Gói giải pháp kiểm soát dòng vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài tại Việt Nam - Pdf 11



1
MỤC LỤC

DANH MỤC BẢNG
DANH MỤC HÌNH
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
PHẦN MỞ ĐẦU ........................................................................................................ 1
PHẦN NỘI DUNG .................................................................................................... 2
CHƯƠNG 1: KIỂM SOÁT VỐN NHẰM NGĂN CHẶN SỰ ĐẢO NGƯỢC
DÒNG VỐN CỦA CÁC QUỐC GIA ....................................................................... 2
1.Mục tiêu chung của việc kiểm soát vốn ............................................................ 2
2.Lý thuyết về kiểm soát vốn ............................................................................... 5
Khái niệm ............................................................................................................. 5
Các hình thức kiểm soát vốn ................................................................................ 6
Các lý do kiểm soát vốn ........................................................................................ 6
Mặt trái của kiểm soát vốn.................................................................................... 7
CHƯƠNG 2: KINH NGHIỆM KIỂM SOÁT VỐN CỦA “NGƯỜI KHỔNG LỒ
TRUNG QUỐC„ ....................................................................................................... 8
1.Kinh nghiệm thế giới về kiểm soát vốn ............................................................ 8
2.Kinh nghiệm kiểm soát vốn của „Người khổng lồ Trung Quốc“ .................... 9
Phân khúc thị trường theo từng loại nhà đầu tư .................................................. 9
Cấp chứng nhận các nhà đầu tư đủ tư cách (QFIIs) và ban hành các quy định
dành cho QFIIs .......................................................................................................... 12
Giải pháp hỗ trợ cho việc kiềm soát dòng vốn FPI ở Trung Quốc – Đầu tư ra nước
ngoài 15 2
CHƯƠNG 3: VIỆT NAM ĐÃ LÀM GÌ ĐỂ KIỂM SOÁT VỐN TRONG THỜI

3
PHẦN KẾT LUẬN .................................................................................................... 50
PHẦN PHỤ LỤC
PHỤ LỤC 1: Những lý luận cơ bản về đầu tư gián tiếp nước ngoài
PHỤ LỤC 2: Thực trạng thu hút FPI ở Việt Nam trong thời gian qua
PHỤ LỤC 3: Kiểm định kiểm soát vốn tại Việt Nam bằng Lý thuyết ngang giá sức
mua PPP
PHỤ LỤC 4: Danh mục các ngành nghề cho phép người nước ngoài mua cổ phần
PHỤ LỤC 5: Danh mục lĩnh vực đầu tư có điều kiện áp dụng cho nhà đầu tư nước
ngoài
PHỤ LỤC 6: Danh mục những ngành nghề, lĩnh vực nhà nước nắm giữ 100% vốn
4
DANH MỤC BẢNG


BẢNG 1.1: Độ dài và mức độ ảnh hưởng sâu rộng của các cuộc khủng hoảng ............ 5
BẢNG 4.1: Hệ thống các tiêu chí của tổ chức VAFI về tỷ lệ đầu tư
của nhà ĐTNN vào lĩnh vực ngân hàng ....................................................................... 32
6
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

AIM : Alternative Investment Market- Sàn chứng khoán thứ cấp
AUM : Assets under Management
CSRC : Ủy ban quản lý chứng khoán Trung Quốc
ĐTNN : Đầu tư nước ngoài
ĐTRNN : Đầu tư ra nước ngoài
FDI : Foreign Direct Investment- Đầu tư trực tiếp nước ngoài
FPI : Foreign Portfolio Investment- Đầu tư gián tiếp nước ngoài
IMF : Quỹ tiền tệ thế giới
NHNN : Ngân hàng nhà nước
NHTW : Ngân hàng trung ương
PPP : Power Purcharsing Parity- Lý thuyết Ngang giá lãi suất
PBOC : Ngân hàng nhân dân Trung Hoa
QFII : Nhà đầu tư tổ chức nước ngoài đủ tiêu chuẩn
RMB : Cách gọi khác của đồng Nhân dân tệ
SAFE : Cơ quan quản lý ngoại hối nhà nước của Trung Quốc
TTCK : Thị trường chứng khoán 7
UBCKNN : Ủy ban chứng khoán nhà nước
USD : Đồng Đôla Mỹ
VND : Đồng Việt Nam

