Thị trường tiền tệ Việt Nam – Thực trạng và giải pháp Nhóm 13
Trang 1
CHƯƠNG 1:
TỔNG QUAN VỀ THỊ TRƯỜNG TIỀN TỆ
1.1. Khái niệm thị trường tiền tệ:
“Thị trường tiền tệ là thị trường mua bán các loại giấy tờ có giá ngắn hạn có kỳ
hạn dưới một năm, là nơi đáp ứng nhu cầu vốn ngắn hạn cho nền kinh tế” (Nhập môn tài
chính tiền tệ-Sử Đình Thành và Vũ Thị Minh Hằng, 2008: 371).
Nhìn vào quá trình phát triển thì thị trường liên ngân hàng là hình thức cổ điển
của thị trường tiền tệ hoạt động với mục đích cân đối, điều hòa vốn giữa các ngân hàng
thương mại với các tổ chức tín dụng nhằm khai thông khả năng thanh toán cho các tổ
chức tín dụng. Nếu xét theo chiều ngang thị trường tiền tệ biểu hiện quan hệ điều tiết vốn
giữa các ngân hàng thưong mai, các tổ chức tín dụng. Nếu xét theo chiều dọc, thị trường
tiền tệ biểu hiện quan hệ giữa ngân hàng trung ương với các ngân hàng thương mại qua
con đường tái chiết khấu .
Ở nước ta, thị trường tiền tệ mới hình thành, công cụ giao dịch trên thị trường tiền
tệ còn ít nên luật pháp cho phép các giấy tờ có giá dài hạn được phép giao dịch trên thị
trường tiền tệ. Theo điều 9, luật sửa đổi một số điều của Luật Ngân hàng Nhà nước
(2003) định nghĩa: “Thị trường tiền tệ là thị trường vốn ngắn hạn, nơi mua, bán ngắn hạn
các giấy tờ có giá, bao gồm tín phiếu kho bạc, tín phiếu Ngân hàng Nhà nước, chứng chỉ
tiền gửi và các giấy tờ có giá khác”.
1.2. Phân loại thị trường tiền tệ:
Phân loại thị trường tiền tệ được dựa trên một số tiêu thức sau:
1.2.1. Phân loại theo cơ cấu tổ chức
:
Thị trường tiền tệ bao gồm:
Thị trường tiền tệ cổ điển: là thị trường vay vốn ngắn hạn giữa các tổ chức tín
dụng (TCTD) đặt dưới sự quản lý của ngân hàng trung ương (NHTW). Hàng ngày, tại
đây hình thành lãi suất chỉ đạo thị trường tiền tệ, như: lãi suất LIBOR trên thị trường tiền
tệ London (London Inter Banking Offered rate), lãi suất PIBOR trên thị trường tiền tệ
ền quốc gia.
Công cụ hoạt động thị trường hối đoái, gồm: hợp đồng giao ngay (Spot), hợp
đồng hoán đổi (Swap), hợp đồng kỳ hạn (Forward), hợp đồng quyền chọn (Option)….
Thị trường tiền tệ Việt Nam – Thực trạng và giải pháp Nhóm 13
Trang 3
nhờ đó đáp ứng được phần lớn nhu cầu ngoại tệ cho các đơn vị, tổ chức và làm cho thị
trường ngoại hối trở nên nhộn nhịp hơn.
1.3. Các chủ thể tham gia thị trường tiền tệ:
Trong quá trình phát triển của thị trường tiền tệ, thị trường liên ngân hàng là hình
thức sơ khai của thị trường tiền tệ hoạt động với mục đích cân đối, điều hòa vốn giữa các
NHTM với các TCTD nhằm khai thông khả năng thanh toán cho các TCTD. Vì vậy, nếu
xét theo chiều ngang, thị trường tiền tệ biểu hiện quan hệ điều tiết vốn giữa các NHTM,
các TCTD. Còn nếu xét theo chiều dọc, thị trường tiền tệ biểu hiện mối quan hệ giữa
NHTW và NHTM qua con đường tái chiết khấu, trong đó lãi suất tái chiết khấu là một
công cụ linh hoạt để NHTW điều tiết vĩ mô nền kinh tế trong quá trình thực thi chính
sách tiền tệ.
