Lời mở đầu:
Khủng hoảng tài chính Đông Á là cuộc khủng hoảng tài chính bắt đầu từ
tháng 7 năm 1997 ở Thái Lan rồi ảnh hưởng đến các thị trường chứng khoán, trung
tâm tiền tệ lớn, và giá cả của những tài sản khác ở vài nước châu Á, nhiều quốc gia
trong đó được coi như là "những con Hổ Đông Á". Cuộc khủng hoảng này còn
thường được gọi là Khủng hoảng tiền tệ Đông Á.
Thái Lan và một số nước Đông Nam Á đã cố gắng thực hiện cái mà các nhà
kinh tế gọi là Bộ ba chính sách không thể đồng thời. Họ vừa cố định giá trị đồng tiền
của mình vào Dollar Mỹ, vừa cho phép tự do lưu chuyển vốn (tự do hóa tài khoản
vốn). Kinh tế Đông Nam Á tăng trưởng nhanh trong thập niên 1980 và nửa đầu thập
niên 1990 đã tạo ra sức ép tăng giá nội tệ. Để bảo vệ tỷ giá cố định, các ngân hàng
trung ương Đông Nam Á đã thực hiện chính sách tiền tệ nới lỏng. Kết quả là cung
tiền tăng gây ra sức ép lạm phát. Chính sách vô hiệu hóa (sterilization policy) đã
được áp dụng để chống lạm phát vô hình chung đẩy mạnh các dòng vốn chảy vào
nền kinh tế. Chính sách tiền tệ nới lỏng và việc tự do hóa tài chính ở Mỹ, châu Âu và
Nhật Bản cuối thập niên 1980 đã khiến cho tính thanh khoản toàn cầu trở nền cao
quá mức. Các nhà đầu tư ở các trung tâm tiền tệ nói trên của thế giới tìm cách thay
đổi danh mục tài sản của mình bằng cách chuyển vốn đầu tư ra nước ngoài. Trong
khi đó, các nước châu Á lại thực hiện chính sách tự do hóa tài khoản vốn. Lãi suất ở
các nước châu Á cao hơn ở các nước phát triển. Chính vì thế, các dòng vốn quốc tế
đã ồ ạt chảy vào các nước châu Á.
Các nhà phân tích đã chỉ ra rằng: Nguyên nhân trực tiếp của khủng hoảng
tài chính Đông Á năm 1997 là những cuộc tấn công đầu cơ và việc rút vốn đồng loạt
khỏi các nước châu Á. Những nguyên nhân sâu xa nói trên rồi cũng bộc lộ. Thị
trường bất động sản của Thái Lan đã vỡ. Một số thể chế tài chính bị phá sản. Người
ta không còn tin rằng chính phủ đủ khả năng giữ nổi tỷ giá hối đoái cố định. Khi phát
hiện thấy những điểm yếu chết người trong nền kinh tế của các nước châu Á, một số
thể chế đầu cơ vĩ mô đã tiến hành tấn công tiền tệ châu Á. Các nhà đầu tư nước ngoài
đồng loạt rút vốn ra. Như vậy, dòng vốn đầu tư gián tiếp bên cạnh những ý nghĩa
riêng với nền kinh tế, cũng tiềm ẩn nhiều rủi ro hơn so với các kênh huy động vốn
từ nước ngoài khác. Do vậy, trong đề tài thảo luận của mình, nhóm 6 đi sâu phân
thị trường khác hoặc chứng khoán khác với tỷ suất lợi tức dự tính cao hơn, an toàn
hơn. Tính thanh khoản cao của FPI khiến cho hình thức đầu tư này trở thành khoản
mục đầu tư ngắn hạn mặc dù cố phiếu được coi là chứng khoán dài hạn và nhiều
loại trái phiếu giao dịch trên TTCK có thời gian đáo hạn dài hơn 1 năm.
2.2 Tính bất ổn định
Tính thanh khoản cao là nguyên nhân làm cho dòng vốn FPI mang tính bất ổn
định. Sự bất ổn định, trong một giới hạn nào đó có thể có lợi do nó làm cho thị
trường tài chính nội địa hoạt động năng động và hiệu quả hơn, vốn đầu tư không
ngừng được phân bổ lại, dịch chuyến từ nơi có tỷ suất lợi nhuận thấp sang nơi có tỷ
suất lợi nhuận cao. Tuy nhiên, nếu điều đó xảy ra với tốc độ quá nhanh, những ảnh
hưởng xấu đến hệ thống tài chính và tình trạng bất ổn định của nền kinh tế xảy ra là
không thể tránh khỏi. Vấn đề trở nên nghiêm trọng hơn đối với các nước có thị
trường tài chính mới hình thành và nền kinh tế còn trong giai đoạn chuyển đổi như
Việt Nam.
