1
mục lục Trang Đặt vấn đề Nội dung chuyên đề Phần thứ nhất
một số vấn đề lý luận chung về ngân sách Nhà nớc I. Khái niệm về NSNN và chính sách tài khoá.
II. Bản chất, chức năng và vai trò của NSNN nói chung, của Hà
Giang nói riêng trong sự nghiệp phát triển kinh tế -xã hội .
III. Quan điểm của Đảng và Nhà nớc ta về chính sách động
viên tài chính nói chung và thuế nói riêng cho ngân sách
Nhà nớc. Phần thứ hai
tình hình về tự nhiên- kinh tế-xã hội và thc trạng
công tác quản lý sử dụng NSNN tỉnh hà giang
2
đặt vấn đề
1. Sự cần thiết của đề tài.
Trong hệ thống tài chính của mỗi quốc gia thì NSNN có vị trí
quan trọng đặc biệt, nó giữ vai trò chủ đạo trong hệ thống tài chính và có
ý nghĩa quyết định trong quá trình phát triển của nền kinh tế quốc dân.
Trong công cuộc đổi mới toàn diện của đất nớc, thực hiện CNH,
HĐH đất nớc, phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần vận
hành theo cơ chế thị trờng có sự quản lý của Nhà nớc theo định hớng
xã hội chủ nghĩa thì đòi hỏi có khối lợng vốn vô cùng lớn và phát triển
bền vững. Muốn vậy phải có chính sách tài chính quốc gia tiên tiến phù
hợp, trong đó NSNN là một tong những công cụ quan trọng nhất. Thông
qua công cụ NSNN thực hiện phân phối lần đầu và phân phối lại thu nhập
quốc dân, nhờ đó tập trung một phần quan trọng thu nhập quốc dân vào
NSNN, đảm bảo nguồn vốn cho tái sản xuất mở rộng của nền kinh tế.
NSNN là công cụ để thực hiện tích luỹ và tập trung vốn, phân phối
và sử dụng vốn cho quá trình CNH, HĐH đất nớc, xây dựng cơ sở vật
chất kỹ thuật cho chủ nghĩa xã hội, từng bớc làm thay đổi cơ cấu nền
kinh tế theo hớng đi lên nền sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa.
NSNN giữ vai trò quyết định trong việc thực hiện các mục tiêu
chiến lợc phát triển kinh tế - xã hội, các kế hoạch phát triển kinh tế - xã
hội, các cân đối lớn trong nền kinh tế quốc dân. NSNN còn cung cấp
kinh phí cho hoạt động của các lĩnh vực không sản xuất vật chất, duy trì
hoạt động của bộ máy Nhà nớc, giữ ổn định tình hình kinh tế - xã hội,
phấn đấu xây dựng một nền kinh tế phát triển theo hớng CNH, HĐH.
Vì vậy cần phải nhận thức đầy đủ, đúng đắn vị trí, vai trò của
NSNN, trên cơ sở đó tiến hành đổi mới các hoạt động của NSNN cho phù
hợp với điều kiện nền kinh tế thị trờng hiện nay, nhằm đảm bảo nguồn
vốn đáp ứng cho sự nghiệp xây dựng và phát triển kinh tế - xã hội của đất nớc.
của tỉnh Hà Giang tốt hơn trong thời gian tới.
- Phơng pháp của đề tài:
Đề tài này thuộc thể loại nghị luận kinh tế - xã hội. Do đó, trong
quá trình nghiên cứu và thể hiện, luận văn coi trọng phơng pháp luận
duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin, đồng
4
thời bám sát vào quan điểm đờng lối của Đảng, chính sách của Nhà
nớc trong lĩnh vực của đề tài nêu ra.
Để thể hiện đề tài, luận văn còn sử dụng tổng hợp phơng pháp
phân tích, thống kê, tổng hợp từ tình hình và các số liệu của thực tiễn, để
từ đó rút ra những nhận xét có căn cứ. Luận văn còn coi trọng tính kế
thừa có chọn lọc thành quả của những công trình, những tác giả đã
nghiên cứu vấn đề này.
