Giải pháp nâng cao chất lượng tíndụng trung dài hạn tại chi nhánhngân hàng đầu tư và phát triển thành phố hà nội - Pdf 22

LUẬN VĂN:
Giải pháp nâng cao chất lượng
tín
dụng trung dài hạn tại chi
nhánh
ngân hàng đầu tư và phát
triển
thành phố hà nội
LỜI MỞ ĐẦU
1. Sự cần thiết của đề tài:
Đối với bất kì một quốc gia nào, nhu cầu về vốn nói chung và vốn trung, dài hạn
nói riêng cho đầu tư phát triển kinh tế là rất cần thiết. Vì vậy trong nền kinh tế tín dụng
trung, dài hạn có vai trò đặc biệt quan trọng như: đối với doanh nghiệp, tín dụng trung, dài
hạn đáp ứng nhu cầu về vốn để cải tiến công nghệ, kỹ thuật, mở rộng sản xuất - kinh
doanh, trên giác độ toàn bộ nền kinh tế tín dụng trung, dài hạn là công cụ thực hiện công
nghiệp hoá - hiện đại hoá thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội. Và trong hoạt động kinh
doanh của các ngân hàng thương mại (NHTM) thì hoạt động tín dụng nói chung hay hoạt
động tín dụng trung, dài hạn là một trong những hoạt động mang lại thu nhập lớn cho ngân
hàng. Tuy vậy, hoạt động tín dụng trung, dài hạn là một hoạt động tiềm ẩn nhiều rủi ro, khi
xảy ra rủi ro thì tổn thất là rất lớn (do các khoản tín dụng trung, dài hạn thường có thời hạn
dài, giá trị lớn), thực tế trong những năm vừa qua đã có những vụ đổ bể tín dụng làm thất
thoát hàng nghìn tỷ đồng. Vấn đề nâng cao chất lượng tín dụng đặc biệt là chất lượng tín
dụng trung, dài hạn trở thành mối quan tâm hàng đầu của các NHTM.
Do vậy, việc tìm ra giải pháp nhằm nâng cao chất lượng tín dụng trung, dài hạn có ý
nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn. Qua thời gian đi thực tập tại Chi nhánh Ngân
hàng Đầu tư và Phát triển Thành phố Hà Nội, , nhận thức tầm quan trọng của vấn đề này,
tôi chọn đề tài:
“GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG TRUNG, DÀI HẠN
TẠI CHI NHÁNH NGÂN HÀNG ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN THÀNH PHỐ HÀ
NỘI”.
2. Mục tiêu, phạm vi nghiên cứu:

nhất về qui mô tài sản, thị phần và số lượng các ngân hàng. Cùng với sự phát triển mạnh
mẽ của tình hình kinh tế thế giới và tình hình kinh tế trong nước, hệ thống NHTM ngày
càng chiếm vị trí quan trọng và trở thành bộ phận không thể thiếu đối với nền kinh tế của
bất cứ một quốc gia nào.
Ngân hàng thương mại là một tổ chức kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng mà
hoạt động chủ yếu và thường xuyên là nhận tiền gửi của khách hàng với trách nhiệm hoàn
trả và sử dụng số tiền này để cấp tín dụng và cung ứng các dịch vụ thanh toán”.
Ngân hàng thương mại thường có các hoạt động cơ bản sau:
- Hoạt động huy động vốn:
Huy động vốn – là hoạt động quan trọng của các NHTM, trên cơ sở nguồn vốn huy
động được thì ngân hàng mới có kế hoạch triển khai tình hình kinh doanh của mình, ảnh
hưởng rất nhiều tới chất lượng hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Vốn huy động của
NHTM bao gồm nội tệ, ngoại tệ được hình thành chủ yếu từ: nhận tiền gửi, huy động vốn
thông qua phát hành trái phiếu, kỳ phiếu, vay của NHNN, vay của các tổ chức tín dụng
khác ở trong và ngoài nước… Đồng thời, ngân hàng có thể tự lập nguồn vốn của mình
bằng cách phát hành cổ phiếu (đối với các ngân hàng cổ phần), lập các quĩ từ lãi thu được.
Với số tiền có được từ huy động vốn, ngân hàng sẽ tiến hành hoạt động tín dụng
(trong đó hoạt động cho vay chiếm tỷ trọng cao) và đầu tư để đem lại thu nhập cho ngân
hàng.