2.3 Tính dễ đảo ngược
Tính dễ đảo ngược của dòng vốn FPI thực sự gây tác động xấu đến nền kinh tế,
nó là hệ quả của hai đặc tính thanh khoản cao và bất ổn định. Do dễ đảo ngược cho
nên có thể chỉ trong khoảng thời gian ngắn một lượng vốn FPI lớn tháo lui “bẻ ghi”
đầu tư sang thị trường khác để lại hậu quả khôn lường cho nền kinh tế. Kinh nghiệm
khủng khoảng kinh tế tài chính của các nước châu á vào cuối thập kỷ 90 của thế kỷ
20 đă cho thấy tác hại của sự đảo ngược dòng vốn FPI khi nền kinh tế của các quốc
gia này xuất hiện những khoảng trống, hậu quả là nền kinh tế bong bóng nhanh
chóng bị sụp đổ mà trong ngắn hạn khó có thể khắc phục được.
3. Các tác động của FPI:
FPI có vai trò lớn trong nển kinh tế tòan cầu nói chung và đối với từng nước
nói riêng. FPI có tác động nhiều mặt, cả tích cực và tiêu cực đối với nước đầu tư và
nước nhận vốn đầu tư.
3.1. Những tác động tích cực:
Thứ nhất, trực tiếp làm tăng tổng vốn đầu tư gián tiếp và gián tiếp làm tăng
tổng vốn đầu tư trực tiếp của xã hội. Dòng vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài khi đổ
đầu tư gián tiếp nước ngoài và phát triển thị trường tài chính sẽ đặt ra những yêu cầu
mới và cũng tạo các công cụ, khả năng mới cho quản lý nhà nước nói chung và quản
lý, quản trị doanh nghiệp nói riêng. Việc quản lý và quản trị doanh nghiệp phát hành
chứng khoán sẽ được thực hiện nghiêm túc, hiệu quả hơn do yêu cầu về báo cáo tài
chính doanh nghiệp và minh bạch hoá, cập nhật hoá thông tin liên quan đến các
chứng khoán mà doanh nghiệp đã và sẽ phát hành. Hơn nữa, về nguyên tắc, các nhà
đầu tư chỉ lựa chọn đầu tư vào chứng khoán của các doanh nghiệp đáng tin cậy,
đang và sẽ có triển vọng, phát triển tốt trong tương lai. Chính điều này sẽ cho phép
quá trình “chọn lọc nhân tạo”, “bỏ phiếu” cho sự hỗ trợ và phát triển các doanh
nghiệp này trở nên khách quan và phù hợp cơ chế thị trường hơn (còn những doanh
nghiệp khác mà chứng khoán của họ không hấp dẫn sẽ phải điều chỉnh lại định
hướng và chất lượng quản trị kinh doanh, sáp nhập hoặc giải thể). Hệ thống luật
pháp, cũng như các cơ quan, bộ phận và cá nhân tỏng hệ thống quản lý nhà nước
liên quan đến thị trường tài chính, nhất là đến đầu tư gián tiếp nước ngoài sẽ phải
được hoàn thiện, kiện toàn và nâng cao năng lực hoạt động hơn theo yêu cầu, đặc
điểm của thị trường này, cũng như theo các cam kết hội nhập quốc tế. Đồng thời,
thông qua tác động vào thị trường tài chính, nhà nước sẽ đa dạng hoá các công cụ và
thực hiện hiệu quả việc quản lý của mình theo các mục tiêu lựa chọn thích hợp. Trên
cơ sở đó, năng lực và hiệu quả quản lý nhà nước đối với nền kinh tế nói chung, thị
trường tài chính nói riêng sẽ được cải thiện hơn.
