Luận văn tốt nghiệp
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
ASEAN (Association of South East Asian Nations): Hiệp hội các nước Đông
Nam Á...................................................................................................................2
BIDV (Bank for Investment and Development of Viet Nam): Ngân hàng đầu tư
và phát triển Việt Nam..........................................................................................2
CE (European Conformity): Nhãn hiệu Châu ÂU ..............................................2
MFN (Most Favoured Nation): Đãi ngộ tối huệ quốc..........................................2
TCVN: Tiêu chuẩn Việt Nam................................................................................2
- Xuất nhập khẩu tạo điều kiện cho các doanh nghiệp trong nước ngày càng lớn
mạnh, nâng cao sức cạnh tranh trên thị trường quốc tế..........................................9
Hoạt động xuất khẩu làm cho các doanh nghiệp phụ thuộc nhiều vào thị trường
thế giới nhiều hơn là thị trường trong nước, do vậy các doanh nghiệp muốn đứng
vững trong cạnh tranh phải dựa vào các tiêu chuẩn quốc tế. Thời kỳ đầu có thể có
sự trợ giúp của Nhà nước song muốn tiếp tục tồn tại thì phải tự khẳng định được
vị trí của mình. Mặt khác thị trường thế giới rộng lớn sẽ tạo điều kiện cho các
doanh nghiệp thu được hiểu quả nhờ quy mô sản xuất lớn.....................................9
- Quy định về bảo vệ môi trường.........................................................................29
Chế biến cà phê Arabica................................................................................................35
KẾT LUẬN.............................................................................................................80
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Đặng Thị Quỳnh Lớp: Kinh Tế Quốc Tế K46
1
Luận văn tốt nghiệp
ASEAN (Association of South East Asian Nations): Hiệp hội các nước Đông Nam Á
BIDV (Bank for Investment and Development of Viet Nam): Ngân hàng đầu tư và
phát triển Việt Nam.
CE (European Conformity): Nhãn hiệu Châu ÂU
EEC (European Economic Community): Khối thị trường chung Châu Âu
Nhận thấy được vị trí của việc xuất khẩu cà phê vào thị trường EU trong thời
gian tới và nhằm đẩy mạnh duy trì kim ngạch xuất khẩu của cà phê trong những năm
tiếp theo cần phải có những biện pháp thúc đẩy xuất khẩu cà phê. Với những lý do
trên tôi xin đưa ra đề tài: “Giải pháp thúc đẩy hoạt động xuất khẩu cà phê của Việt
Nam sang thị trường EU”.
Mục đích nghiên cứu đề tài: Đề tài này đi sâu phân tích vào tình hình xuất
khẩu cà phê của Việt Nam trong những năm qua, từ đó rút ra các thành tựu đạt được
và các hạn chế nhằm đưa ra các giải pháp thúc đẩy xuất khẩu cà phê sang thị trường
EU trong thời gian tới.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là hoạt động xuất khẩu mặt hàng cà phê của
Việt Nam.
Phạm vi nghiên cứu là: hoạt động xuất khẩu cà phê của Việt Nam sang thị
trường EU trong thời gian 2001 đến nay
Phương pháp nghiên cứu:
Đặng Thị Quỳnh Lớp: Kinh Tế Quốc Tế K46
3
Luận văn tốt nghiệp
Luận văn dựa trên các phương pháp phân tích tổng hợp, các thực trạng, thành
tựu đạt đươc và chỉ ra các hạn chế để từ đó khắc phục nhằm thúc đẩy hoạt động xuất
khẩu cà phê sang thị trường EU.
Kết cấu của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận chung về xuất khẩu và tầm quan trọng của việc thúc
đẩy xuất khẩu cà phê của Việt Nam sang thị trường EU
Chương 2: Tổng quan về thị trường cà phê EU và thực trạng xuất khẩu cà phê
của Việt Nam sang thị trường EU
Chương 3: Định hướng và giải pháp thúc đẩy hoạt động xuất khẩu cà phê của
Việt Nam sang thị trường EU
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ XUẤT KHẨU VÀ TẦM
QUAN TRỌNG CỦA VIỆC THÚC ĐẨY XUẤT KHẨU CÀ PHÊ
nhập khẩu; tương tự thời kỳ 1991-1995: 75,3% và 1996-2000 là 84,5%, thời kỳ 2001-
2005:85,17% (Nguồn: Trung tâm Thông tin Thương mại)
Đặng Thị Quỳnh Lớp: Kinh Tế Quốc Tế K46
5
Luận văn tốt nghiệp
- Xuất khẩu đóng góp vào việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng
công nghiệp hoá, thúc đẩy sản xuất phát triển
Hoạt động xuất khẩu tạo ra khả năng xây dựng cơ cấu kinh tế mới, năng động,
sự phát triển các ngành công nghiệp trực tiếp xuất khẩu đã tác động đến các ngành
công nghiệp cung cấp đầu vào cho các ngành xuất khẩu tạo ra “mối quan hệ ngược”
thúc đẩy sự phát triển của các ngành này. Bên cạnh đó, khi vốn tích luỹ của nền kinh
tế được nâng cao thì sản phẩm thô sẽ tạo “mối liên hệ xuôi” là nguyên liệu cung cấp
đầu vào cho các ngành công nghiệp chế biến và “mối liên hệ xuôi” này tiếp tục được
mở rộng. Sự phát triển của tất cả các ngành này sẽ làm tăng thu nhập của những
người lao động, tạo ra “mối liên hệ gián tiếp” cho sự phát triển công nghiệp hàng tiêu
dùng và dịch vụ.