Ngày nay, quy mô họat động của thị trường tiền tệ được mở rộng về phạm vi điều
tiết vốn, theo đó các chủ thể tham gia trên thị
trường đa dạng hơn.
Các chủ thể tham gia trên thị trường tiền tệ bao gồm:
− Chủ thể cung ứng nguồn vốn như: NHTW, NHTM, các TCTD khác… Việc đầu tư
nguồn vốn ngắn hạn trên thị trường này có độ rủi ro thấp, do trong thời gian ngắn giá
cả chứng khoán biến động không đáng kể.
− Chủ thể có nhu cầu về vốn như: NHTM, các đơn vị kinh tế khác, kho bạc nhà nước
Thông qua thị trường tiền tệ, các chủ thể này có thể thu hút được nguồn vốn ngắn hạn
dễ dàng và chi phí thấp.
− Chủ thể trung gian môi giới, vừa đi vay và vừa cho vay như: NHTM, Công ty chuyên
môi giới.
1.4. Các công cụ của thị trường tiền tệ:
- Cho vay dưới hình thức cầm cố hoặc chiết khấu các chứng từ có giá: Khi có nhu
cầu lớn về vốn, các NHTM đã vay các TCTD khác nhưng vẫn chưa đáp ứng đủ nhu cầu
thì NHTW có thể hỗ trợ bằng các nghiệp vụ sau:
• Tái chiết khấu chứng từ có giá: Ngân hàng thương mại sẽ đem những chứng từ
có giá mà trước đây đã chiết khấu cho khách hàng
đến ngân hàng trung ương để xin chiết
khấu lại.
Thị trường tiền tệ Việt Nam – Thực trạng và giải pháp Nhóm 13
Trang 5
• Bảo chứng lại: Đây cũng là nghiệp vụ cho vay vốn của ngân hàng trung ương
đối với các ngân hàng thương mại trên cơ sở đảm bảo bằng chứng từ có giá mà trước đó
ngân hàng thương mại đã cho khách hàng vay dưới hình thức cầm cố .
1.5.2. Nghiệp vụ mua bán giấy tờ có giá ngắn hạn:
Công cụ chủ yếu của nghiệp vụ này là các loại trái phiếu ngắn hạn được phát hành
từ thị trường tiền tệ sơ cấp và bán lại ở thị trường thứ cấp.
Nghiệp vụ này phát sinh trong trường hợp một số chủ thể kinh tế cần bổ sung vốn
bằng tiền của mình nên phát hành một lượng trái phiếu ngắn hạn ra thị trường, trong khi
một số chủ thế khác đang muốn sinh lợi cho khoản vốn nhàn rỗi của mình bằng con
đường kinh doanh trên thị trường tiền tệ, họ sẽ mua bán trái phiếu ngắn hạn. Ở nghiệp vụ
này, ngoài trái phiếu ngắn hạn thì còn có kỳ phiếu thương mại, khế ước nợ, kỳ phiếu
ngân hàng, các lọai thư tín dụng…. Và đặc biệt là họat động của thị trường mở - thực
hiện việc mua bán ngắn hạn dưới 1 năm các giấy tờ có giá trị như tín phiếu, trái phiếu
kho bạc. Thông qua nghiệp vụ này, NHTW điều tiết cung cầu về tiền tệ: tùy theo mục
tiêu từng thời kỳ mà NHTW bơm tiền hay rút bớt tiền ra khỏi lưu thông. Do đó nghiệp vụ
này xem như một trong những công cụ quan trọng để ngân hàng trung ương điều tiết
cung-cầu về tiền tệ.
Công cụ điều hành tỷ giá cũng có tác động vào lãi suất của các TCTD trên thị
trường tiền tệ, nhưng không rõ nét.
Với sự phát triển của các tổ chức trung gian tài chính, đặc biệt là các TCTD, với
cơ chế điều hành chính sách tiền tệ và nghiệp vụ Ngân hàng Trung ương tiến dần tới phù
hợp với thông lệ quốc tế, các Ngân hàng thương mại và Tổ chức tín dụng được chủ động
trong các hoạt độ
ng huy động vốn và cho vay của mình, tham gia tích cực, năng động và
Thị trường tiền tệ Việt Nam – Thực trạng và giải pháp Nhóm 13
Trang 7
cạnh tranh mạnh mẽ với nhau trên thị trường tiền tệ, theo đó, nó cũng có điều kiện thúc
đẩy thị trường tiền tệ phát triển.
