Những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả tín dụng tài trợ XNK tại Hội Sở chính - Ngân Hàng Ngoại Thương Việt Nam - Pdf 22


LỜI MỞ ĐẦU
Tiến trình khu vực hóa và toàn cầu hóa nền kinh tế đang diễn ra với
tốc độ ngày càng nhanh và dưới nhiều hình thức khác nhau, không có một
quốc gia nào tự tách mình ra khỏi tiến trình chung đó. Việt Nam đã và
đang từng bước thực hiện quá trình mở cửa, hội nhập với khu vực và quốc
tế. Kinh doanh XNK là tiền đề để mở rộng các loại hình kinh doanh quốc
tế đa dạng khác.Trong khi hầu hết các doanh nghiệp Việt Nam đang nằm
trong tình trạng thiếu vốn nên hoạt động tài trợ xuất nhập khẩu đang đóng
vai trò hết sức quan trọng trong việc đảm bảo vốn, và các dịch vụ liên quan
cho kinh doanh XNK. Với bề dày và kinh nghiệp lâu năm trên lĩnh vực
XNK, hoạt động tài trợ xuất nhập khẩu là loại hình kinh doanh được chú
trọng tại Sở. Tuy nhiên, hoạt động tài trợ XNK của Sở không thể tránh
khỏi những tồn tại yếu kém đòi hỏi phải được cải tiến và hoàn thiện. Đề tài
chuyên đề “Những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả tín dụng tài trợ XNK
tại Hội Sở chính - Ngân Hàng Ngoại Thương Việt Nam” xuất phát từ sự
cần thiết phải nghiên cứu vấn đề này.
Chuyên đề gồm 3 chương:
Chương I. Hoạt động tín dụng ngân hàng và hiệu quả của tín dụng
XNK.
Chương II. Thực trạng hoạt động tín dụng tài trợ XNK tại Hội sở
chính - NHNT Việt Nam.
Chương III. Một số giải pháp, kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả
hoạt động tín dụng tài trợ XNK tại SGD- NHNT Việt Nam.
Chuyên đề phân tích đánh giá hoạt động tài trợ XNK tại Sở giao
dịch -NHNT trong 3 năm gần đây (2000-2002) đồng thời đưa ra một số
giải pháp hoàn thện hoạt động này ở Sở; các kiến nghị với Ngân hàng Nhà
1

nước, NHNT Trung Ương và Chính Phủ nhằm tạo mọi trường cần thiết để
thực hiện các giải pháp đó đề xuất

Các nghiệp vụ tổng quát của ngân hàng thương mại thực chất thể
hiện ở nội dung các khoản mục thuộc Bảng tổng kết tài sản của ngân hàng,
bao gồm tài sản Có và tài sản Nợ.
3

Bng Tng Kt Ti Sn Ngõn Hng .
Cỏc khon mc v ngõn
qu
- Ngõn qu
- Tin gi Ngõn hng TW
- Tin gi Ngõn hng khỏc
Tớn dng
- Ngn hn
- Trung hn v di hn
- Bt ng sn
- Cỏc loi khỏc
u t
- Chng khoỏn ca Chớnh ph
- Chng khoỏn ca Cụng ty .
- Hựn vn di thc khỏc
Ti sn Cú khỏc .
Tin gi
- Tin gi thanh toỏn
- Tin gi cú k hn .
- Tin gi tớch kim .
- Cỏc hỡnh thc huy ng
khỏc.
Vay cỏc Ngõn hng .
- Vay Ngõn hng TW
- Vay Ngõn hng khỏc

1.2.4 Ngân hàng thơng mại sử dụng các nguồn vốn huy động và đi
vay để sinh lợi nhuận.
Việc huy động các loại tiền gửi, việc tạo ra tiền mới, việc Ngân hàng
Trung ơng hỗ trợ cho các Ngân hàng thơng mại, việc vay vốn của các ngân
hàng khác, thu hút đầu t từ nớc ngoài đã đem đến cho ngân hàng sức mạnh
tài chính.
* Cho vay ca Ngõn hng thng mi
5

