1
PHỤ LỤC Trang
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT 3
LỜI MỞ ĐẦU 3
CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN-CƠ SỞ THỰC TIỄN- TỔNG QUAN VỀ GÓI HỖ
TRỢ 30.000 TỶ ĐỒNG CỦA CHÍNH PHỦ 6
1.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN: 6
1.1.1 LÝ THUYẾT KÍCH CẦU CỦA NHÀ KINH TẾ HỌC JOHN
MAYNARD KEYNES: 6
1.1.2 MỤC ĐÍCH CỦA KÍCH CẦU: 9
1.1.3 CÁC NGUYÊN TẮC CƠ BẢN KHI THỰC HIỆN KÍCH CẦU: 10
1.2 CƠ SỞ THỰC TIỄN: 13
1.3 TỔNG QUAN VỀ GÓI HỖ TRỢ 30.000 TỶ ĐỒNG CỦA CHÍNH PHỦ: 14
1.3.1 BỐI CẢNH VÀ NGUYÊN NHÂN RA ĐỜI: 14
1.3.2 MỤC TIÊU: 15
1.3.3 QUY ĐỊNH CỦA CHÍNH PHỦ: 15
1.3.3.1 ĐỐI TƢỢNG TIẾP CẬN: 15
1.3.3.2 ĐIỀU KIỆN TIẾP CẬN KHOẢN VAY: 17
1.3.3.3 NGÂN HÀNG THAM GIA GIẢI NGÂN: 18
1.3.3.4 THỜI GIAN, LÃI SUẤT CHO VAY: 18
CHƢƠNG 2: THỰC TRẠNG VỀ VIỆC GIẢI NGÂN GÓI HỖ TRỢ 30.000 TỶ
ĐỒNG CỦA CHÍNH PHỦ 19
2.1 TÌNH HÌNH GIẢI NGÂN HIỆN TẠI: 19
2.1.1 TÌNH HÌNH TIẾP CẬN KHOẢN VAY: 19
2.1.2 TỐC ĐỘ GIẢI NGÂN: 19
2.2 KHÓ KHĂN: 21
2.2.1 THỦ TỤC CHUYỂN ĐỔI NHÀ Ở THƢƠNG MẠI SANG NHÀ Ở XÃ
HỘI: 21
2
BXD: Bộ xây dựng.
CP: Chính phủ.
NHNN: Ngân hàng Nhà nƣớc.
NHTM: Ngân hàng thƣơng mại.
NQ: Nghị quyết.
TT: Thông tƣ.
UBND: Ủy ban nhân dân.
4
LỜI MỞ ĐẦU
Trong bối cảnh kinh tế Việt Nam đang rơi vào tình trạng khó khăn về các lĩnh
vực ngân hàng và bất động sản. Gánh nặng nợ xấu tại các ngân hàng chƣa đƣợc khắc
phục hoàn toàn. Cùng với tình trạng khó khăn của ngân hàng thì thị trƣờng bất động
sản cũng ảnh hƣởng rất lớn. Các công trình ngƣng xây dựng vì thiếu vốn cũng nhƣ sự
tồn kho về căn hộ, khiến các doanh nghiệp xây dựng rơi vào tình trạng khốn đốn. Từ
những tình trạng này, ngƣời dân cũng ảnh hƣởng đến thu nhập và chi tiêu rất lớn.
quyết tình trạng tắc nghẽn dòng vốn trong hiện tại và tƣơng lai của gói kích cầu này.
2. ĐỐI TƢỢNG NGHIÊN CỨU:
Gói tín dụng kích cầu 30.000 tỷ đồng của Chính phủ.
3. PHẠM VI NGHIÊN CỨU:
- Phạm vi thời gian: Từ khi gói hỗ trợ 30.000 tỷ ra đời thời điểm hiện tại
- Phạm vi không gian: Các gói hỗ trợ tƣơng tự của Nhà nƣớc Việt Nam cũng nhƣ
chính sách kích cầu của các nƣớc trên Thế giới.
-
4. PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:
Để thực hiện đề tài, chúng tôi chọn phƣơng pháp nghiên cứu:
- Phƣơng pháp tổng hợp.
- Phƣơng pháp phân tích.
- Đánh giá.
5. GIỚI HẠN NGHIÊN CỨU:
Do hạn chế về thời gian và kiến thức nên chúng tôi không thể tìm hiểu chi tiết các
khía cạnh khác của gói vay hỗ trợ 30.000 tỷ đồng.
Thông tin chủ yếu tham khảo từ báo chí, tạp chí kinh tế, và Internet, giáo trình Lịch
sử các học thuyết kinh tế nên có thể còn nhiều thiếu sót.
