngày 01/01/2007. Trong những nội dung của BHXH thì thu BHXH là một
trong những nội dung quan trọng nhất của quá trình thực hiện, bởi vì thu
BHXH quyết định đến sự hình thành, quản lý và sử dụng quỹ BHXH, từ đó
đảm bảo quyền lợi cho NLĐ chế độ chính sách BHXH không ngừng đƣợc bổ
sung, sửa đổi cho phù hợp với từng thời kỳ phát triển của đất nƣớc nhằm đảm
bảo quyền lợi cho hàng triệu NLĐ.
BHXH là chính sách an sinh xã hội quan trọng trong hệ thống chính sách

- Hệ thống hoá những vấn đề cơ sở lý luận về thu BHXH bắt buộc
- Khảo sát đánh giá thực trạng công tác thu BHXH bắt buộc tại cơ quan
BHXH huyện Krông Nô, tỉnh Đăk Nông giai đoạn 2009 – 2013.
- Đề xuất một số giải pháp, kiến nghị nhằm hoàn thiện công tác thu
BHXH bắt buộc tại cơ quan BHXH huyện Krông Nô thời gian tới.
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu.
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Luận văn chỉ tập trung nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn
liên quan đến công tác thu BHXH bắt buộc.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi về không gian: Địa bàn huyện Krông Nô - tỉnh Đăk Nông.
- Phạm vi về nội dung: Luận văn tập trung nghiên cứu những vấn đề về
công tác thu BHXH bắt buộc trên địa bàn huyện Krông Nô tỉnh Đăk Nông
trong những năm qua.

3
- Phạm vi về thời gian: Dữ liệu thứ cấp phục vụ đánh giá thực trạng
công tác thu BHXH bắt buộc: Thu thập từ năm 2009-2013. Các giải pháp đề
xuất áp dụng: Có ý nghĩa trong những năm tới.
4. Phƣơng pháp nghiên cứu
Để thực hiện mục tiêu nghiên cứu trên, đề tài sử dụng các phƣơng pháp sau:
- Phƣơng pháp phân tích thực chứng
- Phƣơng pháp phân tích chuẩn tắc
- Phƣơng pháp phân tích tổng hợp
- Phƣơng pháp phân tích so sánh
- Phƣơng pháp phân tích thống kê
5. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài.
- Luận văn làm rõ thêm cơ sở khoa học về khái niệm, bản chất, vai trò của
BHXH bắt buộc cũng nhƣ công tác thu BHXH bắt buộc của BHXH Việt Nam nói
chung, trong đó có BHXH huyện Krông Nô tỉnh Đăk Nông nói riêng.

“Đánh giá thực trạng công tác thu BHXH bắt buộc tại BHXH tỉnh Bình
Dương”. Tác giả Nguyễn Thành Công (2007) là một luận văn thạc sĩ. Đề tài đã hệ
thống hóa khá đầy đủ và chi tiết về cơ sở lý luận BHXH, tuy nhiên đề tài mới chỉ
ra đƣợc một phần thực trạng công tác thu BHXH bắt buộc tại BHXH tỉnh Bình
Dƣơng và các đề xuất một số giải pháp, còn chung chung chƣa cụ thể [7].
“Công tác thu BHXH bắt buộc của khối doanh nghiệp ngoài quốc doanh
tại BHXH quận Ba Đình. Thực trạng và giải pháp”. Tác giả Ngô Thị Minh
Chi (2010) là một luận văn thạc sĩ. Đề tài đã nghiên cứu cơ sở lý luận và thực
tiễn về thu BHXH bắt buộc của khối doanh nghiệp ngoài quốc doanh tại
BHXH quận Ba Đình, tác giả đã đi sâu phân tích một cách cụ thể và chi tiết
tình hình thu BHXH bắt buộc đối tƣợng là DNNQD tuy nhiên hệ thống giải
pháp còn chƣa thực sự gắn với tình hình cụ thể của địa bàn nghiên cứu [8].
“Quản lý thu BHXH bắt buộc tại BHXH tỉnh Đăk Nông giai đoạn 2010
- 2012”. Tác giả Nguyễn Văn Trƣờng (2012) là một luận văn thạc sĩ. Đề tài
đã làm rõ cơ sở lý luận về hoạt động của BHXH, đánh giá khá đầy đủ thực
trạng công tác thu BHXH bắt buộc tại cơ quan BHXH tỉnh Đăk Nông giai