Trong các khoản mục thuộc tài sản Có, nghiệp vụ cho vay chiếm tỷ
trọng lớn nhất, khoảng 70% và là nghiệp vụ sinh lời chủ yếu của ngân
hàng, tạo ra hơn 60% thu nhập của ngân hàng.
Nếu xem xét thời hạn thì nghiệp vụ tín dụng chủ yếu của Ngân hàng
thương mại là nghiệp vụ cho vay ngắn hạn (dưới 12 tháng). Tuy nhiên, đối
với các ngân hàng kinh doanh tổng hợp, các Ngân hàng thương mại lớn,
khi tỷ trọng các loại tiền gửi dài hạn tăng lên thì ngân hàng cũng mở rộng
các khoản tín dụng trung và dại hạn cấp cho nền kinh tế.
* Tín dụng dựa trên việc chuyển nhượng trái quyền
Thực chất đây là loại tín dụng chiết khấu thương phiếu. Chiết khấu
thương phiếu là nghiệp vụ tín dụng ngắn hạn, trong đó khách hàng chuyển
nhượng quyền sở hữu thương phiếu chưa đến hạn cho ngân hàng để nhận
một số tiền bằng mệnh giá của thương phiếu trừ đi mức tiền chiết khấu và
phí hoa hồng, phí dịch vụ. Chiết khấu là một nghiệp vụ ít gặp rủi ro và
không làm đóng băng tín dụng của ngân hàng.
* Tín dụng qua chữ ký
Trong hình thức tính dụng này, ngân hàng không ứng tiền ra, mà chỉ
cam kết sẽ trả một khoản nợ của khách hàng trong trường hợp khách hàng
không trả được. Như vậy, tín dụng là sự tiềm tàng và có nhiều dạng: Bảo
lãnh ngân hàng, tín dụng chấp nhận… Bảo lãnh ngân hàng là việc ngân
hàng sẽ thực hiện các nghĩa vụ tài chính thay cho khách hàng của mình khi

+ Giao dịch hối đoái: Là thành viên tham gia thị trường hối đoái,
ngân hàng thương mại tiến hành với tư cách trung gian được uỷ quyền mọi
giao dịch hối đoái thông thường và liên tục.
7

+ Giao dịch về vàng kim loại và đá quý: Thực hiện nghiệp vụ này,
ngân hàng thương mại tạo ra sự kết hợp chặt chẽ giữa các hoạt động kinh
doanh có thể chuyển hoá được cho nhau.
+ Tư vấn kinh doanh: các ngân hàng có mối liên hệ chặt chẽ với
nhau thường xuyên thông tin cho nhau, kể cả trong nước lẫn nước ngoài.
Do đó, ngân hàng có thể thực hiện chức năng tư vấn giúp cho các đơn vị
kinh tế định hướng và hoạt động kinh doanh có hiệu qủa nhất.
+ Nghiệp vụ tín thác: Đây là dịch vụ quản lý hộ tài sản đối với các
nhân và cả doanh nghiệp, thường được tổ chức ở những khu vực tập trung
tài sản và tập trung dân số.
+ Ngân hàng nhận vốn uỷ thác từ uỷ thác cho vay, đầu tư và hưởng
phí uỷ thác mà không chịu rủi ro.
+ Các hoạt động khác: có nhiều hoạt động khác phối hợp nghiệp vụ
kinh doanh chính như: dịch vụ trọn gói, dịch vụ quản lý và bảo quản tài sản
(cho thuê két sắt để giữ kim loại quý, giấy tờ có giá...).
1.3 Xu thế phát triển và của Ngân hàng thương mại:
Trong xu thế kinh tế thế giới hiện nay là quốc tế hoá thì các ngân
hàng cũng phát triển rất nhạy bén để đáp ứng nhu cầu khách hàng.
1.3.1 Ngân hàng thương mại hoạt động đơn năng.
Đây là những ngân hàng chỉ hoạt động trong một lĩnh vực nhất định.
+ Ngân hàng đầu tư chuyên thực hiện tài trợ các dự án trung và dài
hạn. Nguồn vốn gồm vốn điều lệ, quỹ dự trữ, tiền gửi dài hạn và phát hành
trái phiếu. Ngoài các nghiệp vụ tín dụng, còn có các nghiệp vụ tài chính và
các dịch vụ liên quan đến lĩnh vực đầu tư.
+ Ngân hàng tiết kiệm chuyên huy động tiền gửi tiết kiệm của cá

