Vòng đàm phán Uruguay dẫn đến sự ra đời WTO
Nhóm 15
1
Tiểu luận
Vòng đàm phán Uruguay và tầm quan trọng
của nó đối với sự ra đời của WTO
Vòng đàm phán Uruguay dẫn đến sự ra đời WTO
Nhóm 15
2 MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 4
I. Hiệp định chung về thuế quan và thương mại GATT - Tổ chức tiền thân của WTO. 5
1. Sự ra đời của GATT 5
2. Khó khăn mà GATT phải đối mặt 6
4.2. Quan điểm của các nước 15
4.3. Kết quả 17
5. Hiệp định về các biện pháp đầu tư liên quan đến thương mại (TRIMS) 17
5.1. Vấn đề đặt ra 17
5.2. Quan điểm các nước 18
5.3. Kết quả 18
6. Hiệp định Marrakesh về thành lập WTO 19
6.1. Nội dung hiệp định: 19
6.2. Kết quả 19
7. Đánh giá 20
V. Sự ra đời của WTO 20
1. Vòng đàm phán Uruguay dẫn đến sự ra đời của WTO 20
2. Mục tiêu 21
3. Nguyên tắc hoạt động 21
4. Cơ cấu tổ chức 22
5. Sự khác biệt giữa GATT và WTO 23
6. Thành tựu và hạn chế của WTO 23
7. Việt Nam với WTO 24
8. Đánh giá 25
LỜI KẾT 26
Vòng đàm phán Uruguay dẫn đến sự ra đời WTO
Nhóm 15
4
thân của WTO.
1. Sự ra đời của GATT
Hiệp định chung về thuế quan và thương mại GATT (General agreements on
Tariff & Trade) là tổ chức tiền thân của tổ chức thương mại thế giới WTO.
Sau chiến tranh thế giới lần thứ 2, ý tưởng ban đầu của các nước là thành lập một
tổ chức thứ ba cùng với hai tổ chức được biết đến là Ngân hàng Thế giới (World Bank)
và Quĩ tiền tệ Quốc tế (IMF) nhằm giải quyết các vấn đề hợp tác kinh tế quốc tế trong hệ
thống "Bretton Woods", hình thành các nguyên tắc thế lệ cho thương mại quốc tế, điều
tiết các lĩnh vực về thương mại hàng hoá, công ăn việc làm, hạn chế và khắc phục tình
trạng hạn chế, ràng buộc thương mại phát triển. Vì vậy kế hoạch đầy đủ được trên 50
nước lúc đó dự định là thiết lập tổ chức thương mại thế giới (ITO) như là một tổ chức
chuyên ngành của Liên hợp quốc (UN).
Trước khi hiến chương này được thông qua, 23 trong số hơn 50 nước tham gia đã
quyết định tiến hành đàm phán để giảm và ràng buộc thuế quan ngay trong năm 1946.
Các nước cũng nhất trí áp dụng ngay lập tức và "tạm thời" một số quy tắc thương mại
trong Dự thảo Hiến chương ITO nhằm bảo vệ giá trị của các nhân nhượng nói trên. Kết
quả là các quy định thương mại và các nhân nhượng thuế quan được đưa vào Hiệp định
chung về Thuế quan và Thương mại (GATT). Ngày 30-10-1947, 23 nước đã ký Nghị
định thư về việc áp dụng tạm thời Hiệp định GATT. Theo đó, các nhân nhượng thuế
quan có hiệu lực từ 30-6-1948.