- Hoạt động tín dụng và đầu tư
+ Hoạt động tín dụng (chủ yếu là hoạt động cho vay): là hoạt động chủ yếu của các
NHTM trong việc sử dụng vốn của ngân hàng để tiến hành cho vay với các thành phần
kinh tế với các thời hạn khác nhau nhằm các mục đích khác nhau như: bổ sung vốn lưu
động hoặc là để đáp ứng nhu cầu mua sắm tài sản cố định… đáp ứng các nhu cầu của sản
xuất kinh doanh hay chỉ là nhu cầu tiêu dùng của cá nhân.
+ Hoạt động đầu tư: ngân hàng sẽ sử dụng nguồn vốn của mình để thực hiện đầu tư
trực tiếp, kinh doanh chứng khoán…
Đây là nguồn mang lại lợi nhuận lớn nhất cho các NHTM nhưng hoạt động này
luôn tiềm ẩn nhiều rủi ro ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của ngân hàng.
- Các hoạt động nhằm cung cấp dịch vụ cho khách hàng:

lẽ đó nên nhiều khi nhắc đến tín dụng ngân hàng thì được hiểu là hoạt động cho vay.
Quan hệ tín dụng ngân hàng có những đặc trưng sau:
- Tín dụng ngân hàng là quan hệ giao dịch giữa một bên là ngân hàng và một bên là
các thành phần còn lại của nền kinh tế bao gồm: Nhà nước, tổ chức kinh tế xã hội, cá
nhân… Tài sản giao dịch trong quan hệ tín dụng bao gồm 2 hình thức cho vay (bằng tiền),
cho thuê (máy móc, thiết bị, bất động sản…).
- Quan hệ tín dụng xuất phát từ nguyên tắc hoàn trả, người đi vay chỉ được sử dụng
trong một thời gian nhất định, sau khi hết hạn sử dụng người đi vay phải hoàn trả cho
người vay, do đó khi ngân hàng xem xét việc cho vay thì yếu tố quan trọng nhất trong
quản lý tín dụng đó là xem xét khả năng trả nợ của khách hàng vay (dựa trên uy tín của
khách hàng, tình hình tài chính của người vay, dự án đầu tư có hiệu quả của khách hàng,
tài sản đảm bảo…).
- Nguyên tắc trong quan hệ tín dụng là giá trị hoàn trả thông thường phải lớn hơn
giá trị lúc cho vay, tức là người đi vay phải trả thêm một phần lãi ngoài phần gốc có trách
nhiệm hoàn trả. Phần lãi này được ngân hàng xác định dựa trên lãi suất cho vay, thông
thường ngân hàng phải xác định một mức lãi suất danh nghĩa cao hơn tỉ lệ lạm phát để
đảm bảo có được mức lãi suất thực dương.
1.1.3 Phân loại tín dụng
Tín dụng là loại tài sản chiếm tỷ trọng lớn nhất (thường chiếm khoản 70%) ở phần
lớn các NHTM và là hoạt động cơ bản của NHTM. Đối với loại tài sản này có thể được
phân chia theo nhiều tiêu thức khác nhau.
- Phân chia theo thời gian: tín dụng được chia thành tín dụng ngắn hạn, trung hạn,
dài hạn. Đây là một trong những cách phân chia phổ biến vì thời gian nó có liên quan mật
thiết tới tính an toàn, sinh lợi của ngân hàng và khả năng hoàn trả của khách hàng.
+ Tín dụng ngắn hạn: nhằm tài trợ cho tài sản lưu động hoặc nhu cầu sử dụng vốn
ngắn hạn của Nhà nước, doanh nghiệp, hộ sản xuất (thời gian từ 12 tháng trở xuống). Ngân
hàng có thể áp dụng cho vay trực tiếp hoặc gián tiếp, cho vay theo món hoặc theo hạn
mức, có hoặc không có đảm bảo.
+ Tín dụng trung hạn: thông thường qui định là từ trên 1 năm – 5 năm (có ngân
hàng qui định là từ trên 1 năm – 7 năm), thường tài trợ cho các tài sản cố định như máy

không thực hiện đúng nghĩa vụ như đã cam kết. Bảo lãnh thường có 3 bên: bên bảo lãnh
(ngân hàng), bên được bảo lãnh (khách hàng của ngân hàng), bên hưởng bảo lãnh (bên thứ
ba).