3.2.Một số tác động tiêu cực:
Bên cạnh những tác động tích cực nêu trên, việc gia tăng thu hút vốn đầu tư
gián tiếp nước ngoài vào Việt Nam có thể gây ra một số tác động tiêu cực sau:
Thứ nhất, làm tăng mức độ nhạy cảm và bất ổn về kinh tế có nhân tố nước
ngoài. Vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài được thực hiện dưới dạng đầu tư tài chính
thuần tuý với các chứng khoán có thể chuyển đổi và mang tính thanh khoản cao trên
thị trường tài chính, nên các nhà đầu tư gián tiếp nước ngoài dễ dàng và nhanh
chóng mở rộng hoặc thu hẹp, thậm chí đột ngột rút vốn đầu tư của mình về nước,
hay chuyển sang đầu tư dưới dạng khác, ở địa phương khác tuỳ theo kế hoạch và
mục tiêu kinh doanh của mình. Trong tình huống như vậy, một sự đổ vỡ, một cuộc
nước và gây sụp đổ một nội các Chính phủ.
Ngoài ra, sự gia tăng dòng vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài vào Việt Nam
còn đặt ra yêu cầu Chính phủ và các cơ quan Trung ương phải chủ động đổi mới và
sử dụng hiệu quả các công cụ quản lý kinh tế của mình theo nguyên tắc thị trường
hơn, trong đó có việc sử dụng bảo lãnh nhà nước, quy định tỷ lệ và sử dụng các
công cụ dự phòng, dư nợ cũng như các công cụ khác của các định chế tài chính -
tiền tệ quốc gia và địa phương. Tất cả những điều này là cần thiết để đảm bảo sự thu
hút và khai thác có hiệu quả các tác động tích cực của dòng vốn đầu tư gián tiếp
nước ngoài. Nguồn vốn nước ngoài đầu tư gián tiếp vào thị trường chứng khoán lại
là dòng vốn ngắn hạn, đưa vào cũng rất nhanh và rút ra cũng rất nhanh, tính theo
phiên trong từng ngày, tùy theo động thái nóng, lạnh của giá cổ phiếu, trái phiếu
trên thị trường chứng khoán hay sự tác động của chính sách quản lý của nhà nước
bản địa.
Tính "đầu cơ" của nguồn vốn này thường cao hơn nhiều so với tính "đầu tư"
("đầu cơ" chỉ nhằm thu lợi nhanh - mua ồ ạt lúc giá cổ phiếu, trái phiếu thấp để nâng
giá, sau đó lại bán ồ ạt lúc giá cổ phiếu, trái phiếu cao; "đầu tư" cũng nhằm thu lợi
nhuận nhưng đầu tư nhằm phát triển để thu lợi nhuận lâu dài). Trên thế giới hiện có
nhiều quỹ đầu tư mang nặng tính đầu cơ và đã có nhiều tấm gương tày liếp về sự
tham gia của các quỹ mang tính đầu cơ này. Chỉ với vài ba tỉ USD, một quỹ đầu tư
đã làm cho đồng bảng Anh phải rút khỏi thị trường châu Âu cách đây vài chục năm.
Cũng với quỹ đầu tư đó (cộng với sự yếu kém trên thị trường tài chính trong
nước) cách đây mươi năm đã khiến cho châu Á lâm vào cuộc khủng hoảng tiền tệ,
bắt đầu từ Thái Lan, sau đó tác động dây chuyền đến nhiều nước, như Indonesia,
Malaysia, Philippines, Hàn Quốc… làm cho người dân ở những nước này kinh
hoàng (chỉ sau một đêm ngủ dậy đã thấy tài sản của mình sụt xuống còn một nửa),
Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF) phải khẩn cấp hỗ trợ hàng trăm tỉ USD. Quỹ đầu tư trên
chỉ bị thua khi "chiến đấu" với Trung Quốc và Hồng Kông - hai đối thủ có lượng dự
trữ ngoại tệ khổng lồ!
Nếu trước đây, các nhà đầu tư nước ngoài hầu như chỉ có mua, không có bán,
gần đây đã chuyển sang vừa mua, vừa bán, có phiên bán nhiều hơn mua… Do có
triển.
Các hình thức đầu tư gián tiếp nước ngoài:
Các hình thức đầu tư gián tiếp nước ngoài bao gồm: Mua cổ phần, cổ phiếu,
trái phiếu và các loại giấy tờ có giá khác thông qua quỹ đầu tư chứng khoán hoặc
thông qua các định chế tài chính trung gian khác.
Vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài đổ vào các nước tồn tại dưới các loại quỹ hoặc
các công ty tài chính dưới một số dạng như:
- Quỹ tương hỗ
- Quỹ trợ cấp và hưu bổng
- Công ty bảo hiểm (Insurance Firm
- Các tổ chức tài chính (Financial Corporation)
- Quỹ đầu tư mạo hiểm (Venture Capital Funds)
Các nhân tố ảnh hưởng đến nguồn vốn FPI.