những thành công mà Trung Quốc đã đạt được trong việc vừa thu hút vừa kiểm soát dòng
vốn FPI trong thời gian qua, đặc biệt là từ sau khi TTCK Trung Quốc bùng nổ. Mục đích
của việc nghiên cứu này là để tìm ra gói giải pháp kiểm soát vốn thực sự hiệu quả trong
sự hài hòa với những mục tiêu còn lại của “tam giác bất khả thi”, giúp Việt Nam có thể
tiếp cận dòng vốn toàn cầu nhưng tránh được nguy hiểm. 9
PHAÀN NOÄI DUNG
CHƯƠNG 1: KIỂM SOÁT VỐN NHẰM NGĂN CHẶN SỰ ĐẢO
NGƯỢC DÒNG VỐN CỦA CÁC QUỐC GIA
1. MỤC TIÊU CHUNG CỦA VIỆC KIỂM SOÁT VỐN
Một lập luận cơ bản nói rằng một quốc gia không nên kiểm soát các tài khoản vốn,
điều đó tương tự như một lập luận ủng hộ cho việc tự do hóa thương mại hàng hóa và
dịch vụ. Cũng như lời lập luận của Stanley Fischer (1998), sự dịch chuyển dòng vốn một
cách tự do sẽ giúp dễ dàng phân bổ nguồn tiền nhàn rỗi trên thế giới một cách hiệu quả
và dẫn những nguồn tiền nhàn rỗi này đến những nơi sử dụng thiết thực nhất, từ đó là gia
tăng sự tăng trưởng kinh tế và phúc lợi.
Nói một cách dễ hiểu hơn, sự dịch chuyển vốn tự do sẽ:
(1) Gia tăng phúc lợi cho người tiêu dùng thông qua việc cung cấp nhiều cơ hội
đầu tư mang tính quốc tế hơn;
(2) Mở ra nhiều cơ hội cho sự đa dạng hóa danh mục và do đó cung cấp cho các
nhà đầu tư ở những nước công nghiệp lẫn ở các nước đang phát triển khả năng đạt được
một tỷ suất sinh lợi cao tương ứng với rủi ro cao;
Ngoài ra, Cooper (1998) còn đưa thêm ba lý do khác cho việc tự do hóa dòng vốn.
Thứ nhất, mỗi cá nhân nên được tự do tùy ý quyết định tài sản và thu nhập của chính
mình sao cho họ thấy phù hợp, miễn là điếu đó không làm tổn hại đến người khác. Lý do
thứ hai là các rào cản ngăn cấm các dòng vốn tự do sẽ không còn hiệu lực nữa. Trong các
thị trường tài chính hiện đại, các công cụ tài chính đều có thể thay thế được và các thị
trường khả năng tránh được những sự kiểm soát vốn. Lý do thứ ba kiểm soát vốn làm

01.05.98
01.09.98
01.01.99
01.05.99
01.09.99
01.01.00
01.05.00
01.09.00
01.01.01
01.05.01
01.09.01
01.01.02
01.05.02
01.09.02
01.01.03
01.05.03
01.09.03
01.01.04
01.05.04
01.09.04
01.01.05
01.05.05
01.09.05
01.01.06
Asia Latin America Central- and Eastern Europe EMBI Global11
Tự do hoá tài khoản vốn đối với các Hệ thống tài chính yếu:


(tính theo năm)
Luỹ kế Mức độ giảm
của GDP (%)
Khủng hoảng tiền tệ 2.1 5.9
Khủng hoảng ngân hàng 2.6 6.2
Khủng hoảng tiền tệ và ngân
hàng
3.8 18.6
Tất cả các cuộc khủng hoảng 2.5 8.3
(Nguồn: Số liệu của 56 quốc gia trong khoảng thời gian 1973 – 97- Bordo, Eichengreen,
Klingebiel, Martinez-Peria (2001) Economic Policy, April 2001)
Cả trong lý thuyết và thực tiễn, sự dịch chuyển dòng vốn tự do dường như là một
con dao hai lưỡi. Một mặt nó giúp cải thiện phúc lợi của nền kinh tế. Mặt khác nó rất
nguy hiểm – đặc biệt đối với những ai chưa được chuẩn bị đầy đủ. Những lý thuyết và
bằng chứng hầu như không thể quyết định một cách chính xác là sự dịch chuyển vốn tự
do là tốt hay xấu. Do đó, không có sự dịch chuyển vốn nào tự do hoàn toàn hoặc rào cản
nào hoàn toàn cản trở sự dịch chuyển dòng vốn trong thực tế.
Định nghĩa mục đích kiểm soát vốn có lẽ là quá ngắn gọn, một định nghĩa mang
tính thực tiễn hơn đó là các mục tiêu của kiểm soát vốn thì tương tự với mục tiêu của các
chính sách vĩ mô khác, hướng đến sự ổn định kinh tế vĩ mô và duy trì sự tăng trưởng kinh
tế. Sự ổn định kinh tế vĩ mô bao gồm lạm phát thấp, tạo ra việc làm đầy đủ cho người dân
và duy trì vị thế đối ngoại. Sự tăng trưởng kinh tế chủ yếu phụ thuộc vào sự tích lũy vốn
và sự phân bổ nguồn lực hiệu quả. Vì thế, chúng ta cũng có thể định nghĩa mục tiêu của
kiểm soát vốn là lạm phát thấp, công ăn việc làm đầy đủ, duy trì vị thế đối ngoại và phân
bổ nguồn lực hiệu quả.
2. LÝ THUYẾT VỀ KIỂM SOÁT VỐN
Khái niệm
Kiểm soát vốn là thực hiện các biện pháp can thiệp của chính phủ dưới nhiều hình
thức khác nhau, để tác động (hạn chế) lên dòng vốn nước ngoài chảy vào và chảy ra khỏi
một quốc gia để nhằm đạt mục tiêu nhất định của chính phủ.