- Phân loại theo mức độ tín nhiệm với khách hàng:
+ Cho vay không có bảo đảm: đây là hình thức cho vay tín chấp, thường áp dụng
với những khách hàng có uy tín, làm ăn hiệu quả, không xảy ra tình trạng nợ nần dây dưa,
hoặc món vay tương đối nhỏ so với vốn của người vay hay các khoản cho vay theo chỉ thị
của Nhà nước không cần tài sản đảm bảo.
+ Cho vay có bảo đảm: đó là các khoản cho vay đối với các khách hàng có tài sản
cầm cố hoặc thế chấp, hay có bảo lãnh của người thứ ba.
Ngoài ra còn một số cách phân loại khác như: phân loại theo rủi ro, theo ngành kinh
tế, theo mục đích, theo đối tượng tín dụng (tài sản lưu động, tài sản cố định).
Với cách phân loại theo thời gian là phù hợp với nội dung nghiên cứu của đề tài,
sang phần sau đề tài sẽ tập trung nghiên cứu vào tín dụng trung, dài hạn và chất lượng tín
dụng trung, dài hạn.
1.2. NHỮNG VẤN ĐỀ VỀ CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG TRUNG, DÀI HẠN CỦA
NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.2.1 Khái quát về tín dụng trung, dài hạn
1.2.1.1 Khái niệm, đặc trưng của tín dụng trung, dài hạn
Quan điểm tín dụng trung, dài hạn rất khác nhau ở các nước trên thế giới. Ở Việt
Nam, người ta quan niệm tín dụng trung, dài hạn là những khoản cho vay có thời hạn trên
1 năm:
- Tín dụng trung hạn: từ trên 1 năm đến 5 năm tài trợ cho các tài sản cố định như
phương tiện vận tải, một số cây trồng vật nuôi, trang thiết bị (thường hao mòn nhanh).
- Tín dụng dài hạn: tài trợ cho các công trình xây dựng như nhà, cầu, đường, sân
bay, máy móc thiết bi có giá trị lớn, hao mòn lâu.
Nguồn vốn trung, dài hạn là nguồn vốn quan trọng có thể đáp ứng các nhu cầu sau
của các chủ thể:
+ Đối với doanh nghiệp: đáp ứng nhu cầu mua sắm tài sản cố định của doanh
nghiệp, gồm cả đầu tư chiều rộng và đầu tư chiều sâu. Đầu tư chiều rộng để xây dựng

như nguồn khấu hao lấy từ các tài sản hiện có khác của doanh nghiệp) do vậy doanh
nghiệp không thể giả nợ ngân hàng trong một thời gian ngắn được.
Chính vì đặc trưng này đòi hỏi ngân hàng phải có sự thẩm định kỹ càng vì dự án
kéo dài lâu (thời gian hoàn vốn chậm), trong thời gian kéo dài như vậy khả năng gặp phải
các rủi ro là rất lớn.
Thứ ba, lãi suất tín dụng trung, dài hạn thường cao hơn so với lãi suất ngắn hạn.
Như chúng ta đã biết thì lãi suất của một khoản vay phụ thuộc vào mức lãi suất chung của
thị trường, rủi ro của khoản vay đó, chi phí của ngân hàng, thời hạn cho vay… trong khi
đó các hoạt động của doanh nghiệp và quá trình sử dụng vốn vay luôn bị chịu ảnh hưởng
của các nhân tố trực tiếp, gián tiếp như chính trị, kinh tế, xã hội, các yếu tố tự nhiên, ngay
cả những yếu tố xuất phát từ nội bộ doanh nghiệp. Do vậy khi thời gian cho vay bị kéo dài
thì việc tác động của các nhân tố trên tới tình hình của doanh nghiệp ngày càng nhiều và
nếu không có phương án dự phòng thì khả năng xảy ra rủi ro và tổn thất là rất lớn. Đồng
thời với khả năng xảy ra những rủi ro như vậy thì ngân hàng sẽ phải tốn nhiều nhân lực,
các nguồn lực vật chất khác để thẩm định dự án để tiến hành cho vay và ngân hàng sẽ phải
bỏ nhiều chi phí hơn cho việc kiểm tra, giám sát doanh nghiệp trong việc sử dụng vốn vay
trong một thời gian dài của các khoản tín dụng trung, dài hạn. Vì lẽ đó lãi suất của tín dụng
trung, dài hạn thường cao. Tuy vậy ngân hàng cần có một lãi suất hợp lí để tạo điều kiện
cho doanh nghiệp có thể vay được vốn và ngân hàng cũng có lợi nếu mức lãi suất mà quá
cao thì sẽ ảnh hưởng đến chi phí của doanh nghiệp, doanh nghiệp sẽ làm ăn không hiệu
quả do chi phí cao và doanh nghiệp không trả được nợ ngân hàng điều này sẽ gây ra tổn
thất lớn cho ngân hàng.