Nguồn vốn FPI chịu ảnh hưởng của các nhân tố sau:
- Bối cảnh quốc tế (hòa bình, ổn định vĩ mô, các quan hệ ngoại giao và môi
trường pháp lý quốc tế thuận lợi).
- Nhu cầu và khả năng đầu tư của nhà đầu tư nước ngoài.
- Mức độ tự do hóa và cạnh tranh (chủ yếu là ưu đãi tài chính và sự thân thiện,
sự thuận tiện của quản lý nhà nước đối với nhà đầu tư) của môi trường đầu tư trong
nước.
- Sự phát triển của hệ thống tiền tệ và các dịch vụ hỗ trợ kinh doanh nói riêng,
của các thể chế thị trường nói chung ở nước tiếp nhận đầu tư.
Ngoài ra dòng FPI cũng chịu ảnh hưởng mạnh mẽ từ các yếu tố khác như:
- Sự phát triển và độ mở cửa của thị trường chứng khoán, chất lượng của các
cổ phiếu, trái phiếu do doanh nghiệp và Nhà nước phát hành, cũng như các chứng
khoán có giá khác lưu thông trên thị trường tài chính.
- Sự đa dạng và vận hành có hiệu quả của các định chế tài chính trung gian
(trước hết là quỹ đầu tư chứng khoán, công ty đầu tư tài chính các loại, các quỹ đầu
tư đại chúng, quỹ đầu tư mạo hiểm, quỹ thành viên).
- Sự phát triển và chất lượng của hệ thống thông tin và dịch vụ chứng khoán,
dự trữ ngoại tệ tăng: đây là một cơ hội để kiểm soát tốt các yếu tố vĩ mô như tỷ giá,
Nợ nước ngoài, đầu tư trực tiếp nước ngoài, thâm hụt tài khoản vãng lai…
Cụ thể: chưa bàn tới việc tác hại của nợ nước ngoài nếu đầu từ khoản nợ này không
tốt, chính dựa vào lượng Dự trữ ngoại tệ lớn là một khoản đối ứng, và đảm bảo để
thu hút và có thể vay được vốn từ nước ngoài với các lãi suất cạnh tranh.
Thêm nữa, với lượng dữ trữ này là nguồn để thanh toán các khoản nợ ngắn hạn,
tránh được các nguy cơ khi các khoản nợ ngắn hạn đã đến hạn.
Thứ 3, Dòng vốn đầu tư gián tiếp làm sôi động thị trường tài chính.
Như ta đã biết, Chỉ số chứng khoán là phong vũ biểu phản ánh thực tế kinh
doanh phát triển của nền kinh tế. Khi nguồn vốn gián tiếp được tăng cường bổ sung,
xuất hiện nhiều hơn các quỹ đầu tư, tăng thêm được quy mô vốn của các quỹ đầu tư
cũ, như vậy tăng cường hoạt động mua và bán trên thị trường chứng khoán. Khối
lượng và giá trị giao dịch tăng lên, mở rộng tính thanh khoản của thị trường, bên
cạnh đấy tạo cơ hội nhanh chóng để mở rộng vốn của các doanh nghiệp khi thực
hiện IPO. Biểu hiện rõ theo mô hình được thống kê như sau:
Ở Thái lan:
Nhìn vào mô hình ta thấy, trước khi có khủng hoảng: trước tháng 5/1997 chỉ số
chức khoán được đưa lên rất cao 860 điểm.
Ở Malaysia:
Từ các năm từ 1993 đến 1997: Chỉ số chứng khoán luôn giữ ở mức độ cao: 1000
đến 1350 điểm.
