Giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng ngắn hạn tại chi nhánh NHCT Chương Dương - Pdf 89

LỜI NÓI ĐẦU

Cùng với sự nghiệp đổi mới đất nước, hệ thống các ngân hàng thương mại
(NHTM) ở Việt Nam đã có những bước phát triển vượt bậc, lớn mạnh về mọi mặt,
kể cả số lượng, qui mô và chất lượng. Trong những năm qua, hoạt động ngân hàng
nước ta đã góp phần tích cực huy động vốn, mở rộng vốn đầu tư cho lĩnh vực sản
xuất phát triển. Như vậy hệ thống ngân hàng thương mại thực sự là ngành tiên
phong trong quá trình đổi mới cơ chế kinh tế, đóng góp to lớn vào công cuộc công
nghiệp hóa, hiện đại hóa nền kinh tế xã hội ở nước ta.
Hiện nay ở nước ta thị trường chứng khoán chưa phải là kênh dẫn vốn
hiệu quả và chủ yếu, vậy nên vốn đầu tư cho hoạt động sản xuất kinh doanh
của nền kinh tế vẫn phải dựa chủ yếu vào nguồn vốn tín dụng của hệ thống
ngân hàng thương mại. Các ngân hàng thương mại với lợi thế về mạng lưới,
đối tượng khách hàng của các ngân hàng thương mại không phải chỉ là các
công ty, doanh nghiệp mà còn có thành phần tư nhân hộ gia đình. Một mặt
họ là những người cho ngân hàng vay tiền, một mặt họ cũng chính là những
người vay tiền của hệ thống NHTM. Do vậy hệ thống NHTM trở thành
kênh cung ứng vốn hữu hiệu cho nền kinh tế trong gian đoạn hiện nay. Từ
đó vấn đề nghiên cứu chất lượng hoạt động tín dụng thật sự trở thành vấn
đề đang rất được quan tâm.
Do phạm trù nghiên cứu chất lượng tín dụng của hệ thống ngân hàng
rất rộng nên với thời gian và năng lực có hạn, em chỉ tập trung vào nghiên
cứu vấn đề chất lượng tín dụng ngắn hạn. Qua đó tìm hiểu thực trạng,
những kết quả đạt được và những hạn chế tồn tại. Từ đó để tìm ra những
nguyên nhân của hạn chế đó cũng như tìm ra những biện pháp để khắc phục
hạn chế đó.
Sau một thời gian học tập và nghiên cứu cùng với việc được xem xét,
tìm hiểu, quan sát tình hình thực tế tại Chi nhánh NHCT khu vực Chương
Dương trong thời gian thực tập vừa qua. Đặc biệt với sự giúp đỡ, tạo điều
Trang 1
kiện của ban lãnh đạo ngân hàng, các cô chú, anh chị ở các phòng ban đã

nhuận. Vay mượn không chỉ đơn thuần là tiền mà còn là các máy móc thiết
bị, tư liệu sản xuất... Từ đó lãi suất không còn do người cho vay đơn
phương áp đặt nữa mà phải có sự thỏa thuận giữa người vay và người cho
vay.
Từ đó ta có thể hiểu tín dụng là quan hệ vay mượn dựa trên nguyên tắc
hoàn trả. Đó là quan hệ giữa hai bên trong đó một bên chu cấp tiền hay
hàng hóa, dịch vụ cho bên kia và bên kia cam kết sẽ thanh toán lại trong
tương lai gồm cả khoản nợ gốc và khoản lãi.
Cùng với sự phát triển của sản xuất và hàng hóa, tín dụng ngày càng có
những phát triển cả về nội dung và hình thức. Và hình thái phát triển cao
nhất là tín dụng ngân hàng.
Trang 3
Tín dụng ngân hàng là một quan hệ vay mượn dựa trên nguyên tác
hoàn trả (cả vốn và lãi) sau một thời gian nhất định.
Tín dụng ngân hàng đã thực sự mở rộng các mối quan hệ, thay thế
quan hệ giữa các cá nhân với nhau bằng mối quan hệ giữa các cá nhân với
tổ chức, giữa các tổ chức với nhau và cao nhất là quan hệ tín dụng quốc tế.
Tuy tín dụng ngân hàng là hình thức phát triển cao của quan hệ tín
dụng nhưng nó vẫn giữ nguyên được những bản chất ban đầu của quan hệ
tín dụng. Vẫn là quan hệ vay mượn lẫn nhau theo nguyên tắc có hoàn trả cả
gốc và lãi vào một thời gian nhất định trong tương lai nhưng trong đó một
bên là ngân hàng thương mại và một bên là các cá nhân, các tổ chức kinh
tế, tổ chức chính trị xã hội hay là tổ chức tín dụng hoặc ngân hàng thương
mại khác.
1.1.2. Đặc điểm của tín dụng ngắn hạn ngân hàng thương mại.
Tín dụng ngân hàng là một hình thức phát triển cao của tín dụng. Nó
cơ bản giữ được những bản chất chung của tín dụng, ngoài ra còn có một số
đặc điểm sau:
Rủi ro tín dụng ngắn hạn thấp. Do khoản vay chỉ cung cấp trong thời
gian ngắn vì vậy ít chịu ảnh hưởng của sự biến động không thể lường trước