- Phạm vi của đề tài:
Vấn đề quản lý và sử dụng NSNN là một vấn đề rộng lớn, khó
khăn và phức tạp, đặc biệt là đối với những địa phơng nh Hà Giang
nền kinh tế còn ở trình độ thấp và phát triển chậm. Tuy nhiên, trong
khuôn khổ có mức độ của luận văn cử nhân chính trị, đề tài chỉ giới hạn
ở phạm vi nghiên cứu công tác quản lý và sử dụng NSNN ở một địa
phơng - đó là tỉnh Hà Giang. Trong đó tập trung làm rõ thực trạng của
quản lý và sử dụng NSNN của tỉnh và qua đó nêu lên một số giải pháp để
thực hiện quản lý tốt hơn NSNN của tỉnh. Đề tài không đủ điều kiện để
nghiên cứu và thể hiện hết mọi khía cạnh của đề tài nói trên.
3. Bố cục của luận văn.
Ngoài phần đặt vấn đề, kiến nghị và kết luận, nội dung của luận
văn gồm cả 3 phần chính sau đây:
Phần thứ nhất: Một số vấn đề lý luận chung về ngân sách Nhà
nớc (NSNN).
Phần thứ hai: Tình hình cơ bản về tự nhiên - kinh tế - xã hội và
thực trạng công tác quản lý và sử dụng NSNN của tỉnh Hà Giang.
kinh tế - chính trị của Nhà nớc, đợc Nhà nớc tiến hành trên cơ sở
những luật lệ nhất định. Đằng sau những hoạt động thu chi tài chính đó
chứa đựng nội dung kinh tế - xã hội nhất định và chứa đựng các quan hệ
kinh tế, quan hệ lợi ích nhất định. Trong các quan hệ lợi ích đó, lợi ích
quốc gia, lợi ích chung bao giờ cũng đợc đặt lên hàng đầu và chi phối
các mặt lợi ích khác trong thu, chi ngân sách Nhà nớc.
Quá trình thực hiện các chỉ tiêu thu, chi NSNN nhằm hình thành
quỹ tiền tệ tập trung của Nhà nớc và là quá trình phân phối và phối lại
6
giá trị tổng sản phẩm xã hội phục vụ cho việc thực hiện chức năng, nhiệm
vụ của Nhà nớc trên các lĩnh vực, trong từng giai đoạn lịch sử nhất định.
Nh vậy, chúng ta thấy rằng thu, chi của NSNN hoàn toàn không
giống bất kỳ một hình thức thu chi của một loại quỹ nào. Thu của NSNN
phần lớn đều mang tính chất bắt buộc, còn các khoản chi của NSNN lại
mang tính chất không hoàn lại. Đây là đặc trng nổi bật của NSNN trong
bất cứ một Nhà nớc nào. Xuất phát từ quyền lực của Nhà nớc và các
nhu cầu về tài chính để thực hiện chức năng quản lý và điều hành của
Nhà nớc đối với nền kinh tế - xã hội. Do nhu cầu chi tiêu của mình, Nhà
nớc đã sử dụng quyền lực thông qua hệ thống pháp luật tài chính buộc
mọi pháp nhân và thể nhân phải đóng góp một phần thu nhập của mình
cho NSNN, tức là các chủ thể kinh tế thực hiện nghĩa vụ của mình với
Nhà nớc. Sự bắt buộc đó là hoàn toàn khách quan, vì lợi ích của toàn xã
hội chứ không phải phục vụ cho lợi ích riêng của Nhà nớc. Các đối
tợng nộp thuế cũng hoàn toàn ý thức đợc nghĩa vụ của mình trong
việc đảm bảo sự tồn tại và phát triển của Nhà nớc. Họ cũng hiểu đợc
vai trò của Nhà nớc trong việc sử dụng các nguồn lực tài chính nhằm
thực hiện các chức năng kinh tế, xã hội, do nhân dân giao phó. Sự tồn tại
và hoạt động của Nhà nớc chính là yếu tố quyết định tính chất hoạt
động của NSNN, nói lên bản chất của NSNN. Mọi hoạt động của NSNN
đều nhằm vào việc tạo lập và sử dụng các nguồn lực tài chính, nó phản
muốn tạo lập đợc NSNN, trớc hết phải tập hợp các khoản thu theo luật
định, cân đối chi tiêu theo tiêu chuẩn định mức đúng với chính sách hiện
hành. Đó chính là sự huy động các nguồn lực tài chính và đảm bảo nhu
cầu chi tiêu theo kế hoạch của Nhà nớc, thực hiện việc cân đối thu chi
bằng tiền của Nhà nớc.