Thực trạng các thị trường trong thị trường tiền tệ cũng là một vấn đề đáng quan
tâm:
2.1. Thị trường liên ngân hàng:
Thị trường nội tệ liên ngân hàng ra đời năm 1993 dưới hình thức là một thị trường
tập trung có tổ chức qua Ngân hàng Nhà nước (NHNN) và gắn liền với các trung tâm
thanh toán bù trừ (Thành phố Hồ Chí Minh và thành phố Hà Nội). Từ năm 1997, hoạt
động của thị trường diễn ra theo hình thức các ngân hàng trực tiếp vay mượn lẫn nhau
không thực hiện thông qua NHNN. Các Ngân hàng thỏa thuận phương thức giao dịch,
thời hạn, lãi suất cũng như điều kiện bảo đảm tiền vay dựa trên mức độ tín nhiệm và có
sự tham gia tích cực của NHTM cổ phần, Ngân hàng liên doanh, chi nhánh ngân hàng
nước ngoài. Đến nay, phần lớn các giao dịch liên ngân hàng được thực hiện dưới các hình
thức tín chấp, bảo đảm bằng số dư tiền gửi đối ứng tại ngân hàng cho vay; thậm chí một
số ngân hàng đã thực hiện quan hệ vay mượn dưới hình thức gửi tiền lẫn nhau.
2.1.1. Thành tựu:
Qua 17 năm thành lập thị trường liên ngân hàng đã đóng góp những thành tựu
đáng kể vào thị trường tiền tệ của nước ta:
- Số lượng thành viên và doanh số hoạt động trên thị trường liên ngân hàng đã tăng đáng
kể, phương thức giao dịch của thị trường ngày càng đổi mới, hầu hết các giao dịch đều
thực hiện qua mạng, thời hạn của các giao dịch khá linh hoạt (qua đêm, 1 tu
khuyến mãi, tăng lãi suất, từ đ
ó tạo áp lực tăng lãi suất cho vay và từ đó góp phần tạo
thêm áp lực gia tăng lạm phát.
- Trên thị trường liên ngân hàng, phần lớn các NHTM cổ phần nhỏ (có quy mô vốn thấp,
hoạt động dịch vụ kém phát triển và chủ yếu là kinh doanh tín dụng) thường là các ngân
hàng đi vay. Trong khi đó nhóm các ngân hàng này cũng chính là các ngân hàng có dư nợ
tín dụng lớn hơn so với tổng huy động vốn, tỷ lệ dư nợ tín dụng so với t
ổng huy động vốn
cao hơn 100%, thậm chí có NHTM cổ phần tỷ lệ này trên 200%. Một bộ phận vốn sử
dụng cho vay khách hàng và nền kinh tế được các tổ chức tín dụng này vay từ thị trường
liên ngân hàng. Cùng với hiệu ứng nhu cầu vốn dịp Tết Nguyên đán đã làm nóng thị
trường liên ngân hàng và thị trường tiền tệ trên địa bàn trong thời gian qua. Đồng thời
một bộ phận các NHTM cổ phần lớn (quy mô vốn lớn, dịch vụ phát triển mạnh, quản lý
Thị trường tiền tệ Việt Nam – Thực trạng và giải pháp Nhóm 13
Trang 9
tốt) sử dụng vốn hợp lý hơn, cơ cấu nguồn và cơ cấu tín dụng hợp lý (dư nợ tín dụng so
với tổng huy động vốn dưới 100%, có ngân hàng chỉ khoảng 50%-60%) – thường là các
ngân hàng cho vay trên thị trường liên ngân hàng. Chính việc quan hệ một chiều (các
ngân hàng thường xuyên cho vay và nhóm các ngân hàng thường xuyên đi vay) cũng tạo
ra những hạn chế nhất định trong quan hệ trên thị trường liên ngân hàng, làm xuất hiện
hiện tượng "kinh doanh" quá mức ngay trên thị trường này. Trong một số trường hợp lãi
suất đẩy lên quá cao vì nhu cầu thanh khoản và các ngân hàng đi vay không có sự lựa
chọn nào khác.