6
CHƢƠNG 1:
xuất trong nƣớc (xuất khẩu ròng) trên thị trƣờng và tổng cầu, tức toàn thể số hàng hóa
mà ngƣời ta muốn mua. Nhân tố trực tiếp quyết định mức sản lƣợng và việc làm.
Theo Keynes, trong quá trình vận động của nền kinh tế, tồng cầu thƣờng không
theo kịp so với tổng cung. Điều đó ảnh hƣởng đến tình hình sản xuất, thu hẹp đầu tƣ,
gây ra nạn thất nghiệp cũng nhƣ khủng hoảng kinh tế. Để giải quyết tình trạng này
phải tăng tổng cầu. Tổng cầu lớn hơn tổng cung sẽ làm gia tăng đầu tƣ. Do đó sẽ gia
tăng việc làm và gia tăng thu nhập. Cuối cùng sản lƣợng quốc gia cũng đƣợc gia tăng.
Đồng thời, Keynes cũng đề cao vai trò của nhà nƣớc trong việc điều tiết nền kinh tế
thong qua các chính sách kích cầu của Chính phủ. Ông cho rằng để thoát khỏi khùng
hoảng và thất nghiệp cần có sự can thiệp của nhà nƣớc vào kinh tế để tăng tổng cầu,
gia tăng việc làm và thu nhập. Sự can thiệp của nhà nƣớc nhƣ chƣơng trình đầu tƣ Nhà
nƣớc; chính sách tài chính, tín dụng và lƣu thông tiền tệ; mở rộng việc làm bằng cách
mở rộng đầu tƣ thậm chí cả vào các ngành quân sự; khuyến khích tiêu dung cá nhân…
Nhƣ vậy, có thể nói chính sách kích cầu bắt nguồn từ tƣ tƣởng kích cầu rút ra từ hai
giả thuyết quan trọng của học thuyết Keynes:
Giả thuyết thứ nhất:
Cuộc suy thoái bắt nguồn từ nền kinh tế
có năng lực sản xuất bị dƣ thừa. Biểu hiện
của tình trạnh này là các yếu tố đầu vào cho
sản xuất không đƣợc sử dụng hết công suất:
thất nghiệp trên thị trƣờng lao động, máy
móc bị bỏ bê trong khu vực doanh nghiệp, và
hàng hóa ế thừa.
Hiện tƣợng dƣ cung kiến giá cả có
hƣớng giảm trên tất cả các thị trƣờng, do đó
càng không khuyến khích ngƣời mua, và cầu
càng ở dƣới xa cung thực tế. Kết quả là, nền
thiệp. Tuy nhiên, nhƣ Milton Friedman đã nhận xét năm 1962 trong một tác phẩm kinh
điển bảo vệ nền kinh tế thị trƣờng, rằng các chính sách này đều biến thái theo chiều
Mức giá
Sản luợng
luolƣợng
9
hƣớng đơn giản hóa, tùy tiện và bị lạm dụng, theo một phiên bản “phân tích Keynes
thô sơ”. Qua đó chi tiêu chính phủ luôn đƣợc coi là phƣơng tiện cứu rỗi, mà không còn
cân nhắc nhiều đến thực trạng nền kinh tế mà trong đó những giả thuyết đầu tiên đƣợc
xác lập.
Trên thực tế, việc tăng chỉ tiêu dƣới danh nghĩa cứu nguy nền kinh tế mang lại
nhiều thuận lợi cho chính phủ: bành trƣớng ngân sách và do đó là quyền lực chính trị;
không phải thực hiện những cải cách gây đau đớn cho bản thân chính phủ và giới quan
lieu nhƣ cải cách thể chế, luật pháp; đƣợc lòng dân chúng vì giữ cho giá nguồn lực ở
mức cao (tiền lƣơng lao động và lãi suất đƣợc duy trì); và một điều quan trọng, là tính
hiệu quả kinh tế của các khoản chi tiêu không còn là ƣu tiên số một, vì nó đƣợc biện
minh nhờ tác động chủ yếu là sức cầu của gói chi tiêu đó sẽ lan tỏa qua hiệu ứng số
nhân nổi tiếng của Keynes, chứ không phải bản thân đối tƣợng chi tiêu.