Trong thời gian đó, Hiến chương ITO vẫn tiếp tục được thảo luận. Tuy nhiên,
quốc hội của một số nước đã không phê chuẩn Hiến chương này. Đặc biệt là Quốc hội
Hoa Kỳ rất phản đối Hiến chương Havana, mặc dù Chính phủ Hoa Kỳ đã đóng vai trò rất
tích cực trong việc thiết lập ITO. Do vậy trên thực tế, Hiến chương này không còn tác
dụng. Mặc dù chỉ là tạm thời nhưng GATT đã trở thành công cụ đa phương duy nhất
Vòng đàm phán Uruguay dẫn đến sự ra đời WTO
Nhóm 15
6
7
3. Nhận xét:
Trong 47 năm tồn tại, thông qua 8 vòng đàm phán, GATT đã có những đóng góp to
lớn vào việc thúc đẩy tiến trình thuận lợi hoá và tự do hoá thương mại quốc tế . Tuy
nhiên trước những biến động của thời đại, GATT đã không đáp ứng được yêu cầu. Vòng
đàm phán cuối cùng - Vòng Uruguay - đã mở rộng nội dung sang các lĩnh vực thương
mại và liên quan đến thương mại bao gồm: thương mại hàng hoá, thương mại dịch vụ,
đầu tư, sở hữu trí tuệ và kết quả là cho ra đời một tổ chức thay thế cho GATT, đó là
WTO.
II. Bối cảnh ra đời vòng đàm phán Uruguay
1. Tình hình Kinh tế - Chính trị
1.1. Tình hình chính trị
Thời điểm này, tình hình chính trị có những chuyển biến khả quan. Chiến tranh
lạnh giữa hai phe Mỹ - Xô đã dần đi vào hồi kết, tình trạng chạy đua vũ trang chấm dứt,
đem lại những tác động tích cực đến tình hình thế giới. Bên cạnh đó, các nước XHCN đã
có những cải cách mở cửa thị trường, khoa học kĩ thuật phát triển, phục vụ cho đời sống
xã hội và sản xuất. Tuy nhiên, CNXH ở Liên Xô và Đông Âu bộc lộ nhiều khuyết điểm ở
bộ máy nhà nước, tỏ ra lạc hậu hơn nhiều so với TBCN.
Trong thời kì này, có sự thay đổi lớn trong xu thế thời đại với xu thế đối thoại hợp
tác trở thành xu thế chính.
1.2. Tình hình kinh tế
Sự kiện lớn xảy ra trong thời kì này là sự tan rã của Liên bang Xô Viết - một
cường quốc lớn - nước đứng đầu XHCN sau cuộc cải tổ không thành công năm 1991.
Ngược lại với CNXH, CNTB phát huy được những điểm mạnh trong lĩnh vực kinh tế,
nổi bật là Mỹ. (Thời điểm này Mỹ là một trong 3 trung tâm kinh tế lớn nhất thế giới, gồm
Mỹ, Tây Âu và Nhật Bản).
Vòng đàm phán Uruguay dẫn đến sự ra đời WTO
Vòng đàm phán Uruguay dẫn đến sự ra đời WTO
Nhóm 15
9
năm, cùng với sự tác động mạnh mẽ của những nước phát triển , vào tháng 9 năm 1986,
vòng đàm phán Uruguay mới được chính thức bắt đầu tại Punta Del Este (Uruguay).
Nhận xét: Nếu như sự thay đổi lớn lao trong bối cảnh kinh tế, chính trị ở các
quốc gia thời kì này cùng với xu thế hợp tác đối thoại đã đặt ra yêu cầu về việc mở thêm
một vòng đàm phán mới nhằm giải quyết những vấn đề mới phát sinh thì ý đồ của các
quốc gia lớn và yêu cầu phát triển của thời đại là những yếu tố chính để hình thành nên
sự ra đời của vòng đàm phán Uruguay.
III. Mục tiêu của vòng đàm phán Uruguay:
Một chương trình làm việc đã được lên kế hoạch tạo nền tảng cho vòng đàm phán
Uruguay , cụ thể:
- Tăng cường nền kinh tế thế giới và thúc đẩy thương mại, đầu tư, tăng việc
làm và thu nhập trên toàn thế giới.