9

Tín dụng là sự chuyển nhượng quyền sở hữu một lượng giá trị nhất
định dưới hịnh thức hiện vật hay tiền tệ trong một thời gian nhất định từ
người sở hữu sang người sử dụng và khi đến hạn người sử dụng phải hoàn
trả lại cho người sở hữu với một lượng giá trị lớn hơn. Khoản giá trị dôi ra
này gọi là lợi tức tín dụng. Theo nghĩa rộng quan hệ tín dụng gồm hai mặt:
huy động vốn và tiến hành cho vay. Tuy nhiên tín dụng ngân hàng chỉ xét
đến các mối quan hệ kinh tế mà ngân hàng chuyển quyền sử dụng tiền cho
đơn vị kinh tế khác theo những điều kiện hai bên thoả thuận. Luật ngân
hàng các nước định nghĩa tín dụng: " Cấu thành một nghiệp vụ tín dụng bất
cứ tác động nào, qua đó một người đưa hoặc hứa đưa vốn cho một người
khác dùng, hoặc cam kết bằng chữ ký cho người vay như bảo đảm, bảo
chứng hay bảo lãnh mà có thu tiền ", hinh thành nên ba nghiệp vụ tín dụng
cơ bản của ngân hàng là: Cho vay, chiết khấu, bảo lãnh. Bản chất tín dụng
là hình thức vận động của vốn tiền tệ trong xã hội theo nguyên tắc có hoàn
trả nhằm thúc đẩy sản xuất kinh doanh phát triển, tăng trưởng kinh tế và
nâng cao đời sống cho người dân.
2.2 Các hình thức tín dụng ngân hàng:
+ Cho vay đối với nền kinh tế:
Như trên đã đề cập, cho vay trực tiếp đối với các đơn vị kinh tế khi
các yêu cầu xin vay đáp ứng các điều kiện cho vay của ngân hàng là hoạt
động sinh lời chủ yếu của các ngân hàng thường mại. Có rất nhiều tiêu thức
để phân loại các hình thức tín dụng ngân hàng nhằm các mục đích quản lý
rủi ro và mở rộng các khoản tín dụng theo các chiến lược thích hợp.
+ Tín dụng bảo lãnh:
Ngân hàng sẽ thực hiện các nghĩa vụ tài chính đã cam kết của khách
hàng với đối tác của họ chỉ khi khách hàng không trả được nợ thì người bảo
lãnh mới phải trả nợ hộ và khi đó thì người được bảo lãnh đương nhiên
10