Các trƣờng phái kinh tế ủng hộ tính hiệu quả của thị trƣờng cho rằng chính sách
kiểu Keynes có thể làm giảm cơn đau của nền kinh tế đang suy thoái về mặt xã hội,
nhƣng đổi lại, nó kéo dài ngày phục hồi của nền kinh tế. Lập luận này cũng dựa trên
kinh nghiệm của cuộc đại suy thoái 1929-1933, nhƣng diễn giải dƣới một lăng kính
khác. Họ cho rằng chính việc thắt chặt tiền tệ quá lâu của cục dự trữ liên bang khiến
lãi suất bị giữ ở mức cao. Thứ hai, các công trình cứu trợ xã hội to lớn thời đó đã khiến
tiền lƣơng bị giữ ở mức cao tƣơng đối, khiến các doanh nghiệp thời kì suy thoái rất
khó tiếp cận nguồn lao động rẻ để phục hồi sản xuất.
Rút đƣợc những kinh nghiệm này, các chính phủ hiện đại đều sử dụng chính sách
tiền tệ nới lỏng và cắt giảm lãi suất trong các gói giải pháp chống suy thoái. Tuy nhiên,
các chƣơng trình an sinh xã hội và sức mạnh của công đoàn ít khi làm giá doa động
kích thích ngay, tức là làm tăng chi tiêu ngay trong nền kinh tế. Nếu để tự nền kinh tế
phục hồi thì việc phục hồi sớm muộn cũng sẽ xảy ra, mặc dù việc phục hồi có thể kéo
dài, cho nên mục tiêu của kích cầu là đẩy nhanh việc phục hồi của nền kinh tế.
Do đó, việc kích cầu chỉ có thể thực hiên một cách có ý nghĩa trong một khoảng
thời gian nhất định. Các chính sách mất quá nhiều thời gian để thực hiên sẽ không có
tác dụng, vì khi đó nền kinh tế tự nó đã có thể phục hồi, và việc gói kích cầu lúc đó lại
có thể có tác dụng xấu do có khả năng làm hun nóng nền kinh tế dẫn đến lạm phát và
những mất cân đối vĩ mô. Các chƣơng trình đầu tƣ, dự án đầu tƣ có tốc độ giải ngân
chậm không phải là những công cụ kích cầu tốt. Bởi khi tổng cầu sụt giảm, thì các
biện pháp này là không có tác động gì tới tổng cầu trong lúc cần phải tăng tổng cầu
lên nhiều nhất (để tránh các tác động tích cực của suy thoái nhƣ việc các doanh nghiệp
sa thải công nhân).
1.1.3.2 Nguyên tắc số 2: “Kích cầu phải đúng đối tượng”
Mức độ “đúng đối tƣợng” của gói kích cầu của chính phủ phụ thuộc vào xu
hƣớng chi tiêu và đầu tƣ của các đối tƣợng thuộc diện nằm trong gói kích cầu. Để kích
11
thích đƣợc cầu đối với hàng hóa dịch vụ, thì gói kích cầu phải đƣợc nhắm tới đối
tƣợng sao cho gói kích cầu đƣợc sử dụng ngay (chi tiêu ngay), và qua đó làm tăng tổng
cầu trong nền kinh tế. Những biện pháp kích cầu đúng đối tƣợng là những biện pháp
nhắm tới các đối tƣợng sẽ chi tiêu hầu nhƣ toàn bộ lƣợng kích cầu dành cho họ. Mục
tiêu của gói kích cầu là làm tăng cầu, nên chìa khóa để thực hiện điều này là cấp tiền
cho những ngƣời ( có thể là các cá nhân, hộ gia đình, doanh nghiệp và chính quyền)-
sẽ sử dụng những đồng tiền này, và qua đó đƣa thêm tiền vào nền kinh tế. Tiền kích
càu phải đƣợc sử dụng để khuyến khích các nhóm đối tƣợng này tiến hành các khoản
chi tiêu mới, hoặc hạn chế nhóm này cắt giảm chi tiêu. Ở thế giới cũng nhƣ ở Việt
Nam, những ngƣời có thu nhập thấp thƣờng có mức tiêu dung cao trên 1 đồng thu
nhập có thêm đƣợc và thƣờng tiêu dung hàng nội địa. Do vậy, nếu kích cầu đúng nhóm
đối tƣợng này thì đạt đồng thời cả hai mục tiêu là hiệu quả và công bằng, khác với sự
dài hạn sẽ không kích thích đƣợc cầu. Điều đó là do các biện pháp nếu chỉ đƣợc thực
hiện trong ngắn hạn sẽ khuyến khích các doanh nghiệp tiến hành, đẩy nhanh tốc độ
đầu tƣ để tận dụng những ƣu đãi này (ví dụ nhƣ ƣu đãi về thuế). Những biện pháp dài
hạn, ví dụ nhƣ giảm thuế quá lâu sẽ không phải là một biện pháp kích cầu tốt, bởi vì
các doanh nghiệp sẽ không cảm thấy cần thiết phải đẩy nhanh tốc độ đầu tƣ trong giai
đoạn nền kinh tế cần đƣợc kích thích nhất.