- Ngay sau khi NHNN hủy bỏ trần lãi suất huy động 12%/năm và thay bằng trần lãi suất
cho vay 18%/năm (150% của lãi suất cơ bản vừa được nâng lên 12%/năm), tất cả các
NHTM, kể cả các NHTM quốc doanh, đều đồng loạt liên tiếp tăng lãi suất huy động và
tăng cường vay mượn trên thị trường liên ngân hàng (có lúc lên tới 20%/năm) để đối phó
với tình trạng khó khăn về thanh khoản.
Biểu 1: Lãi suất liên ngân hàng kỳ hạn qua đêm năm 2008
mua và bán.
- Doanh số mua bán giấy tờ có giá (GTCG) trên thị trường mở tăng nhanh qua các năm.
Những năm gần đây, tốc độ này đạt trên 200%.
Bảng 1. Tổng doanh số trúng thầu OMO qua các năm
Đơn vị: tỷ đồng
Khối lượng trúng thầu theo các phương thức giao dịch
Năm thực
hiện
Số
phiên
thực
Mua kỳ
hạn
Mua
hẳn
Bán kỳ
hạn
Bán hẳn Tổng cộng
Thị trường tiền tệ Việt Nam – Thực trạng và giải pháp Nhóm 13
Trang 11
2000 17 873,50 480,00 550,00 1.903,50
2001 48 3.253,81 60,00 50,00 570,00 3.933,81
2002 85 7.245,53 1.900,00 9.145,53
2003 107 9.844,15 11.340,00 21.184,15
2004 123 60.985,91 950,00 61.935,91
2005 159 100.679,15 700,00 1.100,00 102.479,15
2006 155 86.302 26.332 112.634
2007 165 88.257 35.264 123.521
2008 402 947.205 12.022 78.431 1.400.692
Nguồn: Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
Mua
hẳn
Mua có
kỳ hạn
Bán hẳn Bán có kỳ
hạn
Tần suất giao
dịch
2000 17 4 10 3 0 10 ngày/phiên
2001 48 3 39 5 1 1 tuần/phiên
2002 85 1 58 26 0 1 tuần/2 phiên
2003 107 0 52 55 0 1 tuần/2 phiên
2004 123 0 109 0 14 1 tuần/3 phiên
2005 158 0 150 6 2 1 tuần/3 phiên
2006 155 148 7 1 tuần/5 phiên
2007 165 153 7 5 1 tuần/5 phiên
2008 402
Nguồn: Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.
2.2.2. Hạn chế:
- Tuy nhiên, trong 5 năm qua, thị trường đấu thầu TPKB qua NHNN vẫn còn một số tồn
tại như thành viên tham gia đấu thầu chủ yếu vẫn là các Ngân hàng thương mại Nhà
nước, số lượng các NHTMCP và chi nhánh NH nước ngoài tham gia rất ít. Nguyên nhân
chủ yếu là các NHTMCP chưa thực sự quan tâm tới thị trường này do lãi suất TPKB
chưa thực sự hấp dẫn so với các loại trái phiếu phát hành qua Uỷ Ban chứng khoán. M
ặt
khác, lượng vốn khả dụng dư thừa để đầu tư vào TPKB của các NHTMCP vẫn còn hạn
chế. Việc đầu tư vào TPKB của các thành viên chủ yếu nhằm mục đích dự phòng an toàn
về khả năng thanh toán vào giai đoạn nhạy cảm ( Tết dương lịch và tết âm lịch) do đó
việc giao dịch các loại GTCG giữa các TCTD trên thị trường liên ngân hàng với nhau
chưa linh hoạt, một phần nguyên nhân do cơ sở hạ tầng (công nghệ, pháp lý) của thị
trái ngược với trên thị trường quốc tế.