 Ngăn chặn dòng vốn vào tiềm ẩn sự bất ổn
 Ngăn ngừa nguy cơ mất ổn định tài chính
 Ngăn ngừa sự tăng giá thực tế
 Hạn chế sở hữu nước ngoài đối với các tài sản trong nước 14
 Điều chỉnh thặng dư cán cân thanh toán
 ...
Mặt trái của kiểm soát vốn
- Kiểm soát luồng vốn, nhất là những hạn chế toàn diện được áp dụng, có thể gây
trở ngại cho các giao dịch vốn và giao dịch vãng lai.
- Các biện pháp kiểm soát có thể đòi hỏi chi phí hành chính khá lớn nhằm đảm bảo
thực thi có hiệu quả.
- Các biện pháp kiểm soát vốn nhằm bảo vệ thị trường trong nước có thể dẫn đến
việc trì hoãn điều chỉnh những chính sách cần thiết.
- Các biện pháp kiểm soát vốn có thể làm nảy sinh những nhận thức tiêu cực về thị
trường, quốc gia áp dụng phải tốn kém hơn và khó khăn hơn trong việc tiếp cận
nguồn vốn nước ngoài.
đầu tư cổ phiếu nước ngoài chuyển vốn về nước bằng đồng baht (nhưng được tự do
chuyển vốn bằng ngoại tệ), người không cư trú phải áp dụng tỷ giá nước ngoài khi
chuyển đổi lợi nhuận bằng đồng baht thu được từ việc bán chứng khoán.
Về kiểm soát luồng vốn ra, kinh nghiệm của các nước cho thấy:
- Để đảm bảo hiệu quả, các kiểm soát phải toàn diện và cần được tiến hành một cách
bắt buộc đồng thời với cải cách và điều chỉnh chính sách cần thiết. Hiệu quả của những
kiểm soát này dường như bị hạn chế trong những thị trường phức tạp.
- Bên cạnh những tác động tích cực, các biện pháp kiểm soát có thể dẫn đến phản ứng
tiêu cực hơn từ các thị trường tài chính quốc tế và làm suy giảm lòng tin của các nhà đầu
tư quốc tế; 16
- Các kiểm soát không có tác dụng bảo vệ kéo dài khi phải đối mặt với động cơ tránh
kiểm soát, nhất là chênh lệch thu nhập hấp dẫn và kỳ vọng lớn của thị trường vào việc
giảm tỷ giá hối đoái.
- Khả năng kiểm soát hoạt động thị trường nước ngoài có thể là phương tiện để hạn
chế luồng vốn vào và ngăn chặn các áp lực đầu cơ.
- Các biện pháp hiệu quả hạn chế rủi ro của các giao dịch hợp pháp, bao gồm đầu tư trực
tiếp nước ngoài và các giao dịch phòng ngừa liên quan đến thương mại, nhưng có thể làm
tăng chi phí tiếp cận thị trường vốn quốc tế.
2. KINH NGHIỆM KIỂM SOÁT VỐN CỦA „NGƯỜI KHỔNG LỒ TRUNG
QUỐC“
Trước khi gia nhập WTO, các biện pháp kiểm soát vốn của Trung Quốc hầu như là
các biện pháp hành chính, được thể hiện thông qua các quy định cấm hoặc hạn chế
chuyển vốn ra nước ngoài, việc chuyển vốn ra và vào Trung Quốc cần phải có sự chấp
thuận của chính phủ; hay thông qua các quy định không cho các nhà đầu tư nước ngoài
đầu tư vào các ngành quan trọng như là viễn thông, vận tải, năng lượng, quốc phòng,
hoặc quy định giới hạn quyền sở hữu đối với các nhà đầu tư nước ngoài… Trong thời
gian qua các biện pháp này được đánh giá là hiệu quả trong việc kiểm soát dòng vốn đầu