5
đoạn 2010 - 2012, đánh giá nguyên nhân, vƣớng mắc, tồn tại trong công tác
thu. Đƣa ra một số giải pháp, khuyến nghị nhằm hoàn thiện công tác thu
BHXH bắt buộc tại cơ quan BHXH tỉnh Đăk Nông trong thời gian tới [9].
ý thu BHXH hiện nay và các biện pháp nâng cao
hiệu quả công tác thu”. Tác giả TS. Nguyễn Văn Châu (1996) là một đề tài
nghiên cứu khoa học cấp bộ đã nghiên cứu, tìm hiểu kinh nghiệm quản lý thu
BHXH của một số nƣớc trên thế giới, tổng kết đánh giá thực tiễn hoạt động
thu BHXH giai đoạn trƣớc 1995 và những năm đầu khi BHXH Việt Nam
mới thành lập và đi vào hoạt động từ 1995 - 1996. Tác giả đã đƣa ra một số
khuyến nghị để đổi mới nâng cao hiệu quả công tác thu BHXH ở Việt Nam [6].
Bài viết "Những giải pháp trong công tác thu BHXH, BHYT bắt buộc".
Tác giả Minh Hòa (2010) trên trang đã đề xuất một

Nông. Vì vậy đề tài nghiên cứu của tác giả là không trùng lặp với các nghiên cứu
trƣớc đây. Đề tài xem xét kế thừa và bổ sung cho nghiên cứu của mình nhằm cụ
thể hóa và đánh giá một cách toàn diện về công tác thu bảo hiểm xã hội bắt buộc ở
BHXH huyện Krông Nô tỉnh Đăk Nông.

7
CHƢƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ BHXH
VÀ CÔNG TÁC THU BHXH BẮT BUỘC
1.1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ BẢO HIỂM XÃ HỘI
1.1.1. Khái niệm Bảo hiểm xã hội.
Khái niệm chung của ILO về ASXH cũng đƣợc sử dụng trong lĩnh vực
BHXH. Theo đó, BHXH có thể đƣợc hiểu khái quát là sự bảo vệ của xã hội
đối với các thành viên của mình thông qua các biện pháp cộng đồng, nhằm
chống lại các khó khăn về kinh tế, xã hội do bị ngừng hoặc giảm thu nhập,
gây ra bởi ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, thất nghiệp, thƣơng tật, tuổi già
và chết; đồng thời đảm bảo các chăm sóc y tế và trợ cấp cho các gia đình
đông con. (theo Công ƣớc 102, 1952) [42].
Tuy nhiên, ở Việt Nam thuật ngữ BHXH thƣờng đƣợc sử dụng với nội
hàm hẹp hơn, chỉ bao gồm những trƣờng hợp bảo hiểm thu nhập cho NLĐ. “ Bảo
hiểm xã hội là sự đảm bảo thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập của người lao
động khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập do ốm đau, thai sản, tai nạn lao động -
bệnh nghề nghiệp, thất nghiệp, hết tuổi lao động hoặc chết , trên cơ sở đóng góp
và sử dụng một quỹ tài chính tập trung, nhằm đảm bảo ổn định đời sống cho họ
và an toàn xã hội.” (theo Luật BHXH số 71/2006/ QHH ngày 29 tháng 06 năm
2006 của Quốc hội nƣớc Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam) [42].
Ở góc độ tài chính, BHXH đƣợc định nghĩa: là quá trình thành lập và sử
dụng quỹ tiền tệ dự trữ của cộng đồng những NLĐ, có sự bảo trợ của Nhà
nƣớc, để san sẻ rủi ro, đảm bảo thu nhập cho họ và gia đình trong những
trƣờng hợp cần thiết theo quy định của pháp luật.

vì đất nƣớc bị thực dân Pháp đô hộ. Đời sống của nhân dân vô cùng cực khổ,
nghèo đói.
- Tuy nhiên nhân dân Việt Nam có truyền thống cƣu mang, giúp đỡ lẫn
nhau những khi gặp rủi ro hoạn nạn. Đặc biệt là sự che chở của họ hàng làng