1.2.1.2 Vai trò của tín dụng trung, dài hạn trong nền kinh tế thị trường
Xem xét vai trò của tín dụng trung, dài hạn đối với khách hàng (chủ yếu là các
doanh nghiệp), ngân hàng, và trên giác độ toàn bộ nền kinh tế.
- Đối với khách hàng:
Đối tượng chính của tín dụng trung, dài hạn chủ yếu là các doanh nghiệp. Các
doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển thì đều cần có vốn để sản xuất, và hiện nay thì các
doanh nghiệp đều phải tự thân vận động để tìm vốn ngay cả các doanh nghiệp Nhà nước
cùng không thể trông chờ vào nguồn vốn ngân sách như trước. Kênh tín dụng ngân hàng là

đã biết khách hàng đến vay trung, dài hạn (xét với các doanh nghiệp) chủ yếu là để mua
sắm trang thiết bị, máy móc, phương tiện vận tải hay là xây dựng mới mở rộng nhà xưởng
(tăng năng lực sản xuất) khi đó việc sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp sẽ tăng lên kéo
theo đó nhu cầu của khách hàng về vốn lưu động, thêm vào đó là đã có mối quan hệ với
ngân hàng từ trước do đó khi có nhu cầu về vốn ngắn hạn họ sẽ tìm đến ngân hàng để vay.
- Đối với toàn bộ nền kinh tế
Đất nước ta đi lên nền kinh tế thị trường bắt đầu từ một nền sản xuất chủ yếu là
nông nghiệp với xuất phát điểm thấp cơ sở vật chất: máy móc, cơ sở hạ tầng… yếu kém
lạc hậu Trong điều kiện nước ta đang tiến hành quá trình công nghiệp hoá hiện đại hoá
phát triển đất nước để theo kịp các nước phát triển, thì nhu cầu về vốn là rất lớn đặc biệt là
các khoản vốn trung, dài hạn. Do vậy, các NHTM có một vai trò quan trọng trong việc
cung cấp tín dụng trung, dài hạn cho nền kinh tế.
+ Tín dụng trung, dài hạn góp phần thúc đẩy quá trình tích tụ và tập trung vốn trong
nền kinh tế. Ngân hàng thông qua vai trò trung gian tài chính đã thực sự là một cầu nối
giữa những người có tiền muốn cho vay với những người thiếu vốn cần vay để thoả mãn
được nhu cầu sản xuất kinh doanh và các chi tiêu. Chính nhờ quá trình này đã góp phần
làm giảm gánh nặng cho ngân sách, ngân sách Nhà nước không phải thực hiện việc bao
cấp nhiều như trước kia. Ngân sách chỉ được sử dụng vào việc đầu tư cơ sở hạ tầng (đường
xá, cầu cống, điện, nước…), đầu tư vào các công trình, hoạt động công ích hoặc vào một
số ngành kinh tế trọng yếu còn lại hầu hết các doanh nghiệp đều phải tự thân vận động để
tìm vốn, trong đó kênh tín dụng của ngân hàng là một trong những quan tâm hàng đầu của
các doanh nghiệp.
+ Đầu tư vào những ngành then chốt, thúc đẩy sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo
hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá, mở rộng sản xuất, tăng năng lực sản xuất của nền
kinh tế.
Sự phát triển của các ngành kinh tế then chốt chính là yếu tố tạo sự bình ổn, tự chủ
về kinh tế của mỗi quốc gia và cũng là nền tảng vững chắc để đẩy mạnh các ngành kinh tế
mũi nhọn đạt được những ưu thế nhất định trên thị trường thế giới, tạo thế liên hoàn thúc
đẩy, hỗ trợ, lôi cuốn các ngành kinh tế cùng nhau phát triển toàn diện. Theo chiến lược
công nghiệp hoá là phải tăng tỷ trọng sản xuất công nghiệp trong nền kinh tế đồng thời gắn

mục tiêu quan tâm hàng đầu của ngân hàng.