quá trình phát triển của thị trường, hoạt động tín dụng ngày càng được mở
rộng và phát triển đa dạng với sự tham gia của nhiều thành phần kinh tế. Do
đó quan hệ tín dụng cũng được mở rộng cả về đối tượng và quy mô làm cho
hoạt động tín dụng của NHTM càng trở nên khó khăn. Để hệ thống ngân
hàng thương mại thể tồn tại và đứng vững trong điều kiện cạnh tranh ngày
càng gay gắt cũng như để phục vụ tốt hơn cho nền kinh tế thì các NHTM
phải nâng cao chất lượng các khoản tín dụng.
1.2.1. Khái niệm về chất lượng tín dụng ngắn hạn.
Trang 5
Ở phần trên ta đã có khái niệm chung về “Tín dụng ngân hàng thương
mại”. Căn cứ vào thời hạn của khoản tín dụng- kể từ khi cấp tín dụng đến
thời điểm hoàn trả ta có thể chia thành hai hình thức tín dụng. Đó là tín
dụng ngắn hạn và tín dụng trung, dài hạn. Do khả năng và thời gian có hạn
nên trong bản Đề án tốt nghiệp này em chỉ đề cập đến vấn đề “Tín dụng
ngắn hạn”.
Ở mỗi quốc gia, thời hạn để xác định khoản tín dụng ngắn hạn là khác
nhau. Ở Mĩ người ta quan niệm những khoản tín dụng ngắn hạn là những
khoản cho vay có thời hạn dưới 3 năm. Nhưng ở Việt Nam, theo Quyết định
số 324 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam tín dụng ngắn hạn là
hình thức mà tổ chức tín dụng cho khách hàng vay ngắn hạn nhằm đáp ứng
nhu cầu vốn cho sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và đời sống. Thời hạn đối
với tín dụng ngắn hạn được tổ chức tín dụng khách hàng thoả thuận tối đa
là 12 tháng, được xác định phù hợp với chu kỳ sản xuất, kinh doanh và khả
năng trả nợ của khách hàng.
Từ đó ta có thể hiểu chất lượng tín dụng ngắn hạn là sự đáp ứng yêu
cầu trước mắt (thường là một năm) của khách hàng phù hợp với sự phát
triển kinh tế xã hội và đảm bảo sự tồn tại, phát triển của NHTM. Để có
được chất lượng tín dụng thì hoạt động tín dụng ngắn hạn này phải có hiệu
quả và quan hệ tín dụng phải được thiết lập trên cơ sở sự tin cậy và uy tín.
Trang 6