- Giải quyết các vấn đề quan trọng bức xúc của chính sách thương mại, minh
bạch hóa thương mại quốc tế, đồng thời đưa ra một hệ thống giải quyết các tranh chấp
hoàn chỉnh và cơ chế đánh giá chính sách thương mại, nhằm đánh giá tổng thể thường
xuyên, rõ ràng, có hệ thống về các chính sách thương mại của các thành viên GATT, mở
rộng hệ thống thương mại tới một số lĩnh vực mới đặc biệt là thương mại dịch vụ và sở
hữu trí tuệ.
- Nhượng bộ cho xâm nhập thị trường của những sản phẩm nông sản nhiêt
đới với mục tiêu giúp đỡ các nước đang phát triển, tiếp cận thị trường, quy định về chống
bán phá giá và đề nghị thành lập một tổ chức mới.
- Giảm thuế và các biện pháp trợ cấp xuất khẩu, giảm hạn ngạch và các hạn
chế nhập khẩu khác, về quyền sở hữu trí tuệ liên quan đến thương mại.
Chúng ta có thể thấy rằng những mục tiêu kể trên của vòng đàm phán Uruguay
Vòng đàm phán Uruguay về nông nghiệp chủ yếu tập trung giải quyết vấn đề tự do
hóa nông nghiệp. Quan điểm của các nước rất khác nhau. EU phản ứng tiêu cực với tự do
hóa nông nghiệp, cho rằng nguyên nhân của các khó khăn đang diễn ra là do sự phát triển
của khoa học kĩ thuật, không phải do chính sách của chính phủ và đề nghị quá trình tự do
hóa nông nghiệp phải được tiến hành theo giai đoạn và tùy theo thị trường của từng loại
Vòng đàm phán Uruguay dẫn đến sự ra đời WTO
Nhóm 15
11
nông sản khác nhau. Còn Mỹ và nhóm Cairns thì ngược lại, cho rằng chính các chính
sách của chính phủ gây nên sự mất cân bằng cung cầu trong nông nghiệp, và mong muốn
xóa bỏ hoàn toàn trợ cấp nông nghiệp và các chính sách hạn chế nhập. Về phía các nước
đang phát triển, các nước yêu cầu phải tính đến lợi ích phát triển của các nước nghèo và
trong quá trình tự do hóa nông nghiệp các nước này cần có sự hỗ trợ thêm từ các nước
phát triển.
Do quan điểm các nước mâu thuẫn nhau nên cuộc đàm phán lâm vào bế tắc. Trước
tình hình đó, giám đốc GATT , ông Dunkel đã dự thảo một hiệp định về với kèm theo
nhiều ưu đãi cho các nước đang phát triển. Vòng đàm phán Uruguay khởi động lại vào
tháng 4 năm 1989, kéo dài đến tháng 12 năm 1990, nhưng Mỹ và EU vẫn không đạt
được thỏa thuận về trợ giá xuất khẩu nông. Tháng 9 năm 1991, một dự thảo thỏa thuận
chung cuộc được đưa ra nhưng bị EU bác bỏ.
Ngày 23/11/1992, Mỹ và EU đạt được thỏa thuận Blair House về nông nghiệp. Thỏa
thuận này bị Pháp phản đối kịch liệt, do đó EU và Mỹ buộc phải thương lượng lại. Và
ngày 15/12/1993 thỏa thuận có lợi cho EU được ký kết.
1.3. Kết quả
Nội dung hiệp định
Sau những nỗ lực của các bên thì Hiệp định về nông nghiệp đã được ký kết nhằm
mục tiêu cải cách thương mại nông sản và làm cho các chính sách nông nghiệp có định
2.2. Quan điểm của các nước
Các nước đều đồng ý việc xóa bỏ hạn ngạch, nhưng không thống nhất được lịch
trình tiến hành việc xóa bỏ này. Các nước đang phát triển và EU không muốn chấm dứt
ngay chế độ hạn ngạch mà nên có quá trình chuyển tiếp. Còn Mỹ và Canada thì đề nghị
chuyển các hạn ngạch sang thuế quan thông qua quá trình thuế hóa như trong nông
nghiệp nhưng Mỹ không đề nghị thời điểm cụ thể.