2. Tác động tiêu cực lên nền kinh tế của các nước.
2.1. Cơ chế biến động lãi suất kì vọng dẫn đến rút vốn hàng loạt.
Dòng vốn đầu tư gián tiếp sẽ hoạt động theo chu trình sẽ chảy theo lãi suất
(lợi tức kỳ vọng tương lai – mà trong lý thuyết của Keynes đưa ra khái niệm tinh
thần động vật (animal spirit), là đặc tính tâm lý của con người có những hành động
tức thời trước hoàn cảnh, không hoàn toàn thuần lý. Doanh nghiệp, cá nhân thường
dao động mạnh, tùy theo các điều kiện kinh tế hiện thời. Trong các giai đoạn khác
nhau của chu kỳ kinh tế, như thời kỳ bùng nổ và suy thoái càng khuyếch đại khuynh
hướng hiện thời vì nhiều lý do tâm lý).
t+1
là tỷ giá kỳ vọng vào thời điểm (t+1). Với giả thiết rằng thị
trường tài chính là thị trường cạnh tranh, điều kiện ngang bằng tổng lợi tức trên
thị trường tài sản được thể hiện bỡi phương trình sau
Một cách tương đương ta có thể viết lại như sau
Với công thức trên cho ta thấy rằng lãi suất Mỹ sẽ khác với lãi suất Thái lan và
khoảng chênh lệch này sẽ bằng % giảm giá của đồng Baht và phí bù rủi ro quốc
gia. Chúng ta có thể viết gọn hơn như sau
Trong đó θ được gọi là phí bù rủi ro
b. Mô hình Mundell-Fleming với sự chênh lệch lãi suất
Từ những phân tích trên cho thấy có sự khác biệt giữa lãi suất trong nước và lãi
suất nước ngoài. Bây giờ chúng ta đưa sự khác biệt lãi suất này vào mô hình
Mulldell-Fleming. Mô hình này được thể hiện bỡi 2 phương trình cơ bản sau
đây
Nếu chúng ta giả thiết θ không đổi, việc phân tích tác động của chính sách tài
khoá và chính sách tiền tệ không có gì thay đổi. Bây giờ chúng ta giả thiết có dự
đoán giá trị đồng bản tệ giảm xuống làm cho θ tăng lên. Tác động trực tiếp
nhất là lãi suất trong nước (r) tăng lên. Khi lãi suất trong nước tăng lên sẽ có 2
tác động. Trước hết, lãi suất tăng sẽ làm cho đầu tư giảm kéo theo sự giảm sút
trong tổng cầu. Điều này sẽ làm cho đường IS* dịch chuyển sang trái. Thứ nhì,
khi lãi suất tăng sẽ làm cho cầu tiền giảm. Với cung tiền không đổi, lúc này thu
nhập sẽtăng lên để tạo sự cân băng trên thị trường tiền tệ và đường LM* sẽ dịch
chuyển sang phải. Kết quả cuối cùng là thu nhập (Y) tăng cùng với giá đồng bản
tệ (e) giảm
Phân tích này có ý nghĩa khá quan trọng, Dự đoán về sự mất giá của một
đồng tiền trong tương lai sẽ làm cho đồng tiền đó mất giá ở hiện tại. Cuộc khủng
hoảng tiền tệ xảy ra ở các nước Đông Nam Á vào năm 1997 và 1998 là kết quả của
một sự thay đổi đột ngột về sự dự đoán giá trị của tiền tệ.
2.2. Thực trạng nội tại của nền kinh tế thúc đẩy sự rút vốn hàng loạt.
Qua phân tích các nguy cơ để khủng hoảng kinh tế ta thấy khủng hoảng chỉ
nghiệp nào hoạt động vốn đã kém hiệu quả, thì giờ đây sẽ không đủ vốn để kinh
doanh, càng sớm bị đẩy tới thua lỗ và phá sản. Khi doanh nghiệp thua lỗ thì các
ngân hàng, công ty tài chính lại không đòi được nợ, sẽ càng phá sản nhanh hơn.
2.3. Một số chỉ số thực tế phản ánh kết quả của khủng hoảng kinh tế 1997.
- Sự biến động của tỷ giá hối đoái.
- Sự phá sản của các ngân hàng và doanh nghiệp.
class="bi x0 y101 w9 hc"
III. Thực trạng đầu tư gián tiếp nước ngoài vào Việt Nam, giải pháp và bài học
1. Sự cần thiết thu hút FPI ở Việt Nam:
Trên thế giới, nguồn vốn đầu tư nước ngoài ngày càng giữ vai trò quan trọng
đối với sự phát triển của mỗi quốc gia. Nguồn vốn này bao gồm đầu tư trực tiếp
(FDI) và đầu tư gián tiếp (FPI). Trong khi nguồn vốn FDI có vai trò trực tiếp thúc
đẩy sản xuất, thì FII lại có tác động kích thích thị trường tài chính phát triển theo
hướng nâng cao hiệu quả hoạt động, mở rộng quy mô và tăng tính minh bạch, tạo
điều kiện cho doanh nghiệp trong nước dễ dàng tiếp cận với nguồn vốn mới; nâng
cao vai trò quản lý nhà nước và chất lượng quản trị doanh nghiệp, có tác động thúc
đẩy mạnh mẽ các mối quan hệ kinh tế.