ngân hàng thương mại trong nền kinh tế thị trường.
Trong nền kinh tế thị trường thì hoạt động tín dụng là kênh dẫn vốn chủ
yếu để thúc đẩy tiến trình phát triển của cả xã hội. Với đòi hỏi nền kinh tế
xã hội phát triển ngày càng mạnh mẽ thì vấn đề chất lượng tín dụng nói
chung và chất lượng tín dụng ngắn hạn nói riêng luôn và sẽ dành được sự
quan tâm lớn.
1.2.2.1. Đối với nền kinh tế xã hội:
Tín dụng ngắn hạn và nền kinh tế xã hội có mối quan hệ mật thiết hai
chiều. Tín dụng ngắn hạn góp phần làm lành mạnh hóa nền kinh tế xã hội,
tạo điều kiện cho kinh tế xã hội phát triển, ngược lại để hoạt động tín dụng
ngắn hạn có chất lượng thì đỏi hỏi nền kinh tế xã hội phải ổn định, phải có
cơ chế phù hợp, có sự phối hợp nhịp nhàng và hiệu quả giữa các cấp các
ngành.
- Chất lượng tín dụng ngắn hạn được bảo đảm và nâng cao là điều
kiện cho Ngân hàng làm tốt vai trò trung gian tín dụng- cầu nối giữa tiết
kiệm và đầu tư- trong nền kinh tế, Từ đó điều hoà nguồn vốn cho đầu tư
ngắn hạn hợp lý, làm xã hội bớt được lãng phí ở những nơi thừa vốn, giảm
được khó khăn cho những nơi thiếu vốn.
- Chất lượng tín dụng ngắn hạn được nâng cao cũng sẽ tạo điều kiện để
NHTM làm tốt vai trò trung tâm thanh toán của nền kinh tế thị trường. Vì
khi chất lượng tăng lên nghĩa là các khoản tín dụng được thực hiện đúng
theo thời hạn, do đó số vòng quay của vốn tín dụng tăng lên với một lượng
tiền trong lưu thông là không đổi. Góp phần mở rộng hình thức thanh toán
không dùng tiền mặt. Qua đó tiết kiệm chi phí phát hành tiền.
- Tín dụng là một trong những công cụ để Đảng và Nhà nước thực hiện
các chủ trương chính sách về phát triển kinh tế xã hội theo ngành, lĩnh vực.
Nhờ chất lượng tín dụng nâng cao nghĩa là sự phân tích, đánh giá khả năng
phát triển của các đối tượng để ra các quyết định đầu tư đúng đắn để khai
Trang 8
thác khả năng tiềm tàng của tài nguyên, lao động, đảm bảo cho sự chuyển

- Nâng cao chất lượng tín dụng tức là tăng khả năng quay vòng vốn tín
dụng, qua đó mở rộng được các hình thức dịch vụ cung cấp cho khách hàng
cũng như mở rộng quy mô vốn tín dụng cho một khách hàng. Như vậy
không những duy trì được mối quan hệ với nhũng khách hàng truyển thống
mà còn mở rộng, thu hút thêm những khách hàng mới. Đó cũng là cách để
các ngân hàng thương mại mở rộng thị trường, nâng cao được lợi nhuận.
- Chất lượng tín dụng nâng cao sẽ giảm được chi phí nghiệp vụ, chi phí
quản lý, và đặc biệt là giảm được những chi phí, thiệt hại rất lớn do không
thu hồi được khoản tín dụng. Như vậy sẽ gia tăng khả năng sinh lời của các
sản phẩm, dịch vụ mà ngân hàng cung cấp cho khách hàng. Tăng được lợi
nhuận cho hệ thống ngân hàng thương mại.
Qua những phân tích trên ta thấy nâng cao chất lượng tín dụng có ý
nghĩa thật to lớn. Đối với ngân hàng thì đó là vì sự tồn tại, phát triển. Với
khách hàng thì đó là khả năng mở rộng sản xuất. Xét trên tầm vĩ mô thì
nâng cao chất lượng tín dụng là để đảm bảo cho nền kinh tế xã hội luôn
phát triển ổn đinh. Với sự phát triển và sản xuất lưu thông hàng hoá ngày
càng tăng, hoạt động tín dụng cần phải được phát triển tới mức độ nào đó
sao cho phù hợp, nhằm đáp ứng được những nhu cầu giao dịch cũng ngày
càng tăng trong xã hội. Vì thế, việc nâng cao chất lượng tín dụng không
những luôn được coi là chiến lược hàng đầu của các ngân hàng thương mại
mà còn của các nhà chức trách về kinh tế xã hội.
1.3. Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng ngắn hạn ngân
hàng thương mại.
Qua những vấn đề được phân tích ở trên, ta thấy rõ sự cần thiết của
việc củng cố tăng cường nâng cao chất lượng tín dụng ngắn hạn của các
Ngân hàng Thương mại vì sự tồn tại cũng như sự phát triển lâu dài của hệ
thống Ngân hàng Thương mại nói riêng và cho nền kinh tế xã hội nói
chung. Để thực hiện tốt công việc này, việc đi sâu phân tích, đánh giá để
Trang 10
thấy rõ được những nhân tố chủ yếu có ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng

ngắn hạn: Hầu hết các quốc gia, đặc biệt là các quốc gia kém phát triển đều
gặp khó khắn về vốn để đầu tư phát triển kinh tế. Do vậy thường phải sử
dụng “Vốn nước ngoài” để bù đắp. Nhưng việc huy động quá mức vốn nước
ngoài sẽ làm mất cân đối tổng cung và tổng cầu trong nền kinh tế, gây sức
ép về lạm phát cho nền kinh tế, ảnh hưởng tới chất lượng tín dụng ngắn
hạn.
- Nhân tố Chu kỳ phát triển kinh tế cũng tác động lớn tới chất lượng tín
dụng ngắn hạn. Trong thời kỳ kinh tế hưng thịnh, sản xuất kinh doanh sẽ
được mở rộng, dẫn đến nhu cầu về vốn tăng, giảm bớt những rủi ro tín
dụng, từ đó hiệu quả tín dụng ngắn hạn cũng tăng lên. Tuy nhiên điều gì sẽ
xảy đến với chất lượng tín dụng ngắn hạn nếu các ngân hàng thương mại
cạnh tranh mở rộng khách hàng. Khi đó để dành các khách hàng về phía
mình các ngân hàng thường phải hạ thấp yêu cầu với khách hàng khi họ có
nhu cầu cấp tín dụng, đây chính là nguyên nhân khiến cho các khoản tín
dụng ngắn hạn gặp nhiều rủi ro hơn, chất lượng tín dụng ngắn hạn qua đó
cũng giảm xuống.
Khi nền kinh tế rơi vào khó khăn, khủng hoảng, nền sản xuất bị trì trệ
khiến nhu cầu tín dụng giảm do các doanh nghiệp thấy sẽ thật là mạo hiểm
nếu mở rộng sản xuất bởi nhu cầu tiêu dùng của người dân giảm, sức mua
kém và hàng hóa sẽ bị tồn kho, lợi nhuận giảm hoặc thậm chí doanh nghiệp
có thể bị phá sản bởi không duy trì được sản xuất và không trả được nợ
ngân hàng. Trong khi hoạt động tín dụng gặp nhiều khó khăn, các ngân
hàng vẫn phải trả tiền lãi để huy động nguồn vốn trước đó. Qua đó ta thấy
chất lượng tín dụng ở giai đoạn này thường là thấp.
- Một trong những nhân tố kinh tế có ảnh hưởng tới chất lượng tín dụng
ngắn hạn là sự phù hợp giữa lãi suất huy động ngắn hạn, lãi suất cho vay
ngắn hạn và mức lợi nhuận bình quân của nền kinh tế. Khi mức lợi nhuận
doanh nghiệp giảm xuống hay lãi suất huy động tăng lên sẽ ảnh hưởng tới
hiệu quả tín dụng ngắn hạn của hệ thông ngân hàng thương mại.
Trang 12