Chức năng thứ hai của NSNN là giám đốc quá trình huy động các
khoản thu và thực hiện các khoản chi. Thông qua chức năng này, NSNN
kiểm tra, giám sát quá trình động viên các nguồn thu, tránh tình trạng
trốn lậu thuế, chây ỳ nộp thuế của các đối tợng thực hiện nghĩa vụ nộp
NSNN hoặc bị lạm dụng, làm trái pháp luật, coi thờng pháp luật và các
chính sách động viên khác. Trong khâu cấp phát nếu buông lỏng việc
kiểm tra, kiểm soát chi thì dễ dẫn đến tình trạng làm sai luật định và các
chế độ chi quy định. Đồng thời thông qua kiểm tra, kiểm soát hoạt động
thu chi NSNN giúp ta giám sát việc chấp hành các chế độ, chính sách của
Đảng và Nhà nớc. Thông qua đó đánh giá hiệu quả kinh tế và hiệu quả
8
xã hội của vốn NSNN, hiệu quả của các chủ trơng, chính sách, chế độ
do Đảng và Nhà nớc đề ra.
Nh vậy, hai chức năng phân phối và giám đốc luôn có mối quan
hệ mật thiết với nhau, có vị trí và tầm quan trọng nh nhau, không thể
coi chức năng này hơn chức năng kia, mà phải coi trọng cả hai chức năng
ở mọi lúc, mọi nới trong tạo lập và sử dụng vốn NSNN.
b. Các khoản thu huy động vào NSNN và chi NSNN.
* Các khoản thu NSNN.
- Các khoản thu từ thuế, phí, lệ phí.
Đây là các khoản thu bắt buộc thực hiện nghĩa vụ của các doanh
nghiệp, các tổ chức và công dân do những yêu cầu tất yếu về kinh tế -
chính trị - xã hội để bảo đảm các hoạt động của bộ máy Nhà nớc, giữ
vững quốc phòng, an ninh và bảo đảm các sự nghiệp xã hội.
- Các khoản thu từ hoạt động kinh tế của Nhà nớc.
- Các khoản thu khác theo quy định của pháp luật.
* Các khoản chi lấy từ NSNN.
Chi NSNN là một hệ thống các quan hệ rất đa dạng, phức tạp, bao gồm:
- Các khoản chi phát triển kinh tế - xã hội.
- Các khoản chi bảo đảm quốc phòng, an ninh, bảo đảm hoạt động
của bộ máy Nhà nớc.
Đây là những khoản chi bắt buộc trong NSNN của mọi quốc gia
nhằm để giữ vững an ninh tổ quốc, ổn định chính trị - xã hội.
Quy mô khoản chi này tuỳ thuộc vào việc xác định chức năng
nhiệm vụ và tổ chức bộ máy Nhà nớc xuất phát từ tình hình kinh tế -
chính trị - xã hội ở trong nớc và quốc tế. Trên cơ sở xác định quy mô
chi tiêu cần thiết cho lĩnh vực này, tiến hành phân bổ các loại thuế trực
thu và gián thu, thông qua thực thu các sắc thuế mà bảo đảm nguồn lực
tài chính đầy đủ cho nhu cầu này.
- Các khoản chi trả nợ củ Nhà nớc: Tuỳ theo mức độ bội chi của
ngân sách, quy mô và các điều kiện tín dụng Nhà nớc về thời hạn trả nợ
và mức lãi suất mà khoản chi này có tỷ lệ cao hay thấp trong tổng chi
NSNN. ở nớc ta hiện nay, do hậu quả của việc quản lý vốn vay cha
10
tốt, để thất thoát lớn và việc sử dụng hiệu quả thấp, cho nên nợ nớc
ngoài tồn đọng rất lớn, cho nên chi trả nợ nớc ngoài đang là vấn đề căng
thẳng. Khả năng trả nợ thấp, tuy nhiên chúng ta vẫn phải đảm bảo uy tín
trong quan hệ quốc tế. Để giải quyết vấn đề này, chúng ta cần khống chế
nhu cầu chi tiêu trong nớc để dành tiền trả nợ.
Đối với vay từ nguồn trong nớc dới nhiều hình thức, trong đó
chủ yếu là hình thức tín phiếu kho bạc Nhà nớc ngắn hạn và tín phiếu
dài hạn để huy động vốn trong dân vào nhu cầu đầu t. Hớng chủ yếu
của tín dụng Nhà nớc là các khoản vay dài hạn đầu t phát triển kinh tế.