1.1.3.3.2 Ngắn hạn để đảm bảo không làm ảnh hưởng tới ngân sách trong dài hạn:
Thông thƣờng khi thực hiện các biện pháp kích thích nền kinh tế bằng việc mở
rộng chi tiêu (tạm thời) của chính phủ sẽ dẫn tới thâm hụt ngân sách. Do đó, các gói
kích cầu chỉ đƣợc phép mang tính chất tạm thời, trong ngắn hạn có thể làm tăng thâm
hụt ngân sách, nhƣng trong dài hạn phải không đƣợc phép làm thâm hụt ngân sách
trầm trọng hơn. Việc đảm bảo rằng trong dài hạn tình hình kinh tế không kém đi cũng
là yếu tố quan trọng để gói kích cầu ngắn hạn đạt hiệu quả hơn.
Khi cân nhắc xem xét các biện pháp kích cầu cụ thể của gói kích cầu, thì cả ba
nguyên tắc trên đều phải đƣợc tuân thủ và xem xét một cách đồng thời. Nếu một biện
pháp kích cầu cụ thể mà vi phạm một trong ba nguyên tắc trên thì về cơ bản biện pháp
kích cầu đó chƣa phải là một biện pháp kích cầu tốt. Để tăng hiệu quả của gói kích
cầu, cần có các chính sách hỗ trợ khác (không vi phạm các cam kết thƣơng mại quốc tế
của quốc gia) nhƣ không để tỷ giá bị định giá cao và làm tăng tính linh hoạt của tỷ giá
nhằm sử dụng công cụ này nhƣng vẫn tự động điều chỉnh thâm hụt thƣơng mại ở mức
hợp lý và bền vững.
13 1.2 CƠ SỞ THỰC TIỄN:
14
một lúc: sự lệch lạc về cấu trúc của nền kinh tế, hậu quả tích tụ của chuỗi can thiệp từ
những năm trƣớc, sự suy thoái cầu xuất khẩu và bất lợi từ thị trƣờng thế giới, và cuốc
cùng mới là sự suy giảm cầu đầu tƣ của khu vực doanh nghiệp, nhƣ là một sự lãnh
chịu hậu quả của tất cả các yếu tố trên kia.
Do đó, có thể cho rằng chúng ta đang ở trong gian đoạn suy thoái từ tổng cầu,
nhƣng đó chƣa phải là tất cả. Đằng sau và hòa lẫn vàn căn bệnh đó còn có nhiều căn
bệnh khác. Do đó, nếu chỉ tập trung vào biện pháp kích cầu là vừa chƣa đủ, lại vừa có
thể che khuất đi những biện pháp cần thiết khác.
Do đó, chúng tôi cho rằng chúng ta cần những gói giải pháp tổng thể, mà trong
đó, giải pháp kích cầu chỉ là một phần mà thôi.
1.3 TỔNG QUAN VỀ GÓI HỖ TRỢ 30.000 TỶ ĐỒNG CỦA CHÍNH PHỦ:
1.3.1 BỐI CẢNH VÀ NGUYÊN NHÂN RA ĐỜI:
Bối cảnh kinh tế nƣớc ta đang có dấu hiệu phục hồi nhƣng vẫn còn yếu ớt, lạm
phát trong năm 2013 còn 6.04%. Chỉ số quản trị mua hàng PMC tăng từ 48 điểm lên
51 điểm. Đây là dấu hiệu chứng tỏ khu vực công nghiệp và xây dựng đang phục hồi.
Đầu tƣ trực tiếp và gián tiếp nƣớc ngoài tăng. Giải ngân FDI tăng 4%. Vốn FDI đăng
ký mới và tăng thêm 17% đạt 8,22 tỷ USD. Tín dụng tính đến cuối tháng 4/2013 tăng
khoảng 2%, mức tăng này tuy rất thấp nhƣng khá cao so với cùng kỳ năm ngoái, trong
năm 2012 hết tháng 5 tín dụng vẫn tăng trƣởng âm.
Mặc dù nền kinh tế đã có dấu hiệu phục hồi nhƣng cũng cần phải giải quyết đƣợc
tình trạng đóng băng tín dụng theo hƣớng kích cầu đầu tƣ và tiêu dùng để tránh tình
trạng tốc độ phục hồi chậm lại và thị trƣờng bất động sản lại tiếp tục đóng băng.