2.3.1 Thành tựu:
Thị trường tiền tệ Việt Nam – Thực trạng và giải pháp Nhóm 13
Trang 14
Quy chế hoạt động giao dịch hối đoái được ban hành nhằm tạo cơ sở pháp lý cho
các hoạt động kinh doanh hối đoái, đa dạng hoá các loại hình giao dịch trên thị trường;
tạo các công cụ phòng ngừa rủi ro trước những biến động của tỷ giá và lãi suất trên thị
trường trong tương lại; giúp cho các nhà xuất khẩu, nhập khẩu, các đơn vị kinh tế chủ
động trong kinh doanh; thúc đẩy và phát triển các giao dịch hối đoái để góp phần hoàn
thiện thị trường hối đoái ở Việt Nam.
Thị trường ngoại tệ liên ngân hàng chính thức được hình thành từ năm 1994. Thị
trường này giúp kết nối cung cầu ngoại tệ cho các ngân hàng. Qua thị trường này,
NHNN đã theo dõi được các giao dịch về ngoại tệ trong hệ thống ngân hàng, thấy được
diễn biến cung cầu và tham gia thị trường với vai trò là người mua bán cuối cùng. NHNN
tham gia thị trường này nhằm thực thi chính sách tiền tệ trong từng thời kỳ. Kể từ năm
1999, ngoài điều hành linh hoạt tỷ giá, NHNN còn thực hiện các biện pháp can thiệp kịp
thời tỷ giá trên thị trường giúp các NHTM cân đối ngoại tệ đã góp phần làm ổn định tỷ
giá.
Việc NHNN điều hành linh hoạt tỷ giá USD/VND (điều chỉnh tăng tỷ giá giao
dịch USD/VND bình quân thị trường liên ngân hàng, tăng biên độ tỷ giá giữa VND với
USD từ +3%(ngày 07/11/2008) lên +5%(ngày 24/03/2009) hoặc giảm +3% (ngày
25/11/2009) đối với giao dịch mua bán của các NHTM); can thiệp mua bán ngoại tệ và
thực hiện các biện pháp chống đầu cơ ngoại tệ ; bán ngoại tệ hỗ trợ nhu cầu nhập khẩu
các mặt hàng thiết yếu đảm bảo ổn định sản xuất và đời sống đã góp phần điều hoà ngoại
tệ trên thị trường ngoại tệ liên ngân hàng.
2.3.2. Hạn chế:
Thị
trường ngoại hối của Việt Nam vẫn thuộc loại kém phát triển, ngay cả khi so
với các nước trong khu vực, kể cả quy mô và chiều sâu do chất lượng quản lý không cao,
thiếu thống nhất, các quy định lỏng lẻo, tạo điều kiện cho những hành vi vi phạm về quản
ưu thế trong tổng dự trữ ngoại tệ quốc gia. Ngay
cả Việt Nam, Chính phủ vẫn tập trung vào dự trữ đồng USD. Mặc dù có tỷ giá tương đối
ổn định, EUR và JPY vẫn chưa được sự quan tâm đúng mức trong cơ cấu dự trữ ngoại tệ.
Thị trường ngoại hối Việt Nam còn phụ thuộc quá nhiều vào USD - đã gây nên
hiện trạng “Đô la hóa”, để rồi phải suy ngẫm và tìm cách khắc phục. Làm mất giá đồng
tiền nội tệ có là giải pháp hữu hiệu để phát triển kinh tế xuất khẩu, thu hút đầu tư?
Thị trường tiền tệ Việt Nam – Thực trạng và giải pháp Nhóm 13
Trang 16
Đến nay, thị trường hối đoái Việt Nam vẫn mang đặc trưng là thiếu các công cụ
phòng chống rủi ro tỷ giá. Các công cụ hoạt động trên thị trường hối đoái, như: hợp đồng
giao ngay (Spot), hợp đồng hoán đổi (Swap), hợp đồng kỳ hạn (Forward), hợp đồng
quyền chọn (Option) thật sự rất cần thiết cho các nhà kinh doanh ngoại tệ, các công ty
xuất nhập khẩu. Các doanh nghiệp dễ chịu tổn thất khi tỷ giá biến động nếu các công cụ
này vẫn chưa được hoàn thiện và phát huy hết tác dụng.
linh hoạt theo sát sự chỉ đạo của Chính phủ và tôn trọng nguyên tắc thị trường.