2.3. Kết quả
Nội dung hiệp định
Những kết quả chính của kết quả Vòng đàm phán này có thể được tóm tắt như sau:
Vòng đàm phán Uruguay dẫn đến sự ra đời WTO
Nhóm 15
13
- Cam kết cắt giảm thuế đối với các sản phẩm công nghiệp của các nước cao hơn
hẳn các cam kết được đưa ra trong Vòng đàm phán Tokyo.
- Các nước đã đồng ý cắt giảm theo giai đoạn những hạn chế trong Hiệp định Ða sợi
(MFA) trong khoảng thời gian 10 năm đến ngày l-1-2005.
Tác động của hiệp định
- Hiệp định sẽ giúp cho các nước đang phát triển mở rộng thị trường hàng dệt may
của họ sang các nước đang phát triển.
- Việc xóa bỏ hạn ngạch sẽ kích thích tiêu dùng tại các nước phát triển, từ đó làm
tăng lượng xuất khẩu của các nước đang phát triển.
3. Hiệp định chung về thương mại dịch vụ (GATS)
3.1. Vấn đề đặt ra
Trong một số lĩnh vực dịch vụ, đặc biệt là dịch vụ tài chính quốc tế và vận tải biển,
từ hàng thế kỷ nay đã có sự trao đổi xuyên biên giới. Những lĩnh vực khác cũng đang trải
qua những thay đổi dẫn đến việc tham gia ngày càng nhiều hơn của khu vực tư nhân và
làm rõ khái niệm thương mại dịch vụ, ít nhất cũng phải thống nhất được các loại hoạt
động dịch vụ không nằm trong khái niệm này vì nó không chỉ quan trọng trong xác định
cơ sở cho khái niệm khác như đãi ngộ quốc gia, tối huệ quốc trong lĩnh vực dịch vụ mà
còn giúp hạn chế những khái niệm có tính chủ quan của các nước phát triển sau này.
Tuy nhiên, việc đàm phán về tự do dịch vụ gặp phải hai trở ngại lớn. Thứ nhất là
một số ngành dịch vụ có tính chiến lược như viễn thông, hàng không vẫn còn thuộc độc
quyền của các công ty Nhà nước. Thứ hai là một số ngành dịch vụ vẫn còn chịu sự điều
tiết chặt chẽ của nhà nước như ngân hàng, y tế, xây dựng, pháp lý…
3.3. Kết quả
Nội dung hiệp định
GATS được thiết lập nhằm mở rộng phạm vi điều chỉnh của hệ thống thương mại
đa phương sang lĩnh vực dịch vụ chứ không chỉ điều chỉnh một mình lĩnh vực thương
mại hàng hóa như trước đó.
Vòng đàm phán Uruguay dẫn đến sự ra đời WTO
Nhóm 15
15
Tất cả các thành viên của WTO đều tham gia GATS. Các nguyên tắc cơ bản của
WTO về đãi ngộ tối huệ quốc và đãi ngộ quốc gia cũng đều áp dụng với GATS.
Hiệp định đưa ra những quy định về mở cửa thị trường trong lĩnh vực dịch vụ, và
việc mở cửa thị trường không có sự phân biệt đối xử giữa các nước. Đồng thời, các nước
phải công bố qui định chung và thông báo cho Hội đồng thương mại dịch vụ những biện
pháp có ảnh hưởng tới sự vận hành của GATS.
Tác động của hiệp định
- Hiệp định khiến cho các nước đang phát triển phải chỉ dẫn về dịch vụ công
nghệ, khía cạnh kĩ thuật và thương mại lập đầu mối tiếp xúc có nghĩa vụ cung cấp các
hướng dẫn đặc biệt cho các nhà cung cấp dịch vụ của những nước đó. Nước đang phát
triển có thể trực tiếp đưa yêu cầu thông tin cho các đầu mối tiếp xúc, ngược lại, các nước
Về nhãn hiệu thương mại, theo EU thì cần có những ngoại lệ nhất định liên quan đến
độc quyền nhãn hiệu thương mại, trong khi đó các nước phát triển khác cho rằng phải
loại bỏ hết các ngoại lệ đối với nhãn hiệu thương mại.