Thị trƣờng bất động sản Việt Nam đang trải qua nhiều khó khăn thách thức do
ảnh hƣởng của khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu và sự phát triển
thiếu cân đối, không bền vững.
Với tình hình kinh tế Việt Nam nhƣ vậy, Quốc hội và Chính phủ cũng đang nỗ
lực đề ra nhiều giải pháp để tháo gỡ khó khăn cho thị trƣờng đó là gói tín dụng 30.000
sản và các dự án nhà ở thƣơng mại thì còn tồn quá nhiều. Nên gói vay này sẽ giúp tháo
gỡ những khó khăn của ngành xây dựng đang gặp phải.
Qua đó, nếu có thể giải quyết đƣợc hàng tồn kho thì khác phục đƣợc sự lệch pha
của cung – cầu, làm cho thị trƣờng bất động sản giao dịch trở lại để phát triển nền kinh
tế.
Gói vay này ra đời còn dựa vào mục tiêu phát triển nhà xã hội. Đó là nhiệm vụ
thực hiện chiến lƣợc nhà ở quốc gia để mọi ngƣời có thể cải thiện về nhà ở, nhất là
những ngƣời nghèo, có thu nhập thấp.
1.3.3 QUY ĐỊNH CỦA CHÍNH PHỦ:
1.3.3.1 ĐỐI TƢỢNG TIẾP CẬN:
16
Theo Thông tƣ số 07, đối tƣợng đƣợc vay để mua nhà ở xã hội bao gồm 4 đối
tƣợng gồm: Thứ nhất, cán bộ công chức, viên chức, lực lƣợng vũ trang và đối tƣợng
thu nhập thấp vay vốn để thuê, thuê mua và mua nhà ở xã hội.
Thứ hai, cán bộ công chức, viên chức, lực lƣợng vũ trang và đối tƣợng thu nhập
thấp vay vốn để thuê, mua nhà ở thƣơng mại có diện tích nhỏ hơn 70m
2
và có giá bán
dƣới 15 triệu đồng/m
2
.
Thứ 3, doanh nghiệp là chủ đầu tƣ dự án xây dựng nhà ở xã hội; doanh nghiệp là
chủ đầu tƣ dự án nhà ở thƣơng mại chuyển đổi công năng sang dự án nhà ở xã hội.
Và cuối cùng là các tổ chức, cá nhân có liên quan.
Nhóm đối tƣợng vay vốn để thuê, mua nhà ở thƣơng mại có diện tích nhỏ hơn
70m
2
, có giá bán dƣới 15 triệu đồng/m
2
đƣợc cấp có thẩm quyền phê duyệt theo quy định của pháp luật; có văn bản chấp thuận
17
đầu tƣ của cấp có thẩm quyền; đã có đất sạch và giấy phép xây dựng, trừ trƣờng hợp
đƣợc miễn giấy phép xây dựng theo quy định của pháp luật về xây dựng.
Đối với doanh nghiệp là chủ đầu tƣ dự án nhà ở thƣơng mại chuyển đổi công
năng sang dự án nhà ở xã hội thì ngoài các điều kiện quy định, phải có quyết định của
cấp có thẩm quyền cho phép chuyển đổi từ nhà ở thƣơng mại sang nhà ở xã hội.
1.3.3.2 ĐIỀU KIỆN TIẾP CẬN KHOẢN VAY:
Tại Thông tƣ số 11/2013/TT-NHNN quy định về cho vay hỗ trợ nhà ở theo Nghị
quyết 02/NQ-CP, các điều kiện để ngƣời thu nhập thấp đƣợc vay vốn ƣu đãi mua, thuê
và thuê mua nhà cũng đã đƣợc cơ quan này quy định cụ thể.
Theo đó, về điều kiện cho vay, NHNN quy định ngoài những điều kiện cho vay
theo quy định của Pháp luật hiện hành về cho vay của tổ chức tín dụng đối với khách
hàng; quy định tại Thông tƣ 07 của Bộ Xây dựng và các văn bản sửa đổi, bổ sung, thay
thế thông tƣ này (nếu có); khách hàng phải đáp ứng thêm 4 điều kiện đối với cá nhân
cũng nhƣ doanh nghiệp có nhu cầu vay vốn.
Về khách vay là cá nhân vay để mua, thuê, thuê mua nhà ở xã hội và thuê, mua
nhà ở thƣơng mại có diện tích dƣới 70m
2
, giá bán dƣới 15 triệu đồng/m
2
thì phải có:
Thứ nhất là có hợp đồng mua, thuê, thuê mua nhà ở xã hội; hợp đồng thuê, mua nhà ở
thƣơng mại với chủ đầu tƣ.