bằng đồng nhân dân tệ, nhưng người dân Trung Quốc cho đến năm 2001 không được
phép sở hữu hoặc kinh doanh cổ phần loại B. Điều đáng lưu ý chính là cổ phần loại B do
các công ty trong nước phát hành được định danh bằng đồng nội tệ, nhưng được giao
dịch và chi trả cổ tức bằng ngoại tệ.
Ngoài cổ phần loại B, cổ phần vốn nước ngoài còn bao gồm các loại cổ phần đang
niêm yết ở nước ngoài, là các cổ phần được các công ty Trung Quốc niêm yết trên các thị
trường chứng khoán bên ngoài Trung Quốc Đại lục. Chúng hiện tại gồm: H-shares (cổ
phần niêm yết trên sàn chứng khoán Hồng Kông), N-shares (cổ phần niêm yết trên sàn
chứng khoán NewYork), L-shares (cổ phần niêm yết trên sàn chứng khoán Luân Đôn) và
S-shares (cổ phần niêm yết trên sàn chứng khoán Singapore). H-shares được mua bán
bằng đôla Hồng Kông và được định danh bằng đồng nhân dân tệ; chúng có thể được mua
bán bởi các nhà đầu tư Hồng Kông hoặc nhà đầu tư quốc tế. Một số N-shares được phát
hành thông qua các đợt IPO, nhưng phần lớn được định danh bằng đồng nhân dân tệ và
được mua bán bằng đồng USD; cổ tức của N-shares tính bằng đồng nhân dân tệ nhưng
được trả bằng đồng USD. L-shares được phát hành bởi sàn giao dịch chứng khoán Luân
Đôn theo bản ghi nhớ được ký kết giữa Anh và Trung Quốc. 18
Thị trường cổ phần loại B được điều chỉnh bởi hai luật do Hội đồng Quốc gia và
Ủy ban quản lý chứng khoán Trung Quốc (CSRC) ban hành. Theo hai luật này, B-shares
gồm có những đặc điểm sau:
Đầu tiên, cổ phần loại B được định danh bằng đồng nhân dân tệ nhưng được phép
mua và bán bằng đồng ngoại tệ, và được niêm yết và giao dịch trên sàn giao dịch chứng
khoán của Trung Quốc. Cổ tức và các khoản thanh toán khác của công ty phát hành phải
được tính và khai báo bằng đồng nhân dân tệ, nhưng được chi trả bằng đồng ngoại tệ.
Thứ hai, cổ phần loại B chỉ được phát hành cho nhà đầu tư nước ngoài
Thứ ba, cổ tức và lãi vốn từ cổ phần loại B có thể được tự do chuyển ra nước
ngoài, bất chấp các biện pháp kiểm soát ngoại hối của Trung Quốc.
Thứ tư, công ty chứng khoán nước ngoài có thể kinh doanh cổ phần loại B, trong

muốn duy trì, chính là lượng vốn đầu tư vào nước ngoài vào nền kinh tế quá lớn, trong
khi Trung Quốc liên tục thặng dư cán cân thương mại đã đưa đến sự dư thừa ngoại tệ
trong nền kinh tế. Nếu hấp thụ dòng vốn này, tất yếu đẩy lạm phát của Trung Quốc đã
cao lại càng tăng cao, tỷ giá không thể duy trì mức cạnh tranh cho hàng xuất khẩu. Đứng
trước những vấn đề trên, Chính phủ Trung Quốc vẫn duy trì thị trường cổ phần loại B
như một kênh tạo ra nhu cầu ngoại tệ trong nền kinh tế, khi cơ hội đầu tư ra nước ngoài
của doanh nghiệp Trung Quốc không phải lúc nào cũng có và tăng cao tương ứng. Do
vậy, việc sáp nhập giữa hai thị trường cổ phần loại A và B sẽ được tiến hành một cách tự
nhiên do nhu cầu của thị trường mà Chính phủ không cần phải can thiệp. Những công ty
đã phát hành cổ phần loại B sẽ mua lại và phát hành cổ phần loại A để thay thế.
2.2.Cấp chứng nhận các nhà đầu tư đủ tư cách (QFIIs) và ban hành các quy
định dành cho QFIIs
Hệ thống các nhà đầu tư tổ chức nước ngoài đủ tiêu chuẩn - The Qualified
Foreign Institutional Investors (QFII) là một hệ thống chuyển tiếp ở một số nước có nền
kinh tế thị trường mới nổi nhằm cho phép các quỹ đầu tư nước ngoài được hoạt động
trong nước và mở cửa thị trường vốn nội địa trên cơ sở là các đồng tiền chưa được
chuyển đổi tự do hoàn toàn. Hệ thống QFII cho phép những nhà đầu tư nước ngoài nào
đáp ứng được một số điều kiện và được sự chấp thuận của cơ quan chính phủ có thẩm
quyền thích hợp ở nước sở tại đầu tư một lượng tiền ngoại tệ xác định trong phạm vi hạn
ngạch đã phê duyệt. Lượng tiền này có thể sẽ phải chuyển đổi sang nội tệ và được đầu tư
vào thị trường vốn trong nước thông qua những tài khoản đặc biệt – những tài khoản này
được giám sát chặt chẽ.
Hệ thống QFII bắt đầu có hiệu lực từ năm 2002. Ngày 5/11/2002 PBOC và CSRC
cùng ban hành “Các công cụ quản lý việc đầu tư vào chứng khoán nội địa của các QFII” 20
và công bố chính thức việc ra mắt của hệ thống QFII ở Trung Quốc. Trong tháng 5/2003
Swiss Bank and Nomura Securities trở thành tập đoàn đầu tiên trong các nhà đầu tư tổ
chức nước ngoài nhận được giấy chứng nhận QFII, và trong tháng 6/2003 họ được cấp