Trang 13
Ngoài ra ta cũng có thể xét đến một số nhân tố xã hội khác có ảnh
hưởng tới chất lượng tín dụng ngắn hạn. Đó là trình độ dân trí, sự ổn định
chính trị xã hội của quốc gia, tình hình biến động xã hội chính trị của quốc
tế hay là các yếu tố về môi trường như tình hình thiên tai, dịch bệnh…
* Nhóm nhân tố pháp lý:
Môi trường pháp lý được hiểu là hệ thống luật và văn bản pháp luật có
liên quan đến hoạt động của ngân hàng thương mại nói chung và hoạt động
tín dụng nói riêng. Đồng thời gắn liền với sự chấp hành pháp luật và trình
độ dân trí.
Hệ thống pháp luật sẽ tạo ra môi trường pháp lý lành mạnh cho mọi
hoạt động sản xuất kinh doanh tiến triển thuận lợi đạt hiệu quả cao. Như
vậy để đảm bảo chất lượng tín dụng ngắn hạn cho các ngân hàng thương
mại thì hệ thống pháp luật về tín dụng nói chung và tín dụng ngắn hạn nói
riêng phải được ban hành đầy đủ và đồng bộ.
Sự thay đổi trong các chủ trương, chính sách của nhà nước cũng gây
ảnh hưởng đến các khoản tín dụng. Nhất là về cơ cấu kinh tế, các chính
sách xuất nhập khẩu... bởi nếu có sự thay đổi đột ngột ấy thì sẽ gây xáo
trộn trong sản xuất kinh doanh, tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp, hoặc
phương án kinh doanh sẽ không còn phù hợp... Nếu không kịp thời chuyển
đổi, doanh nghiệp sẽ không sản xuất kinh doanh được và không thể thanh
toán nợ dẫn đến nợ quá hạn, nợ khó đòi của ngân hàng tăng lên.
1.3.2. Nhóm nhân tố bên trong:
Các nhân tố bên trong là những nhân tố thuộc về bản thân ngân hàng
liên quan đến hoạt động tín dụng ngắn hạn. Chúng gồm sáu nhân tố sau:
Chính sách tín dụng ngắn hạn; Công tác tổ chức ngân hàng; Quy trình tín
dụng; Thanh tra, kiểm tra, kiểm soát nội bộ; Thông tin tín dụng; Chất lượng
cán bộ công nhân viên.
1.3.2.1. Chính sách tín dụng ngắn hạn:
Trang 14

Sự phối hợp nhịp nhàng giữa các phòng ban sẽ tạo điều kiện cho việc
quản lý các khoản tín dụng ngắn hạn một cách kịp thời, sát sao. Đây là cơ
sở để tiến hành các nghiệp vụ tín dụng lành mạnh, hiệu quả hơn.
1.3.2.3. Quy trình tín dụng:
Quy trình tín dụng là những quy định cần phải thực hiện trong quá
trình cho vay, thu nợ nhằm bảo đảm an toàn cho vốn tín dung. Nó được bắt
đầu kể từ khi chuẩn bị cho vay, giải ngân, kiểm tra quá trình cho vay và kết
thúc là giai đoạn thu hồi khoản vay. Chất lượng tín dụng tốt hay không là
phụ thuộc vào sự phối hợp nhịp nhàng, chặt chẽ giữa các bước trong quy
trình tín dụng.
Chất lượng tín dụng phụ thuộc rất lớn vào công tác thẩm định tín dụng
trong quy trình tín dụng. Nếu công tác thẩm định dự án đưa ra những kết
luận sai lầm, đó là đồng ý cấp tín dụng cho những khách hàng không có khả
năng hoàn trả lại hoặc có ý định lừa đảo ngân hàng, hay là những quyết
định không đồng ý cấp tín dụng cho những khách hàng có phương án làm
ăn hiệu quả. Như vậy chắc chắn các khoản tín dụng cấp cho khách hàng là
không có hiệu quả.
Sau quá trình giải ngân cho khách hàng, các ngân hàng thương mại đều
liên tục kiểm tra, giám sát tình hình của số tiền đã cấp được sử dụng như
thế nào. Nếu việc giám sát là sát sao thì ngân hàng có thể phát hiện kịp thời
những rủi ro để từ đó đưa ra những điều chỉnh, can thiệp cần thiết. Như vậy
sẽ nâng cao chất lượng hoạt động tín dụng.
Một ngân hàng muốn tồn tại thì ngoài việc thu được các khoản lãi thì
điều quan trọng hơn là phải thu về đầy đủ khoản nợ gốc. Nếu ngân hàng có
những biện pháp xử lý nợ chính xác, nhanh chóng sẽ giảm thiểu những rủi
ro có thể xảy ra và hạn chế đến mức thấp nhất thiệt hại khi rủi ro tín dụng
xảy đến, qua đó chất lượng tín dụng ngắn hạn sẽ nâng cao.
1.3.2.4. Thanh tra, kiểm tra, kiểm soát nội bộ:
Trang 16
Kiểm soát nội bộ là một trong những nghiệp vụ giúp cho ngân hàng