Đối với Việt Nam, thu hút nguồn vốn FPI mang một ý nghĩa rất quan trọng.
Để thực hiện thành công sự nghiệp CNH-HĐH đất nước, Việt Nam cần một lượng
vốn đầu tư rất lớn (khoảng 140 tỷ USD) cho giai đoạn (2006-2010) để xây dựng,
từng bước hoàn thiện kết cấu hạ tầng kinh tế và hạ tầng xã hội. Các doanh nghiệp
Việt Nam đang trong quá trình cải cách và cổ phần hóa nhằm gia tăng năng lực và
hiệu quả cạnh tranh khi gia nhập WTO. Cổ phần hóa phải đi đôi với việc hình thành
các thị trường vốn, các kênh huy động vốn (hạt nhân là thị trường chứng khoán
(TTCK). Các mối quan hệ kinh tế gia tăng, dòng vốn lưu chuyển nhanh sẽ góp phần
tạo ra các hiệu ứng tốt tác động đến các doanh nghiệp. Lợi ích của hội nhập không
những được đánh giá thông qua sự luân chuyển (vào, ra) dễ dàng của dòng hàng
hóa, dòng người mà còn có cả dòng vốn.Việc tham gia của các nhà đầu tư FII sẽ có
tác động mạnh mẽ đến thị trường tài chính, giúp cho thị trường tài chính minh bạch
và hoạt động hiệu quả hơn, xác lập giá trị thị trường của các cổ phiếu niêm yết một
ngoài vào Việt Nam. Ở giai đoạn này, cùng với sự đi lên của thị trường chứng
khoán, luồng vốn liên tục tăng nhanh và liên tục thu hoạch thành công. Có 19 công
ty quản lý quỹ được hình thành và trên 1000 nhà đầu tư trên khắp thế giới đăng ký
tài khoản tại Việt Nam, trong đó có nhiều công ty đa quốc gia. Chỉ riêng thời điểm
cuối năm 2006, vốn FPI là trên 2 tỷ USD, cao hơn tất cả các giai đoạn trước cộng
lại, và đến năm 2007 đạt đến mức kỷ lục, khoảng 8 tỷ USD. Vào giai đoạn này,
lượng đầu tư chủ yếu vào thị trường trái phiếu. Việc bùng nổ FPI góp phần thúc đẩy
hệ thống ngân hàng Việt Nam phát triển mạnh.
- Giai đoạn 5 (2008-nay): giai đoạn này chứng kiến nhiều bước thăng trầm của
nguồn vốn FPI vào Việt Nam. Cùng với sự sụp giảm của thị trường chứng khoán và
khủng hoảng kinh tế toàn cầu, FPI từ tháng 5-2008 đến khoảng tháng 3-2009 đã có
giảm rõ rệt, lần lượt các nhà đầu tư rút ra khỏi thị trường Việt Nam, đỉnh điểm là
vào cuối năm 2008, giao dịch gần như đóng băng. Tuy nhiên, theo một số nhận định
của các chuyên gia kinh tế, kế từ quý II/2009, các nhà đầu tư nước ngoài đã quay
trở lại thị trường Việt Nam, tuy nhiên còn khá dè dặt.