hữu trên 10% tổng giá trị cổ phần đang lưu
hành của một công ty niêm yết.
Tổng giá trị các cổ phần được nắm
giữ bởi tất cả các QFII trong một công ty
niêm yết không được vượt quá 20% tổng
giá trị cổ phần đang lưu hành của một công
ty niêm yết.
Mỗi nhà đầu tư nước ngoài đầu tư
thông qua QFII không được nắm giữ quá
10%Trung Quốc tổng giá trị cổ phần đang
lưu hành của một công ty niêm yết (ngoại
trừ khoản đầu tư mang tính chiến lược của
nhà đầu tư nước ngoài căn cứ theo “Các quy
định dành cho khoản đầu tư mang tính chiến
lược vào các công ty niêm yết bởi các nhà
đầu tư nước ngoài). Quy định này nhằm
nhắm đến lợi nhuận của nhà đầu tư nước
ngoài đầu tư thông qua QFII chứ không phải
đơn thuần là của QFII như trong luật QFII
cũ.
Tất cả các nhà đầu tư nước ngoài
không được nắm giữ quá 20% tổng giá trị
cổ phần đang lưu hành của một công ty
niêm yết.

ra nước ngoài
Trung Quốc có khá nhiều kênh tiêu thụ ngoại tệ. Việc hình thành cổ phần loại B
đã làm giảm nhu cầu chuyển đổi từ ngoại tệ sang nội tệ để đầu tư. Do vậy, sẽ giảm áp lực
cho ngân hàng trong việc thu gom ngoại tệ nhằm ổn định tỷ giá.
Hơn nữa hoạt động đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của Trung Quốc khá mạnh.
Ngoài ra, Trung Quốc cũng hướng tới việc đầu tư vào thị trường chứng khoán các nước.
Những biện pháp này chứng tỏ Trung Quốc đã áp dụng chương trình “controlled capital
account liberalization” mà IMF đã từng giới thiệu (tháng 8/2006), có thể hiểu theo nghĩa
tiếng Việt là “dẫn thủy nhập điền”. Với cách thức này, Ngân hàng nhà nước cứ việc tăng
thêm cung ứng tiền để mua vào hết lượng ngoại tệ trôi nổi bên cạnh việc cam kết bán lại
lượng ngoại tệ này cho các công ty hoặc các quỹ đầu tư tương hỗ hiện đang có kế hoạch
vươn ra nước ngoài. Các công ty hoặc các quỹ đầu tư này phải cam kết bán lại lượng
ngoại tệ này cho Ngân hàng nhà nước trong một thời gian nhất định. Tổng cung tiền
không đổi sau kế hoạch này nhưng lại hấp thụ hết toàn bộ dòng vốn đầu tư nước ngoài
chảy vào nền kinh tế. Bên cạnh đó là hoạt động mua lại các công ty nước ngoài.
 Tất cả các hoạt động này không chỉ nhằm tìm kiếm lợi nhuận mà còn giúp
giảm áp lực tăng giá lên đồng nội tệ, giảm áp lực lên tỷ giá, giúp bình ổn nền kinh tế vĩ 23
mô, tạo môi trường đầu tư thuận lợi thúc đẩy sự tăng trưởng của thị trường chứng khoán
và cuối cùng là sự tăng trưởng và phát triển của nền kinh tế.
CHƯƠNG 3: VIỆT NAM ĐÃ LÀM GÌ ĐỂ KIỂM SOÁT VỐN TRONG
THỜI GIAN QUA? NHỮNG TÁC ĐỘNG CỦA CÁC BIỆN PHÁP
KIỂM SOÁT LÊN DÒNG VỐN FPI
1. GIAI ĐOẠN TRƯỚC KHI VIỆT NAM GIA NHẬP WTO
Cuộc khủng hoảng tài chính Châu Á năm 1997 ra đi đã để lại dấu ấn khá sâu đậm
đối với Chính phủ VN về mặt trái của luồng vốn FPI nên tâm lý e ngại, dè chừng trong
việc thu hút dòng vốn này trong những năm đầu của công cuộc đổi mới là không thể
tránh khỏi. Có lẽ chính vì vậy nên hầu hết các cánh cửa dành cho dòng vốn FPI đều bị