Có nhiều phương pháp để phân tích tài chính dự án, để đánh giá hiệu quả tài chính
của dự án có thể phân tích thông qua các chỉ tiêu sau: NPV, IRR, thời gian hoàn vốn, tỷ
suất thu nhập bình quân… Bên cạnh việc lựa chọn chỉ tiêu đánh giá thích hợp, ngân hàng
đặc biệt quan tâm tới thời gian và các nguồn dùng để trả nợ ngân hàng. Do vậy, ngân hàng
luôn phân tích tài chính người vay kết hợp với phân tích dự án. Một doanh nghiệp có tình
hình tài chính lành mạnh là cơ sở quan trọng để ngân hàng quyết định cho vay thực hiện
dự án. Các nguồn thu khác của người vay có thể sẽ trở thành nguồn trả nợ cho ngân hàng
bên cạnh nguồn thu của dự án.
- Cho vay hợp vốn:
Cho vay hợp vốn là việc cho vay thực hiện bởi từ hai tổ chức cho vay trở lên để cho
vay một dự án đầu tư với những điều kiện và điều khoản tương đương: sử dụng hồ sơ
chung và quản lí bởi đầu mối chung. Có 2 loại:
+ Hợp vốn trực tiếp: với loại nghiệp vụ này sẽ có một số hợp đồng cho vay trong đó
mỗi ngân hàng cho vay sẽ đồng ý cung cấp một khoản vay với cùng các điều kiện và điều
khoản như các ngân hàng cùng tham gia cho vay khác. Mỗi hợp đồng cho vay sẽ độc lập
với các hợp đồng cho vay khác.
+ Hợp vốn gián tiếp: với loại nghiệp vụ này sẽ có một ngân hàng đứng đầu hoặc
nhiều ngân hàng cùng đứng đầu các ngân hàng này sẽ đứng ra ký hợp đồng cho vay tạm
(như là một bảng ghi nhớ) đối với khách hàng vay tiềm năng: các ngân hàng này sau đó sẽ
tiếp xúc với các ngân hàng khác để mời họ cùng tham gia góp vốn theo một tỉ lệ trong
khoản vay hợp vốn.
Hình thức này thường được áp dụng trong trường hợp dựa án đầu tư đòi hỏi một số
vốn vay quá lớn và một ngân hàng không thể đáp ứng được (vì giới hạn cho vay tối đa với
một khách hàng là 15% vốn tự có) hay như một dự án đầu tư mà ngân hàng thấy phức tạp,
tiềm ẩn rủi ro cao và khi đó các ngân hàng luôn muốn phối hợp thực hiện với nhau để san
sẻ rủi ro.
- Cho thuê tài chính:
Hoạt động chủ yếu của ngân hàng thương mại là cho vay để khách hàng mua tài
sản. Tuy vậy trong nhiều trường hợp khách hàng không đủ hay chưa đủ điều kiện để vay

+ Cho thuê tài chính giúp ngân hàng mở rộng hoạt động tín dụng của mình, mở
rộng khả năng kinh doanh, tăng thu nhập, tạo ra vị thế cạnh tranh trên thị trường.
+ Cho thuê tài chính giúp cho các doanh nghiệp nhỏ hay mới thành lập chưa đủ uy
tín dụng thì vẫn có thể có tài sản theo ý muốn để sản xuất, và nó cũng giúp doanh nghiệp
sử dụng hiệu quả hơn nguồn vốn của mình vẫn có tài sản để sử dụng mà không cần bỏ vốn
ra để mua tài sản, tránh ứ đọng vốn.
+ Việc giao dịch để cho thuê tài chính thì các thủ tục cũng đơn giản hơn so với các
hợp đồng tín dụng.
+ Việc cho thuê tài chính đảm bảo khoản vay được sử dụng đúng đối tượng vì nó
gắn với tài sản cụ thể (theo mục đích của bên đi thuê) và trong trường hợp khách hàng thuê
không trả được tiền thuê thì ngân hàng có thể thu hồi tài sản điều này giảm bớt rủi ro cho
ngân hàng vì không thu hồi được vốn.
- Cho vay tiêu dùng
Ngân hàng cho vay tiêu dùng nhằm thoả mãn nhu cầu của những người tiêu dùng
đối với các hàng hoá lâu bền như: nhà cửa, phương tiện vận chuyển, và một số các hình
thức khác như cho vay du lịch, du học…
Trước sự cạnh tranh ngày càng gay gắt giữa các ngân hàng, các tổ chức tín dụng
khác, và việc nhiều doanh nghiệp đã phát hành trái phiếu, cổ phiếu để huy động vốn chính
vì vậy làm hoạt động cho vay của các ngân hàng đối với các doanh nghiệp bị suy giảm
chính vi vây các ngân hàng đã phải tính đến phương án cho vay tiêu dùng. Và việc cho vay
này cũng phù hợp với nhu cầu của xã hội ngày một phát triển: đó là những người tiêu dùng
có thu nhập đều đặn để trả nợ ngân hàng. Một số tầng lớp người tiêu dùng có thu nhập khá
cao tương đối ổn định. Vay tiêu dùng giúp họ nâng cao mức sống tăng khả năng được đào
tạo… giúp họ tìm kiếm những công việc có mức thu nhập cao hơn về sau.