Ngoài ra nâng cao chất lượng nhân sự thì mới có thể sử dụng những phương
tiện hiện đại, phù hợp với sự phát triển nghiệp vụ ngân hàng trong cơ chế
thị trường.
Như vậy nâng cao chất lượng cán bộ công nhân viên là nhân tố bảo
đảm cho chất lượng hoạt động tín dụng.
Như vậy, nhờ việc phân tích các nhân tố ảnh hưởng tới chất lượng tín
dụng ngắn hạn ta thấy: tùy vào từng điều kiện cụ thể mà các nhân tố trên có
những ảnh hưởng khác nhau tới chất lượng tín dụng ngắn hạn. Do đó việc
nâng cao chất lượng tín dụng nói chung và tín dụng ngắn hạn nói riêng là
phải giải quyết đồng bộ các nhân tố trên. Tuy nhiện, tùy vào tình hình mà ta
có thể nhấn mạnh hơn vào nhân tố nào đó.
Trang 18
1.4. Quản lý chất lượng tín dụng ngắn hạn của các Ngân hàng Thương
mại.
1.4.1. Mục đích, yêu cầu quản lý:
Như ta đã biết, tín dụng nói chung và tín dụng ngắn hạn nói riêng là
nghiệp vụ đem lại lợi nhuận chủ yếu cho hệ thống ngân hàng thương mại.
Do vậy mục tiêu của việc nâng cao chất lượng tín dụng ngắn hạn là khả
năng mang lại lợi nhuận cao nhất của các khoản tín dụng ngắn hạn trong
giới hạn rủi ro cho phép.
Yêu cầu:
Trong quản lý chất lượng tín dụng ngắn hạn của các ngân hàng thương
mại ta có thể đưa ra ba yêu cầu chủ yếu sau.
- Giảm thiểu rủi ro đối với các khoản cho vay: Để phòng ngừa rủi ro,
các ngân hàng thương mại chỉ đồng ý cấp tín dụng ngắn hạn cho khách
hàng trên nguyên tắc phân tán rủi ro, dự đoán được tình hình tài chính và ý
chí trả nợ của khách hàng trong tương lai.
- Đảm bảo tính lành mạnh của khoản tín dụng ngắn hạn: Điều này có
nghĩa là không cấp tín dụng ngắn hạn giúp cho khách hàng làm giàu bất
chính. Yêu cầu đảm bảo tính lành mạnh của khoản tín dụng ngắn hạn liên