Thứ hai: có mục đích vay vốn để trả khoản tiền chƣa thanh toán mua, thuê, thuê
mua nhà ở xã hội và thuê, mua nhà ở thƣơng mại theo quy định đối với các hợp đồng
đã ký với chủ đầu tƣ kể từ ngày 7/1/2013.
Thứ ba là có đề nghị vay vốn để mua, thuê, thuê mua nhà ở xã hội và thuê, mua
mức lãi suất cho vay tối đa 10 năm đối với khách hàng mua, thuê, thuê mua nhà ở xã
hội và thuê, mua nhà ở thƣơng mại và 5 năm đối với khách hàng là doanh nghiệp,
nhƣng không vƣợt quá thời điểm 01/06/2023.
Ngoài ra TT còn quy định thời hạn cho vay đối với khách hàng mua, thuê, thuê
mua nhà ở xã hội và thuê, mua nhà ở thƣơng mại tối thiểu là 10 năm. Trƣờng hợp
khách hàng có nhu cầu vay dƣới 10 năm thì khách hàng đƣợc thỏa thuận với ngân
hàng thời hạn cho vay thấp hơn thời hạn cho vay tối thiểu. Và thời hạn cho vay đối với
khách hàng doanh nghiệp tối đa là 5 năm.
19
CHƢƠNG 2:
THỰC TRẠNG VỀ VIỆC GIẢI NGÂN
GÓI HỖ TRỢ 30.000 TỶ ĐỒNG CỦA CHÍNH PHỦ
2.1 TÌNH HÌNH GIẢI NGÂN HIỆN TẠI:
2.1.1 TÌNH HÌNH TIẾP CẬN KHOẢN VAY:
Hiện tại, nhiều doanh nghiệp bất động sản không đủ sức tiếp cận tới gói vay ƣu
đãi 30.000 tỷ đồng. Nếu tình trạng này không đƣợc giải quyết sớm thì chính sách sẽ
rơi vào bế tắc, không có xây, không có nhà để mua.
Tại buổi Giao lƣu trực tuyến “Nhà ở xã hội – Cơ hội cho ngƣời nghèo” tổ chức
sáng ngày 20/8/2013, Thứ trƣởng Nguyễn Trần Nam cho biết: Tính đến ngày 9/8, Bộ
Xây dựng đã có 2 danh sách giới thiệu 59 doanh nghiệp mà có dự án nhà ở xã hội ở
nhiều tỉnh thành phố trên cả nƣớc, với các loại hình cơ cấu doanh nghiệp nhà nƣớc,
doanh nghiệp tƣ nhân, doanh nghiệp cổ phần.
Bộ Xây dựng sẽ thẩm định chủ đầu tƣ giới thiệu sang NHNN và Ngân hàng
Thƣơng mại đƣợc ủy quyền. Tổng số vốn đề xuất cho vay của các doanh nghiệp trên là
5.000 tỷ đồng.
Tuy nhiên, cho đến nay, NHNN mới xác nhận vốn vay cho 2 doanh nghiệp ở
Tp.HCM và Huế, trong đó mới có 1 doanh nghiệp đƣợc giải ngân. Việc của các ngân
137.5
235
Số tiền giải ngân (tỷ đồng)
tháng 3/2014 vừa qua, tỉ lệ đã giải ngân trong gói hỗ trợ nhà ở này mới vào khoảng
hơn 4%.
Nói về tiến độ giải ngân gói 30.000 tỷ đồng, Bộ trƣởng BXD Trịnh Đình Dũng
cho biết nhu cầu mua nhà ở xã hội của ngƣời dân hiện rất lớn. Tuy nhiên, đây là vấn
đề trung và dài hạn nên không thể giải ngân nhanh gói tín dụng ƣu đãi lãi suất đƣợc.
Bên cạnh đó, ngƣời dân cũng cần phải có thời gian tìm hiểu, cân nhắc các lợi ích, khả
năng tài chính, trả nợ.
Bộ xây dựng cũng đã có văn bản đề nghị các ngân hàng tạo điều kiện tối đa để
ngƣời dân và doanh nghiệp tiếp cận dễ dàng gói tín dụng hỗ trợ lãi suất này. Theo đó,
khách hàng đủ điều kiện mua nhà ở xã hội chỉ cần có công văn xác nhận thu nhập của
cơ quan, thay vì phải xin xác nhận của chính quyền nhƣ trƣớc đây. Ngoài ra, Bộ Xây
dựng cũng đã cụ thể hóa các tiêu chuẩn chuyển đổi nhà ở thƣơng mại sang nhà ở xã
hội để ngƣời dân dễ dàng hơn trong việc tiếp cận vốn mua nhà.