Phương thức cho vay: ngân hàng có thể cho vay trực tiếp với người mua (người tiêu
dùng trả tiền vốn vay và lãi cho ngân hàng thường là dưới hình thức trả góp) hoặc thông
qua tài trợ cho các doanh nghiệp bán lẻ hàng lâu bền, các công ty xây dựng để các doanh
nghiệp này bán hàng trả góp. Ngân hàng có thể tài trợ (hoặc đồng tài trợ) toàn bộ hoặc một
phần giá trị hàng hoá.
Cho vay tiêu dùng thường có thời hạn dài, rủi ro cao vì nếu người vay bị ốm chết

triển của ngân hàng, đồng thời đóng góp vào sự tăng trưởng, phát triển chung của xã hội.
Như vậy, chất lượng tín dụng trung, dài hạn là việc đáp ứng được nhu cầu vay vốn
trung dài hạn của khách hàng, đảm bảo cho sự tồn tại và phát triển của ngân hàng, đồng
thời phù hợp với sự phát triển kinh tế xã hội.
Đối với khách hàng, chất lượng tín dụng trung, dài hạn thể hiện là khoản tín dụng có
phù hợp với nhu cầu của khách hàng hay không, xét trên các mặt: qui mô, lãi suất, kỳ hạn,
thủ tục vay, phương thức giải ngân, thu nợ…
Đối với ngân hàng, chất lượng tín dụng trung, dài hạn thể hiện là sự phản ánh hiệu
quả hoạt động tín dụng trung, dài hạn của ngân hàng thương mại có hiệu quả hay không
trên phương diện an toàn, sinh lợi của ngân hàng do hoạt động tín dụng trung, dài hạn
mang lại.
Đối với toàn bộ nền kinh tế - xã hội, chất lượng của hoạt động tín dụng trung, dài
hạn thể hiện là sự đóng góp vào sự phát triển chung của kinh tế xã hội như: góp phần tích
tụ tập trung vốn trong nền kinh tế, góp phần giải quyết công ăn việc làm, thúc đẩy sản xuất
kinh doanh lưu thông hàng hóa, giảm gánh nặng cho ngân sách…
Vì vậy, chúng ta cần căn cứ vào khái niệm chất lượng tín dụng để đánh giá hoạt
động tín dụng, nghĩa là cần đánh giá chất lượng tín dụng trung, dài hạn dưới giác độ khách
hàng, ngân hàng, kinh tế - xã hội.
1.2.2.2 Đánh giá chất lượng tín dụng trung, dài hạn
a) Dưới giác độ khách hàng
Khách hàng là những người sử dụng sản phẩm tín dụng của ngân hàng, khách hàng
(doanh nghiệp, cá nhân trong nền kinh tế) khi thiếu vốn để sản xuất, kinh doanh, đầu tư họ
sẽ tìm đến các NHTM để vay vốn. Trong điều kiện cạnh tranh gay gắt giữa các ngân hàng
như hiện nay, nếu ngân hàng nào mà có thủ tục vay rườm rà, lã suất vay cao thì sẽ rất khó
giữ được khách hàng. Vì vậy, đối với khách hàng khi xem xét chất lượng tín dụng thì họ
xem xét các yếu tố như về lãi suất (gắn với chi phí của khách hàng), thời hạn vay, qui mô,
thủ tục vay, phương thức giải ngân, thu nợ của khoản tín dụng có đáp ứng được nhu cầu
của họ không. Cụ thể như sau:
- Khách hàng nhận được khoản vay với lãi suất phù hợp, khoản vốn đó đáp ứng đầy
đủ, kịp thời, đúng hạn theo đúng nhu cầu về vốn của khách hàng.

phần hoàn thiện dự án, phương án đầu tư của khách hàng, đem lại lợi ích cho cả hai bên.