Quy mô dòng vốn đầu tư gián tiếp giai đoạn 2001-2007
- Đơn vị: Tỷ USD
Chỉ
tiêu
2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007 2008 2009
Vốn
FPI
0,02 0,03 0,07 0,17 1,19 1,9 6,3 5,7 5,2
(Nguồn: Tổng hợp từ Bộ Tài chính, Ngân hàng Nhà nước)
Tỷ lệ FPI/FDI giai đoạn 2001-2009
- Đơn vị: %
Chỉ tiêu 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007 2008 2009
Tỷ lệ
FPI/FDI
0,5 1,2 2,3 3,7 17,5 15,8 29,6 8.9 24,2
dẫn đối với những nhà đầu tư nước ngoài. Đặc biệt, trong giai đoạn 2006-2015, Việt
Nam cần một lượng vốn lớn để phát triển, lên tới 140-150 tỷ USD, trong đó 30%
lượng vốn được xác định thu hút từ bên ngoài. Thực tế, Chính phủ đã thực hiện
hàng loạt giải pháp nhằm cải thiện môi trường đầu tư để thu hút các nguồn vốn,
trong đó có FPI. Nhiều giải pháp đột phá đã được thực hiện từ 2002, như đẩy mạnh
cải cách hành chính, thúc đẩy và nâng cao hiệu quả tiến trình cổ phần hóa doanh
nghiệp nhà nước, thúc đẩy sự phát triển của thị trường chứng khoán, tăng tỷ lệ nắm
giữ cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài ở cả công ty niêm yết lẫn công ty chưa niêm
yết. Đặc biệt với việc ban hành Luật Đầu tư, Luật Doanh nghiệp và Luật Chứng
khoán với nhiều quy định thông thoáng hơn, bình đẳng hơn giữa nhà đầu tư trong
nước và nhà đầu tư nước ngoài. Những chính sách này thực sự đã làm cho môi
trường đầu tư Việt Nam trở nên thân thiện hơn đối trong con mắt những nhà đầu tư
quốc tế.
Trong 10 năm cuối trước khi trở thành 1 nước công nghiệp hiện đại vào năm
2020, lượng vốn cần để phát triển được xác định là nhiều hơn nữa. Vì vậy trong thời
gian tới, bên cạnh thu hút FDI, Việt Nam muốn đẩy mạnh hơn nữa việc thu hút FPI,
khuyến khích các nhà đầu tư đầu tư dài hạn hơn là ngắn hạn, nhằm tạo nguồn vốn
dồi dào phục vụ cho sự phát triển.
Tuy nhiên, do tính hai mặt của FPI, đồng thời với việc gia tăng lượng vốn đầu
tư gián tiếp, Việt Nam cần có những biện pháp khắc phục những mặt hạn chế của
nó. Hiện nay, nhà nước đã có những biện pháp kiểm soát cổ phần của nhà đầu tư
nước ngoài ở các doanh nghiệp trong nước. Mặc dù vậy, việc quản lý luồng vốn ra
vào còn hết sức hạn chế, một phần là do đặc tính ra vào rất nhanh của FPI, một phần
là do công tác quản lý yếu kém. Đã có một thời gian dài, sự đầu cơ nước ngoài gây
ảnh hưởng tới thị trường chứng khoán và gây mất giá tiền nội tệ. Trong thời gian
tới, Việt Nam cần chú trọng hơn trong công tác quản lý.
2. Những ưu thế và trở ngại trong việc tăng cường thu hút FPI vào Việt
Nam:
2.1. Ưu thế:
Trong nền kinh tế toàn cầu hóa như hiện nay, nhất là sau khi Việt Nam gia
điểm để phát triển nền kinh tế
Thực tiễn phát triển TTCK Việt Nam (trong đó có việc thu hút đầu tư FPI) thời gian
qua cho thấy, sự lúng túng, bất cập trong hoạch định và thực hiện chiến lược, cũng
như kế hoạch phát triển TTCK nói chung và thu hút FPI nói riêng. Trong 15 - 20
năm tới, khi mục tiêu tăng trưởng kinh tế đặt ra hàng năm là 8 - 8,5%, nhu cầu vốn
sẽ rất lớn, trong khi kênh huy động vốn truyền thống không thể đáp ứng được thì
việc thu hút FPI là rất cần thiết. Và, việc định hướng nguồn vốn này vào lĩnh vực gì
để tạo nên sự bứt phá là điều vô cùng quan trọng. Bởi, trong điều kiện năng lực cạnh
tranh của nền kinh tế nói chung, của doanh nghiệp nói riêng còn kém, yếu tố công
nghệ còn nhiều bất cập, việc chọn hướng đầu tư đúng sẽ giúp Việt Nam rút ngắn
thời gian, nhanh chóng phát triển ngang bằng các nước trong khu vực. Lĩnh vực cần
phải ưu tiên hàng đầu là đầu tư cho công nghệ cao và đầu tư cho giáo dục và đào
tạo. Thực tế, việc này cũng đã có định hướng của Chính phủ, song chưa có những
chính sách khuyến khích thiết thực với những biện pháp cụ thể có tính bứt phá nên
chưa có sự phát triển mạnh mẽ. Tuy vậy, cũng cần hiểu rằng, đầu tư vào khoa học
công nghệ cao đòi hỏi nhiều vốn, thời gian thu hồi được vốn rất lâu, mức độ rủi ro
cao nên cần phải có những chính sách ưu đãi, hỗ trợ tài chính đối với những nhà đầu
tư tham gia vào lĩnh vực này.