Theo số liệu mới nhất, đến ngày 31/3/2014, các ngân hàng đã cam kết cho vay
3.489 khách hàng với tổng số tiền đạt 3.094 tỷ đồng. Trong đó, đã giải ngân cho 3.463
khách hàng với dƣ nợ cho vay đạt 1.441 tỷ đồng. Riêng số khách hàng cá nhân đƣợc
các ngân hàng cam kết cho vay là 3.470 ngƣời với số tiền 1.304 tỷ đồng, trong đó đã
giải ngân theo tiến độ cho 3.450 khách hàng với dƣ nợ 833 tỷ đồng.
Đối với khách hàng doanh nghiệp , hiện NHNN đã xác nhận các ngân hàng
thƣơng mại đã ký hợp đồng tín dụng với 19 doanh nghiệp với 21 dự án. Tổng số tiền
cam kết giải ngân nguồn tái cấp vốn của NHNN là 1.790 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng 20%
tổng nguồn vốn hỗ trợ nhà ở dành cho doanh nghiệp. Trong đó đã giải ngân cho 13
doanh nghiệp với dƣ nợ 608 tỷ đồng. Nhƣ vậy, tính trên cam kết là chiếm 10%, còn
thực tế đã giải ngân 6%.
21
2.2.2 TÀI SẢN THẾ CHẤP:
Một khó khăn nữa doanh nghiệp vấp phải khi tiếp cận gói tín dụng 30.000 tỷ
đồng là tài sản thế chấp khi vay vốn. Hiện nay các quy định về điều kiện thế chấp khi
vay tiền ngân hàng đƣợc quy định trong luật tín dụng, bắt buộc các doanh nghiệp đi
vay tiền ngân hàng phải có thế chấp.
Để tháo gỡ, theo Thứ trƣởng Nguyễn Trần Nam, BXD đã có giải pháp là các
doanh nghiệp có thể dùng tài sản sau vốn vay để thế chấp, tuy nhiên vƣớng mắc hiện
nay là quyền sử dụng đất của các doanh nghiệp nhà nƣớc.
22
Nhà nƣớc không thu tiền, do đó có vƣớng mắc trong vấn đề thế chấp. Mặt khác,
nếu nhƣ doanh nghiệp mà dùng tài sản hình thành trên đất thì đến lƣợt ngƣời đi vay để
mua không còn dùng cái đó để thế chấp đƣợc nữa.
Giải quyết vấn đề, Phó thủ tƣớng Hoàng Trung Hải, trƣởng ban Chỉ đạo Trung
ƣơng về chính sách nhà ở và thị trƣờng bất động sản đã giao cho Bộ Tƣ pháp phối hợp
với BXD và NHNN họp bàn, có giải pháp hƣớng dẫn các ngân hàng và các doanh
nghiệp.
2.2.3 CÓ THỂ SỬ DỤNG VỐN SAI MỤC ĐÍCH:
Nếu không có cơ chế giám sát chặt chẽ, nguồn vốn bị sử dụng sai mục đích rất dễ
xảy ra. Doanh nghiệp A đƣợc vay tiền vì có dự án xây dựng nhà ở xã hội, nhƣng số
tiền vay có đƣợc sử dụng đúng mục đích mới là điều quan trọng.
Trong khi gói 30.000 tỷ đồng gặp khó khăn trong triển khai, một diễn biến thực
tế phát sinh đang gây nghi ngại dƣ luận: liệu đồng tiền có đi đúng địa chỉ? Đó là việc
khi có thông tin đƣợc hƣởng lãi suất ƣu đãi 5%/năm từ gói kích cầu 30.000 tỷ đồng,
nếu doanh nghiệp đầu tƣ xây dựng nhà ở xã hội hoặc nhà ở thƣơng mại thỏa mãn một
số điều kiện, lập tức hàng loạt doanh nghiệp đăng ký xây nhà ở xã hội hoặc xin chuyển
nhà ở thƣơng mại sang nhà ở xã hội.
Bên cạnh đó, nhiều ngân hàng thƣơng mại công bố tỷ trọng phân bổ cho vay từ
2
để đáp ứng nhu cầu cho các cá nhân đủ điều
kiện vay mua, thuê, thuê mua nhà theo chƣơng trình hỗ trợ nhà ở.