thực hiện đúng cam kết với ngân hàng.
III. Tín dụng tài trợ xuất nhập khẩu của NHTM:
3.1 Quan niệm về tín dụng tài trợ XNK:
Hoạt động kinh tế đối ngoại nói chung và hoạt động ngoại thương
nói riêng có tính chất sống còn đối với các quốc gia vì trong một nền kinh
tế hội nhập toàn cầu, cạnh tranh quốc gia chỉ có thể phát triển khi có sự
giao lưu với khu vực và thế giới. Hoạt động ngoại thương (xuất nhập khẩu)
mở rộng khả năng tiêu dùng và sản xuất tất cả các mặt hàng với số lượng
nhiều hơn mức có thể tiêu dùng với giới hạn khả năng sản xuất trong nước
dưới chế độ tự cung, tự cấp không tham gia vào buôn bán quốc tế. Hoạt
động xuất nhập khẩu phát triển mạnh mẽ tạo khả năng thu hút ngoại tệ và
phục vụ cho hoạt động nhập khẩu những máy móc thiết bị, vật tư, hàng hoá
cần thiết cho phát triển kinh tế trong nước và thu nhập quốc dân cũng sẽ
tăng lên. Bên cạnh đó việc nhập khẩu những máy móc thiết bị nhằm sẽ
nâng cao trình độ phát triển nền kinh tế trong nước và còn tạo công ăn việc
làm cho xã hội, tăng sản phẩm sản xuất trong nước với chất lượng ngày
càng tốt trên thị trường trong và ngoài nước.
Muốn tăng kinh ngạch xuất khẩu đòi hỏi phải có hàng hóa chất
lượng cao với giá thành cạnh tranh để đáp ứng được yêu cầu của thị trường
thế giới. Để nâng cao chất lượng của hàng hoá buộc phải đổi mới thiết bị
công nghệ thông qua con đường xuất nhập khẩu trong khi đó khó khăn nhất
đối với các doanh nghiệp hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu hiện nay là
vấn đề vốn.
Ngoài ra sản xuất và lưu thông hàng hoá phát triển khiến các mối
quan hệ giữa nhà kinh doanh xuất nhập khẩu ngày càng trở nên đa dạng
phong phú và sự không đồng nhất về thời gian của các chu kỳ sản xuất và
tiêu thụ hàng hoá. Hoạt đông tín dụng (khâu mở đầu một hợp đồng xuất
12

nhập khẩu) là nhu cầu thường xuyên và bức thiết, yêu cầu phải được xem

Nội dung của tài trợ XNK được hiểu là cho vay để hoàn tất nghĩa vụ
thanh toán và sản xuất trong quan hệ kinh tế đối ngoại cũng như đảm bảo
các quá trình thanh toán liên quan. Tín dụng tài trợ XNK là một mảng dịch
vụ thuộc hệ thống các dịch vụ chuyên biệt của ngân hàng nhằm hỗ trợ các
doanh nghiệp trong hoạt động XNK và có nét chung là ngân hàng cung ứng
vốn bằng tiền hoặc bảo lãnh giúp cho các doanh nghiệp gia tăng hiệu quả
kinh doanh và thực hiện thương vụ thành công.
Tín dụng tài trợ XNK có vai trò quan trong đối với ngành ngoại
thương cũng như sự phát triển của nền kinh tế đất nước nói chung thể hiện
qua các mặt sau:
- Ngân hàng cho các doanh nghiệp vay để nhập khẩu máy móc, thiết
bị hiện đại, đổi mới trang thiết bị kỹ thuật, dây truyền sản xuất chế biến
hàng xuất khẩu nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm hàng hoá, hạ giá thành
sản phẩm tạo khả năng cạnh tranh với hàng nhập khâủ và kinh doanh có
lãi; nhập khẩu các hàng hoá tiêu dùng cần thiết cho đời sống của nhân dân;
- Đáp ứng nhu cầu vốn cho doanh nghiệp tiểu thủ công nghiệp để mở
rộng sản xuất kinh doanh, tạo ra nhiều sản phẫm xuất khẩu, tạo công ăn
việc làm cho người lao động, đồng thời thực hiện nghĩa vụ nộp thuế cho
ngân sách nhà nước;
- Tín dụng xuất nhập khẩu góp phần quan trọng phục vụ chương
trình phát triển kinh tế đất nước, góp phần mở rộng kinh tế đối ngoại với
các nước trên thế giới;
3.2 Các hình thức tín dụng tài trợ XNK của NHTM:
Sự phát triển mạnh mẽ của sản xuất hàng hoá và mậu dịch quốc tế
khiến cho quá trình toàn cầu hoá, liên kết kinh tế diễn ra trên thế giới ngày
14

cáng nhanh và sâu rộng đòi hỏi hoạt động ngoại thương cần phát triển rất
nhanh cả quy mô và chất lượng. Để đạt được điều này cần sự trợ giúp lớn
của ngân hàng về không những vốn mà còn cả kỹ thuật thanh toán.