Như chúng ta đã biết khi một khách hàng (doanh nghiệp) đến vay vốn thì họ sẽ phải trình
bày phương án đầu tư, kế hoạch sản xuất kinh doanh, dự án cho ngân hàng, sau đó ngân
hàng sẽ tiến hành thẩm định để xét duyệt cho vay vốn, trong quá trình đó nếu ngân hàng
thấy có những điểm trong dự án chưa được hợp lí thì ngân hàng có thể tư vấn cho khách
hàng điều chỉnh lại dự án cho hợp lí thay vì từ chối cấp tín dụng. Và khi trong quá trình thi
công dự án ngân hàng cùng với doanh nghiệp tháo gỡ những vướng mắc phát sinh. Nếu
làm tốt được điều này doanh nghiệp thực hiện dự án có hiệu quả hơn và ngân hàng cũng
tránh được rủi ro do khách hàng không trả được nợ, chất lượng các khoản tín dụng dược
nâng cao.
- Quá trình theo dõi, giám sát đối với các khoản tín dụng cấp cho khách hàng. Ngân
hàng sau khi cho vay vốn, sẽ tiến hành theo dõi, giám sát khách hàng có đầu tư vốn đúng
mục đích như các phương án đã trình bày với ngân hàng hay không, kê hoạch trả nợ ngân
hàng của khách hàng có đúng kì trả nợ hay không, tiến độ thi công công trình của khách
hàng ra sao… nếu thực hiện tốt điều này sẽ góp phần giảm thiểu rủi ro từ các khoản tín
dụng, chất lượng tín dụng sẽ được nâng cao.
* Đánh giá về mặt định lượng: ngân hàng sẽ đánh giá chất lượng các khoản tín
dụng trung, dài hạn trên một số chỉ tiêu như sau:
- Lượng vốn trung, dài hạn huy động được, tỷ trọng vốn huy động trung, dài hạn
trong tổng nguồn vốn huy động được trong 1 thời kỳ (thường là 1 năm).
Vốn huy động trung, dài hạn
Tỷ trọng huy động vốn trung dài hạn
=
Tổng nguồn vốn huy động
Thông qua chỉ tiêu này, ta biết được lượng vốn trung, dài hạn huy động được là bao
nhiêu và tỷ trọng của nó trong tổng nguồn vốn huy động. Nếu chỉ tiêu này cao chứng tỏ
lượng vốn huy động trung, dài hạn của ngân hàng là cao và sẽ có điều kiện để mở rộng cho
vay trung, dài hạn, khả năng lựa chọn các dự án có hiệu quả, nâng cao chất lượng tín dụng.
Tuy vậy, việc huy động vốn trung, dài hạn có chi phí rất cao do vậy ngân hàng phải là sao
sử dụng thật tốt nguồn vốn này nếu không sẽ ảnh hưởng đến thu nhập của ngân hàng.

Khả năng cấp tín dụng trung, dài hạn
=
Dư nợ tín dụng trung, dài hạn
Chỉ tiêu này cho biết vốn huy động trung, dài hạn đáp ứng được bao nhiêu % nhu
cầu tín dụng trung, dài hạn của ngân hàng. Nhìn chung chỉ tiêu này càng gần 1 là tốt cho
thấy việc ngân hàng sử dụng tốt nguồn vốn trung, dài hạn để cho vay. Nếu chỉ tiêu này
càng lớn hơn 1 thì cho thấy ngân hàng huy động được nhiều vốn trung, dài hạn hơn so với
nhu cầu và ngân hàng đã sử dụng vốn dài hạn cho vay ngắn hạn chứng tỏ sử dụng vốn lãng
phí, nếu chỉ tiêu này càng nhỏ hơn 1 chứng tỏ ngân hàng đã không huy động được vốn
trung, dài hạn để đáp ứng nhu cầu cho vay và phải sử dụng vốn ngắn hạn để cho vay, khi
đó ảnh hưởng rất nhiều đến khả năng thanh khoản. Cả 2 trường hợp trên đều không hiệu
quả và ảnh hưởng đến khả năng an toàn, sinh lợi của ngân hàng, chất lượng hoạt động tín
dụng trung, dài hạn thấp.
- Chỉ tiêu nợ quá hạn, nợ quá hạn / tổng dư nợ tín dụng (đã loại trừ nợ khoanh và
cho vay uỷ thác)
Theo quyết định số 493/2005/QĐ-NHNN, nợ quá hạn là khoản nợ mà một phần
hoặc toàn bộ nợ gốc và/hoặc lãi đã quá hạn. Đối với hoạt động tín dụng trung, dài hạn, sử
dụng chỉ tiêu nợ quá hạn trung, dài hạn và nợ quá hạn trung, dài hạn / tổng dư nợ tín dụng
trung, dài hạn.