Thị trường tiền tệ Việt Nam – Thực trạng và giải pháp Nhóm 13
Trang 18
3.2. Thị trường tín dụng ngắn hạn giữa các NHTM (hay thị trường liên ngân hàng –
Interbank):
- NHNN nên phối hợp với thành viên thị trường thành lập nhóm điều phối thị trường
Repo (là một dạng vay ngắn hạn đối với các loại chứng khoán của chính phủ. Người
tham gia bán các chứng khoán chính phủ cho người đầu tư, thông thường trong khoảng
thời gian ngắn hạn (24 giờ), và sau đó mua lại vào hôm sau) giữa các ngân hàng.
- NHNN xem xét thực hiện các giao dịch hoán đổi với thị trường liên ngân hàng thường
xuyên hơn, thay vì việc chỉ giao dịch trong thời kỳ khó khăn về thanh khoản nhằm
khuyến khích các thành viên thị trường giao dịch ở thời hạn dài hơn và tạo ra khối lượng
giao dịch lớn hơn trong thị trường liên ngân hàng.
- Thành lập trung tâm thị trường liên ngân hàng khu vực, trung tâm này không chỉ đơn
thuần là một bộ phận quản lý của Ngân hàng Nhà nước mà còn phải trở thành môi giới
giữa các ngân hàng có nhu cầu cho vay và đi vay.
- Mở rộng thành viên tham gia giao dịch trên thị trường liên ngân hàng vì hiện nay mới
chỉ có đại diện của các hệ thống Ngân hàng thương mại cho nên cần phải mở rộng cho tất
cả các thành viên (là các chi nhánh lớn) của hệ thống được tham gia.
- Nên bổ sung, đa dạng hoá các công cụ tài chính giao dịch trên thị trường. Ngoài hai
công cụ chủ yếu là tín phiếu kho bạc, tín phiếu Ngân hàng nhà nước thì các kỳ phiếu, trái
phiếu do Ngân hàng thương mại phát hành c
ũng cần được bổ sung giao dịch.
- Từng bước nâng cao chất lượng của việc thu thập và dự báo thông tin về vốn khả dụng
của các thành viên tham gia giao dịch để làm cơ sở đưa ra các quyết định chính xác trên
thị trường mở.
3.3. Thị trường các công nợ ngắn hạn:
- Để tạo điều kiện thuận lợi cho các thành viên trong việc lựa chọn kỳ hạn giao dịch,
NHNN cần đ
a dạng hoá hơn nữa các kỳ hạn giao dịch trong một phiên giao dịch. Trong
cam kết đa phương mà Việt Nam tham gia.
- Tăng cường công tác kiểm tra việc chấp hành quy đònh về trạng thái ngoại tệ của các
NHTM, tăng cường vai trò trung gian của hệ thống ngân hàng trong việc huy động
ngoại tệ từ khu vực có dư thừa (khu vực dân cư và chính phủ) và đáp ứng nhu cầu chi
Thị trường tiền tệ Việt Nam – Thực trạng và giải pháp Nhóm 13
Trang 20
ngoại tệ của các khu vực có thiếu hụt (khu vực doanh nghiệp) để cân đối ngoại tệ phù
hợp.
- Hoàn thiện công tác thống kê giao dòch ngoại hối về cả mặt phương pháp luận và kỹ
thuật thực hiện thông qua hoàn chỉnh các hệ thống mẫu biểu báo cáo tại cả NHNN và
các NHTM.
* Đối với Ngân hàng Thương mại:
- Cần tuyên truyền, hướng dẫn và tư vấn cho các doanh nghiệp kiến thức, kinh nghiệm
về các hoạt động ngoại hối và cách thức quản lý rủi ro trong kinh doanh ngoại hối.
- Chuẩn hoá tổ chức hoạt động kinh doanh ngoại tệ ở các NHTM theo hướng mỗi
NHTM có một phòng kinh doanh ngoại tệ với quy mô thích hợp và có đủ thẩm quyền
để thực hiện các giao dòch ngoại hối tức thời.