Nhng hình thức này chỉ phát triển trong điều kiện sức mua đồng tiền ổn
định và lãi suất hợp lý đem lại lợi ích ngời cho vay, đồng thời đảm bảo
xã hội. Để đạt đợc mục tiêu đó, chính sách tài khoá cần xử lý nhiều mối
quan hệ, trong đó giải quyết đúng đắn những mâu thuẫn chủ yếu sau đây
là nội dung cốt lõi của chính sách tài khoá:
+ Mâu thuẫn thu - chi NSNN. Đây là mâu thuẫn vốn có của bất kỳ
một quốc gia nào, đặc biệt gay gắt đối với các nớc kém phát triển. Xuất
phát của mâu thuẫn này là do chi tiêu của Nhà nớc lớn, trong khi nguồn
thu bị hạn chế. Vì vậy, cần có những biện pháp tích cực để khống chế
nhu cầu chi của Nhà nớc. Đồng thời tích cực thu đúng, thu đủ, tận dụng
các nguồn thu.
Để thực hiện cân đối thu - chi, cần giữ vững 2 đối cân đối chủ yếu:
Một là, thu từ các loại thuế trực thu và gián thu phải bảo đảm nhu
cầu chi thờng xuyên của bộ máy Nhà nớc, quốc phòng, an ninh...
Hai là, quy mô đầu t phát triển kinh tế - xã hội phải tơng ứng với
tổng số thu từ thực hiện lợi ích kinh tế các tài sản thuộc sở hữu Nhà nớc
và các nguồn lực huy động đợc trong nớc và ngoài nớc thông qua tín
dụng dài hạn.
+ Mâu thuẫn giữa tập trung vào NSNN với tích luỹ trong các cơ sở
kinh doanh. Vì vậy chính sách tài khoá cần giải quyết tốt mâu thuẫn này,
đó là yêu cầu khách quan của phát triển kinh tế - xã hội.
Mâu thuẫn này hiện nay ở nớc ta đang gay gắt, biểu hiện ở chỗ
tốc độ tăng thu vào NSNN năm sau cao hơn năm trớc và lớn hơn nhiều
lần so với tốc độ tăng tổng sản phẩm quốc dân, trong khi tình trạng thất
thu từ thuế còn lớn.
12
+ Mẫu thuẫn giữa tăng trởng kinh tế với việc thực hiện công bằng
xã hội. Nguyên nhân của mâu thuẫn này: từ một mặt NSLĐ xã hội còn
thấp kém, muốn tăng trởng thì phải tích luỹ, do đó tiêu dùng bị hạn chế,
không giải quyết đúng mức những vấn đề xã hội cấp bách. Nếu ngợc lại
thì không đảm bảo thực hiện đợc mục tiêu kinh tế. Mặt khác, do phát
triển kinh tế theo cơ chế thị trờng, sẽ dẫn tới phân hoá giàu nghèo là
ứng nhu cầu chi tiêu của Nhà nớc ngày càng tăng lên.
Mặt khác, một NSNN vững mạnh còn phải thể hiện việc phân phối
và quản lý chi đúng đắn, hợp lý và hiệu quả. Nhà nớc sử dụng khối
lợng tài chính từ nguồn NSNN để chi tiêu vào mục đích phát triển kinh
tế - xã hội và chi tiêu cho sự hoạt động của bộ máy Nhà nớc. Nh vậy,
chức năng của NSNN, ngoài việc động viên nguồn thu thì còn phải thực
hiện quản lý và phân phối chi tiêu sao cho có hiệu quả. Đó cũng là một
tất yếu khách quan.
Từ sự phân tích trên đây, ta có thể hiểu đợc bản chất của NSNN -
đó là hệ thống các mối quan hệ kinh tế giữa Nhà nớc với các thành viên
trong xã hội, phát sinh trong quá trình Nhà nớc huy động và sử dụng
các nguồn lực tài chính nhằm đảm bảo yêu cầu thực hiện trong các chức
năng quản lý và điều hành nền kinh tế - xã hội của Nhà nớc. Hoạt động
của NSNN luôn luôn gắn liền với thực hiện các chức năng của Nhà nớc.
Hai là, chức năng giám đốc quá trình huy động các nguồn thu và
thực hiện các khoản chi tiêu.
Thực hiện chức năng này, Nhà nớc thông qua NSNN để biết đợc
nguồn thu - chi nào là cơ bản của từng thời kỳ, từng giai đoạn và do đó
có những giải pháp để làm tốt thu - chi. Nhà nớc định ra cơ cấu thu- chi
hợp lý ; theo dõi các phát sinh và những nhân tố ảnh hởng đến thu- chi...