5
8
9
1
9
2

(2) Ngân hàng phục vụ nhà nhập khẩu sau khi xem xét và yêu cầu
mức ký quỹ sẽ thông báo cho ngân hàng phục vụ nhà xuất khẩu.
(3) Ngân hàng phục vụ nhà xuất khẩu thông báo cho nhà xuất khẩu
về việc mở thư tín dụng của nhà nhập khẩu.
(4) Nhà xuất khẩu có thể xin ngân hàng phục vụ mình cấp tín dụng
tài trợ cho việc xuất khẩu hàng dựa trên L/c được phát hành bởi ngân hàng
phục vụ nhà nhập khẩu.
(5) Ngân hàng phục vụ nhà xuất khẩu xem xét và ra quyết định tài
trợ cho nhà xuất khẩu phục vụ cho lô hàng xuất khẩu.
(6) Đến hạn nhà xuất khẩu tiến hành giao hàng cho nhà nhập khẩu.
(7) Nhà xuất khẩu chuyển bộ chứng từ cho ngân hàng phục vụ mình
nhờ thu hộ tiền hàng từ nhà nhập khẩu.
(8) Ngân hàng phục vụ nhà xuất khẩu chuyển bộ chứng từ cho ngân
hàng phục vụ nhà nhập khẩu nhờ thu hộ tiền hàng.
(9) Ngân hàng phục vụ nhà nhập khẩu kiểm tra đối chiếu bộ chứng
từ với điều kiện L/c nếu hợp lệ thì ngân hàng sẽ chuyển tiền thanh toán cho
ngân hàng phục vụ nhà xuất khẩu, ghi nợ và thông báo cho nhà nhập khẩu.
- Cho vay ký quỹ L/C:
Ký quỹ là một quy định của ngân hàng phát sinh trong trường hợp
khách hàng xin được bảo lãnh và trước khi ngân hàng đồng ý mở L/C ( nếu
khách hàng không đủ tín nhiệm ). Khách hàng phải nộp một khoản tiền
nhất định vào tài khoản của họ tại ngân hàng mà họ xin bảo lãnh và khoản
tiền sẽ bị phong toả đến khi nghĩa vụ bảo lãnh, thanh toán của ngân hàng

không thanh toán hoặc không tập trung đủ tiền để thanh toán bộ chứng từ
giao hàng. Ngân hàng khi đó sẽ cho vay số tiền còn thiếu để thanh toán
đúng hạn cho ngân hàng nước ngoài.
17

Khi vay bắt buộc khách hàng phải chịu áp lực trả nợ rất lớn từ ngân
hàng vì thời gian không quá 30 ngày kể từ ngày ngân hàng trả ngay và lãi
suất tương ứng với lãi suất vay quá hạn theo quy định của ngân hàng.
b. Đối với nhà xuất khẩu:
- Cho vay thực hiện hàng xuất khẩu theo L/C đã mở:
Nhà XK sau khi nhận được thông báo đã mở L/C từ ngân hàng
người NK có nghĩa là được đảm bảo thanh toán sau khi giao hàng và suất
trình đưọc bộ chứng từ phù hợp với L/C . Để đáp ứng vốn cho nhu cầu sản
xuất thực hiện lô hàng đã ký kết nhà xuất khẩu có thể xin ngân hàng phục
vụ mình cấp khoản tín dụng. Những quy định pháp lý và các điều khoản
ghi trong L/C sẽ là một đảm bảo để ngân hàng cấp tín dụng cho nhà xuất
khẩu tiếp tục sản xuất.
- Cho vay chiết khấu hoặc ứng trước chứng từ hàng xuất khẩu:
Để đáp ứng nhu cầu vốn, nhà XK sau khi giao hàng xong có thể
thương lượng với ngân hàng thực hiện chiết khấu bộ chứng từ hoặc ứng
trước tiền khi bộ chứng từ được thanh toán.
Chiết khấu bộ chứng từ hàng XK là việc ngân hàng mua lại
hoặc cho vay trên cơ sở bộ chứng từ hoàn hảo được người XK trình. Có hai
hình thức:
+ Chiết khấu miền truy đòi ( chiết khấu đóng ):
Thực chất là ngân hàng mua hẳn bộ chứng từ xuất khẩu hoàn hảo của
người xuất khẩu với giá thấp hơn giá trị bộ chứng từ ( do ngân hàng
chịu chi phí chiết khấu và thời gian cần thiết trung bình để đòi tiền nhà
nhập khẩu nước ngoài). Người xuất khẩu không còn nghĩa vụ hoàn trả và
trách nhiệm thu tiền và sử dụng số tiền thu được thuộc về ngân hàng. Các