Các ngành nông sản, thuỷ sản xuất khẩu chiếm tỷ trọng lớn trong sản phẩm
xuất khẩu đã thúc đẩy công nghiệp chế biến nông sản phát triển. Đồng thời việc tận
dụng những lợi thế so sánh về lao động đã phát triển các ngành công nghiệp sử dụng
nhiều lao động. Mặt khác việc nhập khẩu nguyên vật liệu, máy móc thiết bị đã tạo
điều kiện phát triển sản xuất công nghiệp hàng tiêu dùng và tư liệu sản xuất phục vụ
nhu cầu sản xuất và xuất khẩu. Việc nhập khẩu các máy móc thiết bị đã góp phần đổi
mới trang thiết bị và công nghệ sản xuất, nhờ đó trình độ sản xuất và năng suất lao
động được nâng cao. Đồng thời do hướng vào thị trường quốc tế, sản xuất kinh
doanh theo tiêu chuẩn quốc tế đã nâng cao khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp
trong nước.
Việc xuất khẩu tạo điều kiện để tiêu thụ những lượng hàng hóa dư thừa do
vượt nhu cầu tiêu dùng nội địa cũng như hoạt động xuất khẩu là việc mở rộng ra thị
trường thế giới cũng là yếu tố nhằm thay đổi hình thức tổ chức sản xuất. Vì vậy việc
chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thúc đẩy sản xuất phát triển là việc làm cần thiết và phù
một số ngành công nghiệp như dệt may, sản xuất hàng tiêu dùng được mở rộng, tạo
việc làm cho dân cư thành thị đặc biệt là lao động thanh niên đang ngày gia tăng.
+Xuất khẩu làm tăng GDP, tăng thu nhập quốc dân từ đó có tác động làm tăng
tiêu dùng nội địa. Tiêu dùng nội địa tăng lại là nhân tố kích thích nền kinh tế tăng
trưởng.
Đặng Thị Quỳnh Lớp: Kinh Tế Quốc Tế K46
7
Luận văn tốt nghiệp
+ Xuất khẩu gia tăng sẽ tạo thêm công ăn việc làm cho nền kinh tế, nhất là
trong những ngành sản xuất hàng hoá xuất khẩu.
+ Xuất khẩu gia tăng sẽ làm gia tăng đầu tư trong các ngành sản xuất hàng hoá
xuất khẩu và những ngành có liên quan đến sản xuất hàng hoá xuất khẩu. Đầu tư gia
tăng cũng là nhân tố kích thích tăng trưởng của nền kinh tế.
Nếu xuất khẩu tăng một tỷ USD thì sẽ tạo ra 35 nghìn đến 40 nghìn chỗ làm
cho người lao động. Còn đối với các nước đang phát triển như Việt Nam thì hàng
năm có thể tạo ra 50.000 việc làm cho người lao động (theo tờ: INTERNATIONAL
TRADE 1986 - 1990).
Xuất khẩu phát triển là điều kiện cho các công ty xuất nhập khẩu tồn tại, phát
triển và mở rộng quy mô. Do vậy sẽ ngày càng tạo ra nhiều cơ hội việc làm cho
người lao động
- Khai thác hiệu quả nguồn tài nguyên thiên nhiên
Khi tổ chức hoạt động xuất khẩu các doanh nghiệp đơn vị cần phải tuân theo
các quy định chặt chẽ về bảo vệ môi trường, bảo vệ sức khoẻ người tiêu dùng cũng
như sức khoẻ của người lao động…Chính những quy định mang tính bắt buộc đó đòi
hỏi các doanh nghiệp phải đổi mới cải tiến công nghệ sản xuất, hoàn thiện quá trình
sản xuất tiêu thụ, phân phối sản phẩm một cách khoa học. Công nghệ sản xuất tiên
tiến hiện đại sẽ giúp cho việc khai thác các tiềm năng về tài nguyên thiên nhiên một
cách có hiệu quả nhất góp phần nâng cao sử dụng đầu vào đạt hiệu quả đem lại sản
lượng và chất lượng tốt nhất.
Đặng Thị Quỳnh Lớp: Kinh Tế Quốc Tế K46
+ Tiết kiệm chi phí và thời gian cho giao dịch.