Về bản quyền, Mỹ và Nhật đề nghị việc bảo vệ bản quyền phải có giá trị trong suốt
thời gian tác giả của sáng kiến còn sống và 50 năm sau đó. Còn EU cho rằng trong lĩnh
vực phần mềm máy tính thực hiện bảo vệ bản quyền cần ít nhất 25 năm và không nhất
thiết cứ phải thực hiện bằng cách cấp bản quyền.
Còn về phía các nước đang phát triển, mối lo ngại chính của họ là vấn đề sở hữu trí
tuệ có thể làm tăng độc quyền của các tập đoàn xuyên quốc gia và ảnh hưởng tiêu cực
đến quá trình chuyển giao công nghệ cho các nước nghèo, đặc biệt là các phát minh trong
công nghệ sinh học và hoá dược. Các nước đang phát triển phản đối việc đưa vấn đề sở
hữu trí tuệ vào GATT vì họ cho rằng GATT chỉ liên quan đến hàng hoá hữu hình, không
thích hợp để giải quyết vấn đề liên quan đến hàng vô hình. Sở hữu trí tuệ nên được giải
quyết trong WIPO - Tổ chức sở hữu trí tuệ thế giới. Ngoài ra, các nước đang phát triển
cũng cố gắng tách rời các vấn đề liên quan đến hàng giả và sở hữu trí tuệ nói chung và tỏ
ý muốn đàm phán vấn đề hàng giả. Nhưng các đề nghị đó đều bị các nước phát triển
phản đối.
Vòng đàm phán Uruguay dẫn đến sự ra đời WTO
Nhóm 15
17
4.3. Kết quả
Nội dung hiệp định
Hiệp định TRIPS đã làm thay đổi bộ mặt của hệ thống sở hữu trí tuệ thế giới. Về
nguyên tắc bảo hộ sở hữu trí tuệ, Hiệp định TRIPS đòi hỏi mọi quốc gia thành viên của
WTO phải xây dựng hệ thống bảo hộ sở hữu trí tuệ theo các tiêu chuẩn tối thiểu thống
nhất. Một cách tổng quát, các tiêu chuẩn tối thiểu ấn định trong Hiệp định TRIPS nhằm
bảo đảm cho mỗi quốc gia thành viên có một hệ thống sở hữu trí tuệ đầy đủ và có hiệu
vấn đề riêng trong WTO. Hiệp định TRIMs là một bước tiến lớn, mặc dù nhiều ý kiến
cho rằng Hiệp định này chưa giải quyết thỏa đáng lợi ích của tất cả các nước, kể cả các
nước phát triển hay đang phát triển.
5.3. Kết quả
Nội dung hiệp định
Hiệp định TRIMs chỉ áp dụng cho thương mại hàng hóa mà không áp dụng cho
các lĩnh vực khác. Hiệp định TRIMs cấm áp dụng một số biện pháp bị coi là vi phạm
nguyên tắc "Đãi ngộ Quốc gia" và các biện pháp có tác dụng hạn chế thương mại bao
gồm:
- Các biện pháp bắt buộc hay điều kiện về quy định một "tỷ lệ nội địa hóa"
đối với doanh nghiệp.
- Các biện pháp "cân bằng thương mại " buộc doanh nghiệp phải tự cân đối
về khối lượng và trị giá xuất nhập khẩu, về ngoại hối
Tác động của hiệp định
- Hiệp định làm cho dòng chu chuyển vốn và đầu tư trên thế giới được lưu
thông và mở rộng phạm vi đầu tư.
- Thúc đẩy đầu tư ra nước ngoài của các nước đang phát triển cả về qui mô
và phạm vi.