đoạn thi công các công trình xây dựng.
+ Cho vay nông nghiệp: Nhằm hỗ trợ nông dân trong giai đoạn gieo
trồng, bảo quản sản phẩm.
+ Cho vay các tổ chức tín dụng:
+ Cho vay khác: Bao gồm các hình thức như kinh doanh chứng khoán…
Căn cứ vào đảm bảo tiền vay: Tín dụng ngắn hạn chia thành tín
dụng có bảo đảm và tín dụng không có bảo đảm.
- Tín dụng có bảo đảm: Lí do chủ yếu đòi hỏi một khoản tín dụng ngắn
hạn được đảm bảo là nhằm tạo điều kiện cho ngân hàng giảm bớt rủi ro mất
Trang 20
vốn.Tín dụng ngắn hạn có đảm bảo được chia thành các dạng cầm cố, thế
chấp, bảo lãnh bằng tài sản của người thứ ba, đảm bảo bằng tài sản được
hình thành từ vốn vay.
- Tín dụng không có đảm bảo: Tín dụng ngắn hạn không có đảm bảo
được dựa trên tính liêm khiết và tình hình tài chính của người vay, lợi tức
có thể có trong tương lai và tình hình trả nợ trước đây. Tn dụng ngắn hạn
không có đảm bảo được chia thành tín chấp, bảo lãnh bằng tín chấp của bên
thứ ba.
Căn cứ vào đồng tiền cho vay: Tín dụng ngắn hạn bao gồm cho vay
bằng đồng nội tệ và cho vay bằng đồng ngoại tệ.
Căn cứ vào phương pháp cho vay: Tín dụng ngắn hạn được chia
thành tín dụng từng lần, tín dụng theo hạn mức.
Căn cứ vào tính chất của việc cấp vốn: Cho vay ngắn hạn gồm cho
vay thế vốn và cho vay ứng vốn.
- Cho vay thế vốn: Việc cho vay làm thay đổi hình thái vốn của khách
hàng sang tiền, như chiết khấu, bao thanh toán.
- Cho vay ứng vốn: Việc cho vay mang tính chất cấp thêm vốn cho
khách hàng như bổ sung vốn lưu động.
Căn cứ vào đối tượng sử dụng vốn vay: Tín dụng ngắn hạn chia
thành tín dụng trực tiếp và tín dụng gián tiếp.

Nếu ngân hàng có quy trình quản lý tín dụng ngắn hạn đúng đắn thì chắc chắn
mục tiêu chất lượng tín dụng ngắn hạn sẽ được đảm bảo.
Kết luận
Việc sử dụng đồng bộ các biện pháp quản lý tín dụng ngắn hạn trên sẽ giúp cho
ngân hàng giảm thiểu được rủi ro tín dụng, đảm bảo an toàn vốn. Do vậy chất lượng
tín dụng ngắn hạn sẽ được bảo đảm. Đây chính là mục tiêu hàng đầu của các ngân
hàng thương mại hiện nay.
Trang 22
Chương II
THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG NGẮN
HẠN TẠI CHI NHÁNH NGÂN HÀNG CÔNG THƯƠNG KHU VỰC
CHƯƠNG DƯƠNG
2.1. Giới thiệu chi nhánh ngân hàng công thương khu vực Chương
Dương.
2.1.1. Quá trình phát triển.
Theo quyết định 53 Hội Đồng Bộ Trưởng về việc thành lập hệ thống
Ngân hàng thương mại quốc doanh tháng 7 năm 1988. Hệ thống Ngân Hàng
Công Thương (NHCT) Việt Nam được thành lập trên toàn quốc.
Tháng 8 năm 1988 Ngân hàng Nhà Nước huyện Gia Lâm được tách
thành NHCT Chương Dương và Ngân hàng Nông nghiệp & Phát triển nông
thôn Châu Quỳ.
Trang 23
Ngân hàng Công thương Chương Dương có trụ sở tại số 32 Ngõ 289
đường Ngọc Lâm Quận Long Biên, Hà Nội. Nằm trên địa bàn tập trung
nhiều cơ sở sản xuất công nghiệp, các hoạt động thương mại dịch vụ cũng
khá phát triển, mức sống dân cư cao so với mặt bằng chung của cả nước.
Là chi nhánh của NHCT Việt Nam nên chi nhánh NHCT Chương
Dương là đơn vị hạch toán phụ thuộc. Theo điều 30 của điều lệ về tổ chức
và hoạt động của NHCT Việt Nam thì chi nhánh NHCT Chương Dương là
đại diện uỷ quyền của NHCT, có quyền tự chủ kinh doanh theo phân cấp

- Cao đẳng: 14 người
- Trung cấp và chứng chỉ nghiệp vụ Ngân hàng: 22 người
- Sơ cấp, chưa đào tạo: 11 người.
SƠ ĐỒ TỔ CHỨC BỘ MÁY CHI NHÁNH NHCT KHU VỰC
CHƯƠNG DƯƠNG
Trang 25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status