- Tăng cường trang bò công nghệ, kỹ thuật hiện đại trong việc thu thập, cập nhật thông
tin về ngoại hối để đảm bảo cho hoạt động kinh doanh ngoại hối được thông suốt và
hiệu quả. Bên cạnh đó, mỗi NHTM cũng phải thường xuyên đào tạo, đào tạo lại
nghiệp vụ chuyên môn trong lónh vực kinh doanh ngoại hối cho các cán bộ phụ trách
nhằm đảm bảo nguồn nhân lực giỏi trong lónh vực có tính chất phức tạp, mới mẻ này ở
nước ta.
* Phát triển thò trường ngoại tệ liên ngân hàng
Để tạo sức sống mới cho thò trường ngoại tệ liên ngân hàng, Ngân hàng Nhà
nước (NHNN) cần quan tâm đến các vấn đề sau:
- Gia tăng quỹ dự trữ ngoại hối quốc gia:
Trong thời gian gần đây, tổng dự trữ ngoại hối của Việt Nam gia tăng nhanh chóng,
góp phần tạo tiềm lực cho hoạt động quản lý ngoại hối của NHNN nói riêng, cho thò
trường hối đoái Việt Nam nói chung. Tuy nhiên, cách đánh giá về quỹ dự trữ ngoại hối
giới đã thực hiện nghiệp vụ tương lai và quyền chọn nhưng do nhiều nguyên nhân
khách quan và chủ quan mà hiện nay NHNN còn dè dặt với các nghiệp vụ này. Tuy
nhiên, trong tương lai, thiết nghó NHNN nên cho phép các NHTM từng bước tiếp cận
với các nghiệp vụ này vì nó vừa làm đa dạng, sinh động thò trường ngoại hối vừa cung
cấp nhiều công cụ để quản trò rủi ro tỷ giá ở mức độ cao hơn cho nền kinh tế.
* Phát triển thò trường giao dòch bán lẻ thông qua quản lý thích hợp tài khoản tiền
gửi ngoại tệ:
- Đối với các tổ chức xã hội là người cư trú:
Không thay đổi về nghóa vụ bán ngoại tệ cho ngân hàng, nghóa là, các tổ chức này
buộc phải bán 100% số ngoại tệ thu được trong giao dòch quốc tế cho ngân hàng
thương mại được phép kinh doanh ngoại tệ.
- Đối với các tổ chức kinh tế là người cư trú:
Để thu hút ngoại tệ từ các tổ chức này, trước hết, Chính phủ phải đảm bảo thỏa mãn
nhu cầu ngoại tệ hợp lý cho nền kinh tế, cũng là thỏa mãn nhu cầu của bản thân họ. Có
như vậy, các tổ chức này mới an tâm bán ngoại tệ cho hệ thống ngân hàng.
Thị trường tiền tệ Việt Nam – Thực trạng và giải pháp Nhóm 13
Trang 22
Thứ hai, Chính phủ cần tạo điều kiện, phổ biến cho các tổ chức kinh tế sử dụng các
công cụ phòng chống rủi ro tỷ giá một cách hiệu quả.
Thứ ba, NHNN phải kết hợp giữa việc quản lý tài khoản ngoại tệ với hoạt động cho
vay ngoại tệ của ngân hàng. Thực tế cho thấy, nhiều doanh nghiệp có số dư tài khoản
ngoạïi tệ cao nhưng khi cần vốn kinh doanh họ không chuyển số ngoại tệ này thành
VND mà đề nghò ngân hàng thương mại cấp tín dụng bằng VND. Biện pháp này giúp
doanh nghiệp hạn chế rủi ro tỷ giá nhưng bất lợi của nó là gây khan hiếm tiền tệ một
cách giả tạo. Để giải quyết vấn đề này, NHNN nên xây dựng các quy đònh khắt khe
trong việc cấp tín dụng cho các doanh nghiệp có số dư tài khoản ngoạïi tệ cao nhằm
hạn chế tình trạng găm giữ ngoại tệ của đơn vò và cân bằng cung cầu tiền tệ của quốc
gia.
- Đối với cá nhân là người cư trú:
Trong bối cảnh nền kinh tế “ngầm” còn tồn tại, nạn buôn lậu phát triển mạnh, hệ
định hướng xã hội chủ nghĩa và từng bước hội nhập kinh tế quốc tế.
# "