Tóm lại, NSNN có hai chức năng cơ bản- chức năng phân phối và
chức năng giám đốc. NSNN không thể cân đối đợc nếu nh không thực
hiện đầy đủ hai chức năng đó, bởi vì: nếu không có sự giám đốc trong
việc động viên khai thác hợp lý các nguồn thu và do đó sẽ dẫn đến tình
trạng thất thu dới nhiều hình thức. Nếu không thực hiện tốt chức năng
phân phối thì cũng không thể động viên đợc nguồn thu cho NSNN.
Chức năng phân phối và chức năng giám đốc của NSNN đều có vị
trí và tầm quan trọng của nó. Do đó, cần phải coi trọng cả hai chức năng
đó và tổ chức chỉ đạo để các cơ quan chức năng thực hiện tốt hai chức
năng đó của NSNN.
chế sự can thiệp và kiểm soát trực tiếp đối với các hoạt động kinh tế, nhất
là các hoạt động sản xuất kinh doanh. Nhà nớc ta với chức năng của
mình là thực hiện quản lý hành chính kinh tế bằng các công cụ pháp luật,
15
kế hoạch hoá và các chính sách do Nhà nớc ban hành tuân theo pháp
luật hiện hành do cơ quan quyền lực cao nhất là Quốc hội ban hành. Đó
chính là sự đổi mới cơ bản về cơ chế quản lý của Nhà nớc ta: từ chỗ
quản lý, điều hành nên kinh tế một cách trực tiếp đến chỗ quản lý và điều
hành mọi hoạt động kinh tế- xã hội thông qua việc tạo mọi điều kiện,
môi trờng, hành lang (trong đó có cả hành lang pháp lý) để cho nền
kinh tế phát triển vừa tuân theo qui lụt kinh tế khách quan, vừa bảo đảm
sự định hớng XHCN, nhằm nhanh chóng đạt đợc các mục tiêu mà
Đảng ta đã đề ra trong các kỳ đại hội.
Trong tất cả các công cụ để quản lý mọi hoạt động kinh tế- xã hội, Nhà
nớc ta hết sức quan tâm đến công cụ NSNN, vì nó là yếu tố vật chất vô cùng
quan trọng trong điều kiện của nền kinh tế thị trờng định hớng XHCN.
Với cơ chế cũ trớc đây, Nhà nớc can thiệp sâu vào hoạt động
kinh tế vi mô. Trong cơ chế mới- cơ chế thị trờng các vấn đề của kinh tế
sẽ đợc giải quyết theo qui luật của thị trờng và các quan hệ cung- cầu.
Nhà nớc chỉ dùng các biện pháp về thuế, các khoản chi ngân sách để
can thiệp nhằm ổn định nên kinh tế và phát triển theo mục tiêu đã định.
Hoạt động của NSNN gắn với hoạt động của nền kinh tế thị
trờng, do đó thu NSNN luôn luôn biến đổi và phụ thuộc vào nhịp độ
phát triển kinh tế và hiệu quả kinh tế. Xu hớng chung là khi nền kinh tế
tăng trởng sẽ làm tăng khả năng tăng khối lợng thu và ngợc lại. Tuy
nhiên, điều cần lu ý ở đây là mức thu NSNN phải gắn với nhịp độ tăng
của nền kinh tế, nếu tận thu quá mức sẽ dẫn tới tình trạng suy thoái do
không kích thích đợc sản xuất và đầu t.
Trong bất kỳ tình huống nào, sức ép chi luôn luôn là gánh nặng
cho NSNN. Đặc biệt là trong giai đoạn đầu khi mà nền kinh tế cha kịp
động trong đời sống xã hội nh: Thông qua chính sách thuế để kích thích
sản xuất đối với những sản phẩm cần thiết cấp bách, đồng thời có thể hạn
chế sản xuất những sản phẩm không cần khuyến khích sản xuất. Hoặc để
hớng dẫn sản xuất và tiêu dùng hợp lý. Thông qua nguồn vốn ngân sách
để thực hiện hình thức trợ cấp giá đối với các hoạt động thuộc chính sách dân
số, chính sách việc làm, chính sách thu nhập, chính sách bảo trợ xã hội v.v...