9
xã thân tộc. Cũng có một số nhà thờ tổ chức nuôi trẻ mồ côi, thực hiện tế bần
(BHXH sơ khai).
* Giai đoạn từ năm 1945 đến 1954:
- Tháng 8 năm 1945 Nhà nƣớc Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời.
Tháng 12 năm 1946 Quốc hội đã thông qua Hiến pháp đầu tiên của Nhà nƣớc
dân chủ nhân dân. Trong Hiến pháp có xác định quyền đƣợc trợ cấp của
ngƣời tàn tật và ngƣời già.
- Ngày 12 tháng 3 năm 1947 Chủ tịch nƣớc Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh
số 29/SL quy định chế độ trợ cấp cho công nhân.
- Ngày 20 tháng 5 năm 1950 Hồ Chủ Tịch ký 2 sắc lệnh là 76, 77 quy
định thực hiện các chế độ ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, hƣu trí cho cán
bộ, công nhân viên chức.
Đặc điểm của chính sách pháp luật bảo hiểm xã hội ở thời kỳ này là do
trong hoàn cảnh kháng chiến gian khổ nên việc thực hiện bảo hiểm xã hội rất
hạn chế. Tuy nhiên, đây là thời kỳ đánh dấu sự quan tâm rất lớn của Đảng và
Nhà nƣớc về chính sách bảo hiểm xã hội. Đồng thời những quy định về bảo
hiểm xã hội của Nhà nƣớc ở thời kỳ này là cơ sở cho sự phát triển bảo hiểm
xã hội sau này.
* Giai đoạn từ năm 1954 đến 1975: Miền Bắc đƣợc giải phóng, xây
dựng chủ nghĩa xã hội nên pháp luật về BHXH đƣợc phát triển mở rộng
nhanh. Điều lệ BHXH ban hành ngày 27/12/1961 có thể coi là văn bản gốc về
BHXH quy định đối tƣợng là CNVC Nhà nƣớc, hệ thống 6 chế độ BHXH,
quỹ BHXH nằm trong ngân sách nhà nƣớc do các cơ quan đơn vị đóng góp.
Năm 1964, Điều lệ đãi ngộ quân nhân. Riêng miền Nam, BHXH cũng thực

- Hoạt động BHXH nhằm huy động sự đóng góp của ngƣời lao động và
Nhà nƣớc tạo lập tài chính để phân phối sử dụng nó đảm bảo bù đắp một phần
thu nhập nhất định nào đó cho ngƣời lao động khi có những sự cố bảo hiểm
xuất hiện nhƣ: tai nạn, ốm đau, hƣu trí… Điều đó có nghĩa là mục đích của quỹ

11
BHXH là lấy một phần thu nhập trong thời gian lao động bình thƣờng để giành
bảo đảm cho cuộc sống trong những ngày không lao động không có thu nhập.
-Việc phân phối sử dụng quỹ BHXH đƣợc chia làm hai phần:
+ Phần thực hiện chế độ hƣu trí mang tính chất bồi hoàn. Mức bồi hoàn
phụ thuộc vao mức đóng góp vào quỹ BHXH.
+ Các chế độ còn lại vừa mang tính chất bồi hoàn, vừa mang tính chất
không bồi hoàn. Nghĩa là khi ngƣời lao động trong quá trình lao động không
bị ốm đau, tai nạn thì không đƣợc bồi hoàn; khi bị ốm đau, tai nạn thi đƣợc
bồi hoàn. Mức bồi hoàn phụ thuộc vao mức độ ốm đau, tai nạn va theo quy
định trong điều lệ BHXH hiện hành.
- Sự tồn tại và phát triển của quỹ BHXH phụ thuộc vao điều kiện phát
triển kinh tế, xa hội của xã hội loài ngƣời nói chung, của từng nƣớc nói riêng.
Việc vận dụng va thực hiện các chế độ BHXH do tổ chức quốc tế về lao động
quy định hoàn toàn phụ thuộc vao điều kiện kinh tế xã hội của từng nƣớc, để
vừa ổn định đời sống của ngƣời lao động, vừa ổn định phát triển kinh tế xã
hội của đất nƣớc [7], [8].
1.1.4. Vai trò của BHXH.
a. Đối với đời sống kinh tế - xã hội
BHXH hoạt động theo nguyên tắc "cộng đồng - lấy số đông bù cho số
ít" tức là dùng số tiền đóng góp nhỏ của số đông ngƣời tham gia BHXH để bù
đắp, chia sẻ cho một số ít ngƣời với số tiền lớn hơn so với số đóng góp của
từng ngƣời, khi họ gặp phải những biến cố rủi ro gây tổn thất.
Hoạt động BHXH là một loại hoạt động dịch vụ công, mang tính xã hội
cao; lấy hiệu quả xã hội làm mục tiêu hoạt động. Hoạt động BHXH là quá