- Đối với các nước đang phát triển thì việc loại bỏ các biện pháp đầu tư sẽ có
thể dẫn đến những ảnh hưởng tiêu cực tới nền kinh tế trong nước. Mục tiêu của nhà đầu
Vòng đàm phán Uruguay dẫn đến sự ra đời WTO
Nhóm 15
19
tư vẫn là lợi nhuận, nếu như không có những biện pháp quản lý đầu tư thì lợi nhuận thu
được sẽ chuyển ra nước ngoài, vì vậy sẽ tác động xấu đến thương mại trong nước.
6. Hiệp định Marrakesh về thành lập WTO
6.1. Nội dung hiệp định:
Vòng đàm phán Uruguay kéo dài đến gần 8 năm, quá dài so với dự kiến là 4 năm. Tại
nhiều thời điểm vòng đàm phán tưởng chừng như sẽ thất bại bởi sự bất đồng quan điểm
giữa các nước tham gia, nhất là hai nhóm nước phát triển và đang phát triển. Xuyên suốt
cuộc đàm phán, vấn đề khó khăn nhất chính là sự mâu thuẫn giữa Mỹ và EU, hai trung
tâm thương mại dịch vụ lớn nhất trên thế giới. Với sự nỗ lực của giám đốc GATT và 125
nước thành viên tham gia, cuối cùng, đến năm 1994 vòng đàm phán đã kết thúc, thông
qua các thỏa thuận quan trọng, dẫn đến việc ra đời của WTO và các hiệp định thương
mại liên quan.
V. Sự ra đời của WTO
Sau vòng đàm phán Uruguay kéo dài gần 8 năm, đến năm 1995, GATT được thay thế
bằng WTO. WTO đặt trụ sở tại Geneva, Thuỵ Sĩ và chính thức đi vào hoạt động từ
1/1/1995. Đến nay số thành viên chính thức của WTO đã lên tới con số 153 thành viên,
với Cape Verde là thành viên mới nhất (cập nhật vào 11/03/2009). Ngày 13 tháng 5 năm
2005, ông Pascal Lamy được bầu làm Tổng giám đốc thay cho ông Supachai
Panitchpakdi, người Thái Lan, kể từ 1 tháng 9 năm 2005.
1. Vòng đàm phán Uruguay dẫn đến sự ra đời của WTO
Như chúng ta đã phân tích, vòng đàm phán Uruguay là vòng đàm phán cuối cùng
trong tám vòng đàm phán của GATT. Có thể nói, đây là một vòng đàm phán rất nổi
tiếng, vậy lí do gì khiến nó trở nên nổi tiếng đến như vậy?
Vòng Uruguay nổi tiếng vì nhiều lý do. Trước hết, đây là vòng đàm phán dài nhất và
có số nước tham gia đông nhất trong lịch sử của GATT. Đây có lẽ cũng là một trong
những vòng đàm phán lớn nhất từ trước đến nay. Thứ hai, Vòng Uruguay đã đạt được
Vòng đàm phán Uruguay dẫn đến sự ra đời WTO
Nhóm 15
21
những kết quả vượt bậc so với các vòng đàm phán trước, đặc biệt là với việc đưa được cả
22
Tuy nhiên sự chậm trễ ấy cũng có mặt tích cực của nó. Những vấn đề như dịch vụ, sở
hữu trí tuệ hay thậm chí là việc hình thành tổ chức thương mại thế giới sẽ không thể tiến
xa đến thế nếu đàm phán được tiến hành vào năm 1990.
Với những khó khăn, bất đồng gặp phải trong vòng đàm phán Uruguay, Việc đi đến
một hiệp định chung cho hầu hết các vấn đề thương mại tỏ ra hết sức khó khăn khiến một
số người cho rằng tổ chức một vòng đàm phán ở quy mô lớn đến thế là điều không
tưởng, trong khi đó rất nhiều vấn đề đã được lên lịch trình bàn bạc trong các hiệp định ký
kết trong khuôn khổ vòng đàm phán Uruguay.