- Về thị trờng: Thông qua các khoản thu, chi NSNN sẽ góp phần
bình ổn giá cả thị trờng. Ta biết rằng, trong điều kiện kinh tế thị trờng, sự
biến động giá cả đến mức gây ảnh hởng xấu đến sự phát triển nền kinh tế
có nguyên nhân từ sự mất cân đối cung - cầu. Bằng công cụ thuế và dự trữ
Nhà nớc can thiệp đến quan hệ cung - cầu và bình ổn giá cả thị trờng.
17
Hoạt động thu chi NSNN có mối quan hệ chặt chẽ với vấn đề lạm
phát. Lạm phát là căn bệnh nguy hiểm đối với nền kinh tế. Lạm phát xảy
ra khi mức chung của giá cả và chi phí tăng. Để kiềm chế đợc lạm phát
tất yếu phải dùng các biện pháp để hạ thấp giá, hạ thấp chi phí. Bằng
biện pháp giải quyết tốt thu chi NSNN có thể kiềm chế, đẩy lùi đợc lạm
phát, góp phần thúc đẩy kinh tế - xã hội phát triển.
4. Vai trò của NSNN trong việc phát triển kinh tế - xã hội của
tỉnh Hà Giang.
Hà Giang là một tỉnh miền núi biên giới, trình độ dân trí thấp, điều
kiện địa lý phức tạp, giao thông đi lại khó khăn, lại có nhiều dân tộc cùng
chung sống. Sau chiến tranh giải phóng dân tộc, tỉnh Hà Giang còn chịu
hậu quả nặng nề của 10 năm chiến tranh bảo vệ biên giới. Hầu nh các cơ
sở kinh tế đều bị tàn phá nặng nề, đời sống vật chất, tinh thần của đồng
bào các dân tộc hết sức khó khăn. Tháng 10/1991 khi tách tỉnh, kết cấu hạ
tầng hầu nh không có gì. Trong những năm qua đợc sự quan tâm giúp
đỡ của Trung ơng, nhân dân các dân tộc tỉnh Hà Giang đã khắc phục khó
khăn, từng bớc ổn định đời sống, phát triển sản xuất. Đạt đợc những
thành tích đó, ngoài sự lãnh chỉ đạo sát sao của Đảng và Nhà nớc từ
sống xã hội, để họ có sự tin tởng và tự giác thực hiện.
Đối với lĩnh vực thu NSNN: thông qua các hình thức hoạt động thu
NSNN mà đã động viên đợc ngày càng nhiều hơn, tốt hơn nguồn lực tài
chính cho địa phơng. Sự động viên đó, một mặt đảm bảo nguồn thu,
tránh thất thu cho NSNN, nhng đồng thời cũng qua đó thực hiện sự bình
đẳng về quyền và nghĩa vụ đóng góp của nhân dân, của các chủ thể kinh
tế, các TPKT trong tỉnh.
Tóm lại, NSNN có vai trò vô cùng quan trọng trong sự phát triển
kinh tế - xã hội nói chung. Đối với tỉnh Hà Giang thì vai trò NSNN lại
càng đặc biệt quan trọng. Nhờ có nguồn thu NSNN mà đã tạo điều kiện
về nguồn tài chính để đáp ứng nhu cầu xây dựng và phát triển kinh tế -
xã hội, đảm bảo kinh phí chi tiêu cho các hoạt động của bộ máy chính
quyền và các tổ chức Đảng, đoàn thể, các lực lợng vũ trang an ninh...
Tuy nhiên, hiện nay NSNN của tỉnh còn hết sức nhỏ bé, cha đáp
ứng nhu cầu nói trên. Do đó, chúng ta cần phải tiếp tục nghiên cứu để tìm
ra phơng hớng và giải pháp phù hợp, nhằm thực hiện công tác NSNN
tỉnh Hà Giang.
19
Phần thứ hai
Phần thứ haiPhần thứ hai
Phần thứ hai tình hình cơ bản về tự nhiên - kinh tế - xã hội và thực
trạng công tác quản lý, sử dụng NSNN tỉnh hà giang
i. điều kiện tự nhiên - kinh tế - xã hội của tỉnh hà giang.