sức mình để nâng cao năng suất lao động.
c. Đối với tổ chức sử dụng lao động
BHXH ngoài việc mang lại các lợi ích thiết thực cho NLĐ, nó còn giúp
cho các tổ chức SDLĐ ổn định hoạt động sản xuất kinh doanh. Thông qua
việc phân phối các chi phí cho NLĐ một cách hợp lý. Bởi vì, nếu không có

13
BHXH, ngƣời SDLĐ sẽ trả tiền BHXH cùng tiền lƣơng hàng tháng cho NLĐ
để họ tự quản lý và sử dụng nguồn tiền vào các mục đích khác nhau, không
phải lúc nào cũng mang lại hiệu quả nhƣ mong đợi. Đặc biệt, khi NLĐ không
may bị ốm đau, tai nạn lao động… không có khoản tiền tiết kiệm, dự phòng
để chi dùng cuộc sống của họ bị ảnh hƣởng dẫn đến chất lƣợng lao động cũng
bị ảnh hƣởng theo. Vì vậy, qua việc phân phối chi phí cho NLĐ hợp lý,
BHXH góp phần làm cho quá trình sản xuất kinh doanh đƣợc ổn định, hoạt
động liên tục và hiệu quả, tăng cƣờng mối quan hệ bền chắc giữa các thành
viên trong quan hệ lao động.
Mặt khác, BHXH tạo điều kiện để ngƣời SDLĐ có trách nhiệm với
NLĐ trong suốt cuộc đời NLĐ cho những đóng góp của họ đối với doanh
nghiệp, làm cho quan hệ lao động giữa chủ SDLĐ với NLĐ có tính nhân văn
sâu sắc hơn.
Bên cạnh đó, BHXH còn giúp đơn vị SDLĐ ổn định nguồn chi ngay cả
khi có rủi ro không đáng có xảy ra. Nhờ đó mà các khoản chi phí đƣợc chủ
động hạch toán, giúp doanh nghiệp chủ động hơn trong sản xuất kinh doanh
mà không bị phụ thuộc quá nhiều vào hoàn cảnh khách quan. Tuy nhiên,
chính vì những lợi ích mà BHXH mang lại cho đơn vị SDLĐ không phải là
những lợi ích trực tiếp nên nhiều doanh nghiệp, đơn vị SDLĐ chƣa thực sự
coi trọng và có nhận thức đúng đắn về vai trò của BHXH.
d. Đối với xã hội
BHXH đƣợc xem nhƣ một công cụ phân phối, sử dụng nguồn quỹ dự
phòng hiệu quả nhất cho việc giảm hậu quả rủi ro, tạo động lực phát triển

các cơ quan BHXH từ TW đến địa phƣơng cùng với sự phối kết hợp của các
ban ngành chức năng trên cơ sở quy định của pháp luật về thực hiện chính
sách BHXH nhằm tạo ra nguồn tài chính tập trung từ việc đóng góp của các
bên tham gia BHXH. Đồng thời tránh đƣợc tình trạng nợ đọng BHXH từ các
cơ quan đơn vị, từ ngƣời tham gia BHXH. Qua đó, đảm bảo sự công bằng
trong việc thực hiện và triển khai chính sách BHXH nói chung và giữa những
ngƣời tham gia BHXH nói riêng.