Thứ hai, tạo dựng hành lang pháp lý đầy đủ và đồng bộ để thu hút và
quản lý nguồn vốn này
Việc ban hành các văn bản pháp lý và cơ chế chính sách về FPI, trước hết là thể chế
FPI liên quan đến thị trường tài chính nói chung và đến nhà ĐTNN nói riêng phải
được chuẩn hóa với một môi trường đầu tư thông thoáng, minh bạch, đảm bảo
quyền và nghĩa vụ của các nhà đầu tư cũng như các chủ thể liên quan.
Ngoài ra, cần tiến hành rà soát, hoàn chỉnh các quy định hiện hành, so sánh với các
quy định của các tổ chức quốc tế, đặc biệt là các quy định của WTO cũng như
những cam kết song phương và đa phương của Việt Nam nhằm đảm bảo một hành
lang pháp lý an toàn, ổn định và dài hạn, tạo điều kiện tốt cho các dòng đầu tư gián
tiếp từ nước ngoài vào thị trường trong nước.
Thiết lập các quy định cụ thể về mua bán, sáp nhập, hợp nhất các doanh nghiệp; quy
Việt Nam cần phải coi định mức tín nhiệm như một công cụ hỗ trợ đầu tư,
góp phần tăng cường tính minh bạch, chất lượng của các công ty trong nước cũng
như mức độ tín nhiệm quốc gia của Việt Nam trong con mắt các nhà đầu tư quốc tế.
Do đó, cần có biện pháp thúc đẩy sự ra đời và hoạt động của các tổ chức phân hạng
tín nhiệm của Việt Nam. Nhà nước với vai trò “bà đỡ” cần đứng ra thành lập các tổ
chức phân hạng tín nhiệm. Sau một thời gian có thể chuyển đổi hình thức sở hữu
thành các công ty cổ phần hoạt động độc lập kết hợp với việc kêu gọi đầu tư với mô
hình 100% vốn nước ngoài hoặc kết hợp hỗn hợp các hình thức nêu trên
Trong điều kiện thị trường vốn Việt Nam còn nhỏ bé và định mức tín nhiệm
còn là một khái niệm hết sức mới mẻ thì các tổ chức định mức tín nhiệm ở Việt
Nam chỉ nên triển khai một số nghiệp vụ cơ bản, cần thiết cho sự phát triển của thị
trường vốn trong nước.Trước mắt, có 4 đối tượng cần được ưu tiên triển khai việc
định mức tín nhiệm:
Một là, xếp hạng các công cụ nợ dài hạn, bao gồm việc xếp hạng tổ chức
phát hành nợ dài hạn và xếp hạng đợt phát hành nợ dài hạn. Xếp hạng tổ chức phát
hành nợ liên quan tới việc đưa ra đánh giá chung về năng lực của tổ chức phát hành
nợ, của tổ chức bảo lãnh hoặc cung cấp các hỗ trợ tín dụng nhằm đáp ứng các cam
kết tài chính liên quan đến các nhà phát hành nợ hoạt động trên thị trường tài chính
Việt Nam. Còn xếp hạng đợt phát hành nợ dài hạn là việc đánh giá khả năng của
công ty hoàn trả vốn gốc và lãi vay.
Hai là, xếp hạng tiền gửi và khả năng tài chính của các ngân hàng thương
mại quốc doanh và thương mại cổ phần Việt Nam. Điều này liên quan tới khả năng
của một ngân hàng có thể đáp ứng đúng hạn các nghĩa vụ nợ của mình đối với các tổ
chức hoặc cá nhân gửi tiền trong và ngoài nước. Còn xếp hạng khả năng tài chính
của ngân hàng liên quan tới đặc tính an toàn và chất lượng hoạt động của một ngân
hàng, thường tính tới các yếu tố như các chỉ số tài chính cơ bản, giá trị mạng lưới
hoạt động, sự đa dạng hóa tài sản đầu tư và cả các yếu tố liên quan tới môi trường
hoạt động của ngân hàng, triển vọng của nền kinh tế
Ba là, xếp hạng các doanh nghiệp nhà nước có quy mô lớn đã và đang tiến
hành cổ phần hóa, các doanh nghiệp đang niêm yết trên TTCK Việt Nam. Việc tiến