a. Nhờ thu đến trong thanh toán hàng NK:
19

Ngân hàng tiếp nhận chứng từ từ ngân hàng nước ngoài, xuất trình
hối phiếu đòi tiền nhà nhập khẩu. Nếu nhà nhập khẩu không đủ khả năng
thanh toán thì cần phải có sự tài trợ của ngân hàn gcho vay thanh toán hàng
nhập khẩu.
b. Nhờ thu đi trong thanh toán hàng XK:
Nhà XK có thể chuyển nhượng quyền lợi từ sự uỷ nhiệm cho ngân
hàng thu chứng từ và nếu ngân hàng chấp nhận ứng trước khi thu tiền về từ
ngân hàng nước ngoài (ngân hàng nhà nhập khẩu thì có nghĩa là nó tài trợ
cho nhà xuất khẩu.
c. Nếu nhà nhập khẩu được giao các chứng từ khi họ chấp nhận một
hối phiếu đòi nợ thì có thể kèm theo việc chiết khấu hối phiếu ở ngân hàng
nhà xuất khẩu cũng như ở ngân hàng nhà nhập khẩu.
Ngoài việc phân loại cho vay bằng phương thức thanh toán như trên
còn có thể phân loại theo tiêu thức thời hạn cho vay (ngắn hạn, trung và dài
hạn ), hoặc tiêu thức độ tín nhiệm đối với khách hàng ( cho vay có bảo đảm
và cho vay không có bảo đảm).
3.2.2 Cho vay trên cơ sở hối phiếu:
Trong kinh doanh ngoại thương, hối phiếu đóng vai trò rất quan
trọng do các quy định và hình thức của hối phiếu là chuyển nhượng được,
chất lượng bảo đảm, chống rủi ro tốt và nó có ba chức năng: chức năng bảo
đảm; chức năng thanh toán; chức năng tài chính . Đối với nhà NK thì hối
phiếu như một công cụ để cấp vốn còn đối với nhà xuất khẩu đây là công
cụ để tái cấp tài chính.
3.2.2.1 Chiết khấu hối phiếu:
Tín dụng chiết khấu thương phiếu là nghiệp vụ tín dụng ngắn hạn
được thực hiện dưới hình thức khách hàng chuyển quyền sở hữu thương
phiếu chưa đáo hạn cho ngân hàng để nhận một số tiền bằng mệnh giá của