Cuối cùng, với tuyên bố Marrkesh các vị bộ trưởng đã thống nhất thành lập tổ chức
Thương Mại Thế giới WTO và lấy những kết quả của vòng đàm phán URUguay để làm
văn kiện chính thức. Với tổ chức này, các quốc gia dễ dàng tìm được tiếng nói chung
trong cam kết và cùng nhau xây dựng một hệ thống Thương mại đa phương vững mạnh.
2. Mục tiêu
WTO đã xác định ba mục tiêu cụ thể là:
Thứ nhất, thúc đẩy tăng trưởng thương mại hàng hóa và dịch vụ trên thế giới phục vụ
cho sự phát triển ổn định, bền vững và bảo vệ môi trường.
Thứ hai, thúc đẩy sự phát triển các thể chế thị trường, giải quyết các bất đồng, tranh
chấp thương mại giữa các nước thành viên trong khuôn khổ của hệ thống thương mại đa
phương, phù hợp với nguyên tắc cơ bản của Công pháp quốc tế, bảo đảm cho các nước
đang phát triển được hưởng lợi ích thực chất từ sự tăng trưởng của thương mại quốc tế.
Thứ ba, nâng cao mức sống, tạo công ăn việc làm cho người dân các nước thành viên,
đảm bảo các quyền và tiêu chuẩn lao động tối thiểu.
3. Nguyên tắc hoạt động
Để thực hiện các mục tiêu nêu trên một cách hiệu quả, WTO đã đặt ra một loạt các
nguyên tắc hoạt động mang tính ràng buộc mà tất cả các thành viên WTO phải tuân thủ.
Vòng đàm phán Uruguay dẫn đến sự ra đời WTO
Nhóm 15
5. Sự khác biệt giữa GATT và WTO
Mặc dù WTO là tổ chức được thành lập trên cơ sở kế thừa GATT, những vẫn có
những khác biệt chủ chốt giữa WTO và GATT là:
GATT chỉ mang tính chất tạm thời: Hiệp định chung về thương mại và thuế quan
chưa bao giờ được quốc hội các nước phê chuẩn; nó không có qui định nào về việc thành
lập một tổ chức nhất định. WTO và các hiệp định của nó mang tính thường trực lâu dài.
WTO là một tổ chức quốc tế được thành lập bởi sự nhất trí của các quốc gia thành viên.
WTO có nền tảng pháp lý vững chức bởi vì các nước thành viên đã thông qua các hiệp
định và chính các hiệp định đã mô tả phương thức hoạt động của tổ chức. Các quốc gia
thành viên phải thực hiện đúng theo các qui định, nguyên tắc của WTO và các hiệp định
của nó.
GATT chỉ có "các bên tham gia ký kết", điều này cho thấy rõ ràng là GATT chỉ mang
tính chất một hiệp định. WTO có các nước thành viên và WTO là một tổ chức quốc tế.
GATT chỉ giải quyết các vấn đề liên quan đến thương mại hàng hoá. Trong khi đó
WTO là tổ chức kế thừa và phát triển GATT, hiệp định GATT tồn tại cùng với các hiệp
định khác của WTO như hiệp định chung về thương mại và dịch vụ (GATS); hiệp định
về quyền sở hữu trí tuệ liên quan đến thương mại (TRIPS).
Cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO mang tính tự động và nhanh hơn so với cơ chế
của GATT. Đây là đóng góp lớn nhất của WTO đối với hệ thống thương mại thế giới.
6. Thành tựu và hạn chế của WTO
Cho tới nay sau hơn 10 năm hoạt động, tuy đây chỉ là một khoảng thời gian ngắn so
với GATT trước đây, nhưng ở một mức độ WTO đã thành công trong việc thúc đẩy
thương mai tự do lớn hơn. Kết quả là giá thành sản phẩm được hạ thấp, khả năng cạnh
tranh của các quốc gia cao hơn và tốc độ tăng trưởng cũng nhờ đó tăng theo.
Vòng đàm phán Uruguay dẫn đến sự ra đời WTO
Nhóm 15
25