1. Về điều kiện tự nhiên.
* Vị trí địa lý: Hà Giang là tỉnh miền núi phía Bắc của Việt Nam,
Trong đó:
- Đất nông nghiệp : 106.425,113 ha
20
+ Đất trồng cây hàng năm : 39.817,77 ha
Đất ruộng lúa, mầu : 28.372,09 ha
Đất nơng rẫy : 52.192,03 ha
Đất cây hàng năm khác : 9.353,65 ha
+ Đất vờn tạp : 4.908,20 ha
+ Đất dùng vào chăn nuôi : 1.140,45 ha
+ Đất cây lâu năm : 9.874,87 ha
+ Đất có mặt nớc nuôi thuỷ sản : 683,75 ha
- Đất nông nghiệp : 279.450,7 ha
+ Đất có rừng tự nhiên : 229.587,96 ha
Đất có rừng sản xuất : 34.071,03 ha
Đất có rừng phòng hộ : 177.439,97 ha
Đất có rừng đặc dụng : 17.191,36 ha
+ Đất có rừng trồng : 49.861,09 ha
Đất có rừng sản xuất : 41.030,68 ha
Đất có rừng phòng hộ : 8.793,46 ha
+ Đất cây ơm giống : 1,65 ha
- Đất chuyên dùng : 4.183,33 ha
- Đất ở : 5.973,1 ha
- Đất cha sử dụng : 392.404,74 ha
Đất bằng cha sử dụng : 1.663,77 ha
Đất đồi núi cha sử dụng : 313.165,67 ha
Đất có mặt nớc cha SD : 10,9 ha
Sông suối : 5.500,67 ha
Núi đá không cây : 71.480,88 ha
Đất cha sử dụng khác : 627,9 ha
21
vàng ( có tác dụng tốt phát triển cây công nghiệp ăn quả) ở Vị Xuyên,
Bắc Quang, Thị xã Hà Giang, Xín Mần, Hoàng Su Phì, nhóm đất phù sa
cổ trên cao nguyên Đồng Văn và các huyện vùng cao.
* Tài nguyên khoáng sản: Qua khảo sát điều tra Hà Giang phát
hiện đợc 28 loại khoáng sản khác nhau nh ( Ăngtimon, vàng, chì, kẽm,
sắt, Măngan, thuỷ ngân..., nớc khoáng) với số lợng 149 mỏ và các
điểm quặng. Hiện nay đang tiến hành thăm dò khai thác các loại khoáng
22
sản nh Măngan, Firit, Kẽm, Thiếc, đồng, chì, sắt, vàng, nớc khoáng...
khoáng sản có nhiều triển vọng nếu đợc đầu t thăm dò khai thác thích hợp.
2. Điều kiện kinh tế - xã hội của tỉnh Hà Giang
* Dân số và lao động: Dân số toàn tỉnh tính đến 1/4/1999 có:
60,268 vạn ngời với 22 dân tộc, trong đó 90% là đồng bào dân tộc thiểu
số. Trong đó dân tộc Mông chiếm 31,3%; Tày 26,5%; Dao 15,3%; Kinh
11,8% còn lại các dân tộc ít ngời khác.
Hà Giang có 9 Huyện và 1 thị xã tỉnh lỵ, trong đó có 7 Huyện
vùng cao biên giới thì có 4 huyện đặc biệt khó khăn trong 9 Huyện khó
khăn nhất cả nớc. Hiện nay toàn tỉnh có 128/191 xã thuộc diện xã đặc
biệt khó khăn (vùng III).
* Về sự phân vùng kinh tế:
Xuất phát từ điều kiện, đặc điểm tự nhiên, kinh tế, xã hội tỉnh Hà
Giang hình thành làm 3 vùng kinh tế - xã hội và mỗi vùng có các tiềm
năng thế mạnh khác nhau:
- Vùng cao núi đá gồm 4 huyện phía Bắc là Mèo Vạc, Đồng Văn,
Yên Minh, Quản Bạ. Đây là vùng khó khăn nhất so với cả nớc. Diện tích
toàn vùng này là 2.353 km
2
, độ cao trung bình: 1000 - 1600m; Dân số:
203.027 ngời, khí hậu đất đai phù hợp với trồng cây ôn đới, dợc liệu. Sản
xuất nông nghiệp chủ yếu là trồng ngô một vụ trên đất hốc đá, chăn nuôi là
Thanh Thuỷ rất thuận lợi cho giao lu kinh tế, văn hoá với Trung Quốc,
có điều kiện về xuất nhập khẩu và phát triển thơng mại, dịch vụ...
Đây là vùng thuận lợi nhất của tỉnh, song vẫn là khu vực còn
những khó khăn về đời sống kinh tế - xã hội. Thu nhập bình quân ở mức
100 - 130 USD/ngời/năm. Hầu hết hệ thống thuỷ lợi, kênh mơng cha
đợc kiên cố hoá.