Đây là chỉ tiêu quan trọng để đánh giá chất lượng của khoản tín dụng trung, dài hạn.
Khi đến hạn trả nợ ngân hàng (bao gồm gốc và lãi), nếu khách hàng không trả được nợ và
khoản nợ không được cơ cấu lại thời hạn trả nợ (điều chỉnh kì hạn trả nợ hoặc gia hạn nợ
cho khách hàng) thì ngân hàng sẽ chuyển khoản vay đó sang nợ quá hạn. Các khoản nợ quá
hạn là điều mà các ngân hàng đều không mong muốn và luôn tìm mọi cách để hạ tỉ lệ nợ
quá hạn tới mức thấp nhất.
Tuy vậy, theo các quan điểm khác nhau các cách tính toán khác nhau về kì hạn nợ
và nợ quá hạn có thể làm các chỉ tiêu này bị biến dạng.
Thứ nhất, do định kì hạn nợ không đúng
Các cán bộ tín dụng khi cho vay không quan tâm thích đáng đến chu kì kinh doanh
của người vay, hoặc là họ sử dụng nguồn ngắn hạn là chủ yếu và họ đặt kì hạn ngắn để hạn

Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ quá hạn từ 90 ngày đến 180 ngày theo thời hạn đã
cơ cấu lại.
Các khoản nợ khác được phân vào nhóm 4 theo qui định tại khoản 3, 4 điều này.
• Nhóm 5: bao gồm
Các khoản nợ quá hạn trên 360 ngày.
Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ quá hạn trên 180 ngày theo thời hạn đã cơ cấu lại.
Các khoản nợ khác được phân vào nhóm 5 theo qui định tại khoản 3, 4 điều này.
( Khoản 3: Trường hợp một khách hàng có nhiều hơn một khoản nợ với tổ chức tín dụng
(TCTD) mà có bất kỳ khoản nợ bị chuyển sang nhóm nợ rủi ro cao hơn thì TCTD bắt buộc
phải phân loại các khoản nợ còn lại của khách hàng đó vào các nhóm nợ rủi ro cao hơn
tương ứng với mức độ rủi ro.
Khoản 4: Trường hợp các khoản nợ (kể cả khoản nợ trong hạn và các khoản nợ cơ cấu lại
thời hạn trả nợ trong hạn theo thời hạn cơ cấu lại) mà TCTD có đủ cơ sở để đánh giá là khả
năng trả nợ của khách hàng bị suy giảm thì TCTD chủ động tự quyết định phân loại các
khoản nợ đó vào các nhóm nợ có rủi ro cao hơn).
Nếu theo điều 7: (tổ chức tín dụng có đủ khả năng và điều kiện thực hiện phân loại
nợ theo phương pháp định tính, căn cứ trên hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ)
• Nhóm 3 (nợ dưới tiêu chuẩn): bao gồm các khoản nợ được tổ chức tín dụng đánh giá
là không có khả năng thu hồi nợ gốc và lãi khi đến hạn. Các khoản nợ này được tổ chức tín
dụng đánh giá là có khả năng tổn thất một phần nợ gốc và lãi.
• Nhóm 4 (nợ nghi ngờ) bao gồm: các khoản nợ được tổ chức tín dụng đánh giá là khả
năng tổn thất cao.
• Nhóm 5 (nợ có khả năng mất vốn) bao gồm: các khoản nợ được tổ chức tín dụng
đánh giá là không còn khả năng thu hồi, mất vốn.
Các ngân hàng đều muốn hạ thấp tỉ lệ này, nếu chỉ tiêu này cao thì chất lượng tín
dụng của ngân hàng là thấp.
Ngoài các chỉ tiêu trên còn có một số chỉ tiêu khác để đánh giá chất lượng hoạt
động tín dụng trung, dài hạn như:
- Chỉ tiêu nợ quá hạn khó đòi trung, dài hạn / tổng dư nợ trung, dài hạn
(Nợ quá hạn khó đòi: là các khoản nợ quá hạn đã quá một kì gia hạn nợ)

Trích đoạn Nâng cao chất lượng thẩm định tín dụng 58 Thực hiện chính sách lãi suất linh hoạt 61 Đa dạng hoá các loại hình tín dụng trung, dài hạn 62 Chú trọng nâng cao chất lượng cán bộ tín dụng 64 Tăng cường công tác kiểm tra, kiểm soát nội bộ 66
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status