chiết khấu trên cơ sở hối phiếu được chấp nhận.
(4) Ngân hàng phục vụ nhà xuất khẩu đồng ý cấp tín dụng cho
nhà xuất khẩu.
(5) Khi tới kỳ hạn thanh toán, Ngân hàng phục vụ nhà xuất khẩu
chuyển hối phiếu cho ngân hàng phục vụ nhà nhập khẩu và nhờ thu khoản
nợ ghi trên hối phiếu.
(6) Ngân hàng phục vụ nhà nhập khẩu xuất trình hối phiếu cho nhà
nhập khẩu và đề nghị thanh toán.
(7) Nhà nhập khẩu chấp nhận thanh toán.
(8) Ngân hàng phục vụ nhà nhập khẩu thông báo và chuyển cho
ngân hàng phục vụ nhà xuất khẩu khoản thu đã thực hiện sau khi trừ đi
lệ phí nhờ thu.
(9) Trường hợp nhà nhập khẩu không chấp nhận thanh toán hoặc
không có khả năng thanh toán, nhà NK chuyển hối phiếu trở lại cho ngân
hàng mình và từ đó chuyển trả lại cho ngân hàng phục vụ nhà XK. Sau đó,
ngân hàng phục vụ nhà XK truy đòi nhà XK nếu hối phiếu chiết khấu được
truy đòi và nhà XK phải tự giải quyết mọi việc với nhà NK.
3.2.2.2 Tín dụng chấp nhận hối phiếu:
Tín dụng chấp nhận hối phiếu là khoản tín dụng phát sinh do bên bán
thiếu tin tưởng ở bên mua và yêu cầu một ngân hàng ký chấp nhận hối
phiếu. Người vay khoản tín dụng này chính là nhà nhập khẩu chứ không
phải nhà xuất khẩu và điểm khác biệt thứ hai là tín dụng này chỉ là hình
thức, một sự đảm bảo về tài chính, ngân hàng chưa phải xuất tiền thực sự
cho người vay như trong chiết khấu hối phiếu. Tuy nhiên, khi đến hạn, nếu
nhà nhập khẩu không đủ khả năng thanh toán thì ngân hàng chấp nhận hối
phiếu phải trả nợ thay. Ý nghĩa của tín dụng chấp nhận hối phiếu:
22

Hối phiếu có sự chấp nhận thanh toán của ngân hàng là sự đảm bảo
chắc chắn về khả năng thanh toán và nhà xuất khẩu có thể đem chiết khấu

chấp nhận thanh toán.
() Nếu nhà nhập khẩu không chấp nhận thanh toán hoặc không có
khả năng thanh toán thì ngân hàng phục vụ nhà nhập khẩu (ngân hàng chấp
nhận hối phiếu) vẫn phải chuyển tiền của mình thanh toán cho ngân hàng
phục vụ nhà xuất khẩu.
* Trưòng hợp nhà nhập khẩu phát hành hối phiếu.
1) Nhà xuất khẩu giao hàng cho nhà nhập khẩu.
2) Nhà nhập khẩu phát hành hối phiếu kèm theo đơn xin vay tín
dụng qua chữ ký chuyển tới ngân hàng chấp nhận hối phiếu.
(3) Ngân hàng chấp nhận hối phiếu xem xét và ký chấp nhận thanh
toán lên hối phiếu và chuyển trả lại cho nhà nhập khẩu sau khi thu phí.
(4) Nhà nhập khẩu chuyển hối phiếu đựơc ngân hàng chấp nhận
thanh toán xin chiết khấu tại ngân hàng chiết khấu.
(5) Ngân hàng chiết khấu hối phiếu xem xét và cấp một khoản tín
dụng sau khi chiết khấu hối phiếu cho nhà nhập khẩu.
(6) Đến hạn nhà xuất khẩu chuyển bộ chứng từ cho ngân hàng phục
vụ mình để nhờ thu hộ tiền hàng nhà nhập khẩu.
(7) Ngân hàng phục vụ nhà xuất khẩu chuyển bộ chứng từ cho ngân
hàng phục vụ nhà nhập khẩu (ngân hàng chiết khấu) nhờ thu hộ tiền hàng .
(8) Ngân hàng chiết khấu kiểm tra tính hợp lệ bộ chứng từ và thông
báo cho nhà nhập khẩu.
24

(9) Ngân hàng chiết khấu chuyển khoản tiền chiết khấu thanh toán
tiền hàng cho ngân hàng phục vụ nhà xuất khẩu sau khi nhà nhập khẩu
chấp nhận thanh toán. Trong trường hợp nhà nhập khẩu không chấp nhận
thanh toán thì ngân hàng phục vụ nhà nhập khẩu (ngân hàng chiết khấu)
chuyển trả lại bộ chứng từ cho nhà xuất khẩu qua ngân hàng phục vụ nhà
xuất khẩu.
3.2.3 Tài trợ qua nghiệp vụ bảo lãnh và tái bảo lãnh:


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status