2.2.4 NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI QUÁ THẬN TRỌNG:
Trên thực tế, mặc dù các nhà băng vẫn đang loay hoay với bài toán giải ngân
nguồn vốn đang tồn đọng, song với gói tín dụng 30.000 tỷ đồng không phải nhà băng
nào cũng sẵn sàng cho vay. Để vay đƣợc nguồn vốn này, bên vay phải đáp ứng đƣợc
đầy đủ các tiêu chí đƣa ra của mỗi ngân hàng cũng nhƣ của gói tín dụng. Đây chính là
nút thắt căn bản làm nản lòng khách hàng khi tiếp cận gói tín dụng này.
Điều đáng nói, từ đầu năm 2014, CP đã liên tiếp yêu cầu và nhắc nhở các cơ
quan liên quan đẩy nhanh tiến độ giải ngân gói tín dụng 30.000 tỷ đồng, nhƣng đến
nay tình hình vẫn bế tắc.
Bên cạnh việc tạo điều kiện cho khách hàng vay vốn, cũng cần phải có quy định
để xác định đúng đối tƣợng khách hàng đƣợc vay ƣu đãi lãi suất mua nhà đối với gói
hỗ trợ. Còn với các quy định hiện nay vẫn rất khó để xác định đúng các đối tƣợng cho
vay ƣu đãi.
Nhìn nhận ở khía cạnh khác, tín dụng bất động sản đƣợc xem là lĩnh vực chứa
đụng rủi ro cao, nên dù ngân hàng hô hào đẩy mạnh cho vay nhƣng trên thực tế vẫn rất
thận trọng nhằm hạn chế tối đa rủi ro, gia tăng nợ xấu.
Lý giải cho sự chậm trễ trong giải ngân gói tín dụng 30.000 tỷ đồng, trọng tâm
của gói tín dụng này là hƣớng đến giải ngân cho các dự án nhà ở xã hội, trong khi trên
thị trƣờng lại đang thiếu hụt nguồn cung.
2.2.5 CHỜ ĐỘNG THÁI MỚI:
Kể từ khi gói tín dụng 30.000 tỷ đồng kích hoạt (ngày 01/06/2013) đến nay, đã
không ít ngƣời hy vọng sẽ tiếp cận đƣợc gói tín dụng này từ các ngân hàng. Thế
nhƣng, kỳ vọng nhiều thất vọng lại lớn.
24
chậm chính là nguồn cung nhà ở xã hội và nhà ở thƣơng mại có quy mô dƣới 70m
2
và
có giá dƣới 15 triệu đồng/m
2
thời điểm này khan hiếm. Trong số các dự án đề xuất vay
trong gói 30.000 tỷ, nhiều dự án chƣa hoàn tất các thủ tục.
25
Bên cạnh đó là vƣớng mắc về thủ tục liên quan đến việc cơ quan công chứng
không đồng ý công chứng.Hợp đồng thế chấp tài sản đảm bảo hình thành trong tƣơng
lai là căn nhà hình thành từ vốn vay. Tƣơng tự, thủ tục xác nhận của cấp xã về thực
trạng nhà ở hiện còn khó khăn, đƣợc đánh giá chƣa thuận lợi cho ngƣời dân có nhu
cầu.
Một nguyên nhân khác khiến gói 30 nghìn tỷ có tiến độ giải ngân chậm là do thủ
tục để đi vay quá gắt gao khiến ngƣời dân khó tiếp cận đƣợc vốn vay. Theo quy định là
ngƣời có thu nhập thấp muốn vay tiền thì phải chứng minh khả năng trả nợ tại các ngân
hàng thƣơng mại. Nhiều ngƣời cho rằng quy định này đang có biểu hiện thiếu khả thi.
Đã là ngƣời có thu nhập thấp thì khó có thể chứng minh đƣợc thu nhập của mình có
khả năng để ra một phần thu nhập cho nhà ở.
Nơi tọa lạc của những ngôi nhà xã hội nằm khá xa trung tâm, mang lại bất tiện về
đi lại nên các đối tƣợng không muốn tiếp cận.
Mặt khác, theo quy định, NHTM cho vay phải chịu hoàn toàn rủi ro nếu không
thu hồi đƣợc nợ. Nhƣ vậy, với những đối tƣợng cho vay theo quy định thì việc cho vay
sẽ trở nên rất rủi ro. Thực tế thì các ngân hàng cũng đã rất thận trọng trong việc cho
vay gói này. Với mức chênh lệch lãi suất chỉ có 1,5-2% một mức quá nhỏ so với rủi ro
mà họ phải chịu khi cho đối tƣợng nằm trong gói 30.000 tỷ vay nhà.
2.4 THUẬN LỢI:
Tuy gói hỗ trợ 30000 tỷ đồng này giải ngân với tốc độ khá chậm, Ngân hàng Nhà