15
- Công tác thu BHXH bắt buộc vừa đảm bảo cho quỹ đƣợc tập trung
về một mối, vừa đóng vai trò nhƣ một công cụ thanh kiểm tra số lƣợng ngƣời
tham gia BHXH biến đổi ở từng khối lao động, cơ quan, đơn vị ở từng địa
phƣơng hoặc trên phạm vi toàn quốc. Bởi vậy, công tác thu BHXH bắt buộc
cũng đòi hỏi phải đƣợc tổ chức tập trung, thống nhất có sự ràng buộc chặt chẽ
từ trên xuống dƣới, đảm bảo an toàn tuyệt đối về tài chính, đảm bảo độ chính
xác trong ghi chép kết quả đóng BHXH của từng cơ quan, đơn vị cũng nhƣ
của từng NLĐ. Hơn nữa, hoạt động thu BHXH bắt buộc là hoạt động liên
quan đến quyền lợi và nghĩa vụ của NLĐ và có tính kế thừa, số thu BHXH
một phần dựa trên số lƣợng ngƣời tham gia BHXH để tạo lập nên quỹ BHXH.
Cho nên nghiệp vụ của công tác thu BHXH có một vai trò hết sức quan trọng
và rất cần thiết trong việc thực hiện chính sách BHXH. Bởi đây là khâu đầu
tiên giúp cho chính sách BHXH thực hiện đƣợc các chức năng của mình.
- Hoạt động của công tác thu BHXH bắt buộc hiện tại ảnh hƣởng trực
tiếp đến công tác chi và quá trình thực hiện chính sách BHXH trong tƣơng lai.
Do BHXH bắt buộc cũng nhƣ các loại hình bảo hiểm khác đều dựa trên cơ sở
nguyên tắc có đóng, có hƣởng đã đặt ra yêu cầu quy định đối với công tác thu
nộp quỹ BHXH. Nếu không có thu BHXH bắt buộc thì quỹ không có nguồn
để chi trả cho các chế độ BHXH cho NLĐ. Vậy hoạt động thu BHXH bắt
buộc ảnh hƣởng trực tiếp đến công tác chi và quá trình thực hiện chính sách
BHXH. Do đó, thực hiện công tác thu BHXH bắt buộc đóng một vai trò quyết

+ Hợp đồng với doanh nghiệp Việt Nam trúng thầu, nhận thầu công
trình ở nƣớc ngoài;
+ Hợp đồng cá nhân.
- Đối với quân nhân, công an nhân dân và ngƣời làm công tác cơ yếu
hƣởng lƣơng nhƣ đối với quân nhân, công an nhân dân, đƣợc quy định tại
Nghị định số 68/2007/NĐ - CP ngày 19/4/2007 nhƣ sau:
+ NLĐ thuộc diện hƣởng lƣơng, bao gồm:
 Sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp quân đội nhân dân;

17
 Sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp và sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên
môn kỹ thuật công an nhân dân;
 Ngƣời làm công tác cơ yếu hƣởng lƣơng nhƣ đối với quân nhân,
công an nhân dân.
+ NLĐ thuộc diện hƣởng trợ cấp, bao gồm:
 Hạ sĩ quan, binh sĩ quân đội nhân dân;
 Hạ sĩ quan, chiến sĩ công an nhân dân.
* Đơn vị sử dụng lao động tham gia BHXH bắt buộc cho người lao
động.
- Doanh nghiệp thành lập, hoạt động theo Luật Doanh nghiệp;
- Các công ty Nhà nƣớc thành lập theo Luật Doanh nghiệp Nhà nƣớc
đang trong thời gian chuyển đổi thành công ty Cổ phần hoặc công ty Trách
nhiệm hữu hạn theo Luật Doanh nghiệp;
- Cơ quan Nhà nƣớc, đơn vị sự nghiệp của Nhà nƣớc;
- Tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội -
nghề nghiệp, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội khác;
- Tổ chức, đơn vị hoạt động theo quy định của pháp luật;
- Cơ sở ngoài công lập hoạt động trong các lĩnh vực: giáo dục - đào tạo,
y tế, văn hoá, thể dục thể thao, khoa học và công nghệ, môi trƣờng, xã hội,
dân số, gia đình, bảo vệ chăm sóc trẻ em và các ngành sự nghiệp khác;


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status