* Thực trạng sản xuất nông, lâm nghiệp của tỉnh trong những năm vừa qua:
- Một số kết quả chung về phát triển kinh tế xã hội của tỉnh:
Thực hiện đờng lối của Đảng và chính sách của Nhà nớc, trong
đó vấn đề quan trọng có tính chiến lợc lầu dài là chủ trơng phát triển
kinh tế nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trờng có sự quản lý
của Nhà nớc theo định hớng XHCN. Trong quá trình xây dựng và phát
triển kinh tế Tỉnh đã phát huy đợc cơ bản các thành phần kinh tế tham
gia trong sản xuất kinh doanh, khẳng định hộ nông dân là một đơn vị tự
chủ trong kinh tế... đồng thời đã thực hiện tốt các chính sách của Đảng
và Nhà nớc nhất là Nghị quyết 22 NQ Trung ơng của Bộ Chính trị, và
Nghị quyết 72CT của Chủ tịch Hội đồng Bộ Trởng về một số chính
sách phát triển kinh tế xã hội miền núi, các Quyết định 327CP về sử
dụng đất trống đồi núi trọc, và các chính sách vay vốn, trợ giá trợ cớc
vận chuyển và đảm bảo các hàng thiết yếu cho miền núi, chơng trình
24
06CP về không trồng thuốc phiện và cai nghiện ma tuý; chơng trình y tế
và giáo dục VHXH đã trực tiếp thúc đẩy kinh tế xã hội ở địa phơng.
Về sản xuất: Trong những năm qua nền kinh tế của tỉnh phát triển
tăng dần, đã duy trì nhịp độ tăng trởng GDP từ 9 - 10,0% ( Năm 1994
GDP tăng 9,1% thì năm 1999 tăng 10,3%). GDP bình quân đầu ngời
tăng từ 685.000 đồng năm 1994 lên 1.535.000 đồng năm 1999, chất
lợng và hiệu quả của nền kinh tế nông lâm nghiệp lạc hậu mang tính tự
cấp tự túc của những năm trớc đây thì vài ba năm nay sản xuất hàng hoá
đã bắt đầu phát triển, đã hình thành đợc một số vùng sản xuất tập trung.
Công tác thuỷ lợi có những chuyển biến mạnh. Từ những công
trình trớc đây còn tạm bợ, cha đợc kiên cố hoá, khả năng tới 22.000
ha thì đến nay đã có 215 công trình lớn nhỏ đợc sửa chữa nâng cấp,
cộng với 5283 công trình siêu nhỏ do dân tự làm với năng lực tới đạt
trên 28.000 ha.
+ Sự nghiệp y tế - Giáo dục - phát thanh , truyền hình trên địa bàn
tỉnh đã từng bớc đợc phát triển mở rộng, đã xoá đợc tất cả các xã
trắng không có trạm xá và từng bớc xây dựng kiên cố vững chắc. Tỉnh
đợc công nhận đạt tiêu chuẩn quốc gia về hoàn thành phổ cập giáo dục
tiểu học và chống mù chữ trên địa bàn toàn tỉnh vào năm 1999. Tỷ lệ phủ
sóng phát thanh đạt 67,7%, sóng truyền hình đạt 61% năm 1999. An
ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội đợc đảm bảo. Từ những kết quả
chung nêu trên đã có tác dụng kích thích môi trờng thuận lợi cho sản
xuất kinh tế phát triển, có nhu nhập đời sống dần tăng lên. Tỷ lệ đói
nghèo giảm từ 35% năm 1998 xuống còn 22% năm 1999, tỷ lệ hộ khá
giàu đạt 3-4%, các khoản thu cho NSNN cũng tăng lên.
- Thực trạng của cơ cấu ngành và sản xuất nông, lâm nghiệp trong
những năm qua của địa phơng:
+ Về nông nghiệp: Là một ngành kinh tế truyền thống đồng thời là
ngành quan trọng hàng đầu trong các ngành kinh tế của tỉnh. Trên cơ sở
về tiềm năng đất đai, khí hậu, đợc sự đầu t giúp đỡ của Chính phủ, sự
lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng bộ, Chính quyền tỉnh cộng với sự vợt khó đi
lên của nhân dân các dân tộc trong những năm gần đây bộ mặt nông thôn
và đời sống nhân dân đã có nhiều chuyển biến phát triển rõ nét. Sản xuất
nông, lâm nghiệp năm sau đều cao hơn năm trớc.