 Những quy định này khiến cho nhiều nhà ĐTNN muốn tăng thêm lượng vốn
đầu tư của mình nhưng không thực hiện được do bị giới hạn về tỷ lệ. Chính điều này
chưa thúc đẩy việc đa dạng hóa các kênh huy động vốn, chưa tạo điều kiện khuyến khích
thị trường vốn phát triển. Mặt khác về lý thuyết, chúng sẽ hạn chế được sự thống trị
doanh nghiệp nội địa, thống trị thị trường bởi nhà ĐTNN theo như mục đích mà Chính
phủ ban hành. Tuy nhiên, nó vẫn có vai trò hạn chế trong việc ngăn luồng vốn nước
ngoài đổ vào VN. Vì tuy không thể mua đứt một doanh nghiệp, nhà đầu tư vẫn được mua
tới hạn tỷ lệ sở hữu cho phép ở tất cả những doanh nghiệp khác. Do đó, tổng lượng vốn
nước ngoài đổ vào thị trường vẫn có thể tăng cao (tối đa 30% giá trị cổ phiếu tung ra thị
trường), thị trường chứng khoán vẫn có nguy cơ “tăng trưởng bong bóng” dẫn tới khủng
hoảng.
 Sau đó, Quyết định 238/2005/QĐ_TTg ngày 29/09/2005
(thay thế Quyết định 146/2003/QĐ- TTg ngày 17/7/2003) nâng tỷ lệ sở hữu của nhà đầu
tư nước ngoài lên 49% đối với các công ty niêm yết (trừ lĩnh vực ngân hàng, theo quy
định chuyên ngành, hiện chỉ cho phép tỷ lệ 30%) đã có ảnh hưởng rất lớn đến TTCK.
Quyết định này kể từ khi ra đời đã góp phần thay đổi cơ bản quy mô TTCK và thúc đẩy
tiến trình cổ phần hóa DNNN, thể hiện ở những điểm cơ bản sau: Làm tăng lượng vốn
FPI vào VN, vào thị trường OTC khoảng vài tỷ USD; Quy mô TTCK tăng hơn gấp 3 lần,
nhiều doanh nghiệp niêm yết cổ phiếu hơn. 25
Điều này là hoàn toàn phù hợp vì nhà ĐTNN luôn muốn đa dạng hóa các lĩnh vực kinh
doanh để giảm thiểu rủi ro. Tuy nhiên, có rất nhiều ngành nghề đòi hỏi công nghệ cao,
vốn lớn như ngành quản lý tài sản (các dịch vụ quản lý nợ, quản lý bất động sản), dịch vụ
định giá doanh nghiệp, định mức tín nhiệm, dịch vụ mua bán nợ, tư vấn kiến trúc đô thị,
dịch vụ phát triển nguồn nhân lực, dịch vụ tư vấn phát triển cơ sở hạ tầng, ngành nghề xử
lý môi trường... chưa nằm trong Danh mục ngành nghề được phép bán cổ phần cho nhà


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status