Đặng Thị Quỳnh Lớp: Kinh Tế Quốc Tế K46
9
Luận văn tốt nghiệp
+ Không bị phân tán và chia sẻ lợi nhuận cho bên thứ 3 do đó lợi nhuận cao
hơn.
+ Nắm bắt thông tin về khách hàng và thị trường 1 cách chính xác từ đó có thể
đáp ứng nhu cầu một cách tốt hơn.
+ Có thể chủ động hơn trong việc thay đổi các kế hoạch công việc của mình.
+ Hạn chế rủi ro
- Nhược điểm
+ Có rủi ro khi không có sự am hiểu về thị trường
+ Tốn thời gian công sức khi phải tổ chức 1bộ máy cồng kềnh
- Điều kiện áp dụng
+ Áp dụng đối với các doanh nghiệp có khả năng về tài chính, am hiểu về
khách hàng, thị trường.
1.2.2 Xuất khẩu gián tiếp
- Khái niệm:
Xuất khẩu gián tiếp là hình thức giao dịch mua bán thông thường mà quan hệ
mua bán được thiết lập thông qua người thứ 3(người trung gian). Người trung gian có
thể là người đại lý hoặc là người môi giới.
- Ưu điểm:
+ Tận dụng được lợi thế của các trung gian như kinh nghiệm, thông tin tại các
thị trường nhất định và tiết kiệm chi phí.
+ Thiết lập được các quan hệ thương mại nhanh và hiệu quả.
+ Tạo được các quan hệ và có các hệ thống thông tin liên kết nhất định.
+ Lợi ích và lợi nhuận thu được có tính chắc chắn hơn.
- Nhược điểm:
+ Hạn chế tiếp xúc của nhà sản xuất và người tiêu dùng.
+ Bị chia sẻ quyền lợi và phải đáp ứng nhiều yêu sách của người trung gian.
Triển lãm được tổ chức định kỳ tại những địa điểm nhất định nhưng với mục
đích trưng bày và giới thiệu về thành tựu trong 1 lĩnh vực kinh tế hoặc công nghệ nào
đó.
- Ưu điểm
Đặng Thị Quỳnh Lớp: Kinh Tế Quốc Tế K46
11
Luận văn tốt nghiệp
Thường mang tính hướng đích, tiếp cận với khách hàng tiềm năng phô trương
được những thành tựu và kích thích khách hàng quan tâm chú ý trong tương lai.
Được cọ xát với các đối thủ cạnh tranh cùng ngành nghề thu thập nhiều thông
tin.
- Nhược điểm
Nghiệp vụ giao dịch và tổ chức rất phức tạp đòi hỏi phải có sự chuẩn bị rõ
ràng, cán bộ tinh thông.
Thường diễn ra trong một thời gian và địa điểm nhất định gây khó khăn cho
những công ty ở các quốc gia không có ngoại giao thân thiện với nước tổ chức.
Thường bị lộ thông tin về sản phẩm vì có nhiều đối thủ cạnh tranh cùng tham
gia.
- Điều kiện áp dụng
Đối với các doanh nghiệp chưa có thương hiệu mạnh trên thị trường.
1.2.5 Giao dịch tái xuất
- Khái niệm
Giao dịch tái xuất là hình thức xuất khẩu trở ra nước ngoài những hàng trước
đây đã nhập khẩu chưa qua chế biến ở nước tái xuất.
Giao dịch tái xuất bao gồm nhập khẩu và xuất khẩu với mục đích thu về một
số ngoại tệ lớn hơn vốn bỏ ra ban đầu. Giao dịch này luôn luôn thu hút ba nước: nước
xuất khẩu, nước tái xuất và nước nhập khẩu.
- Ưu điểm
Điều hoà thương mại thế giới, hạn chế cuộc chiến thương mại hoặc những
trừng phạt về kinh tế.
Nước tiếp nhận gia công có nguồn nhiên liệu và nhân công rẻ chủ yếu là các
nước đang phát triển.
1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động xuất khẩu cà phê của Việt Nam
Hoạt động xuất khẩu cà phê nói riêng và hoạt động xuất khẩu nói chung của
Việt Nam chịu ảnh hưởng bởi các yếu tố như sau:
- Các chính sách, biện pháp tạo nguồn hàng xuất khẩu
Đặng Thị Quỳnh Lớp: Kinh Tế Quốc Tế K46
13
Luận văn tốt nghiệp
+ Xây dựng các mặt hàng xuất khẩu chủ lực: Mặt hàng xuất khẩu chủ lực
phải là loại hàng thoả mãn các tiêu chí: có thị trường tiêu thụ tương đối ổn định; có
điều kiện sản xuất trong nước thuận lợi, với chi phí sản xuất thấp để thu được lợi
nhuận trong buôn bán và có khối lượng kim ngạch xuất khẩu lớn, chiếm vị trí quyết
định trong tổng kim ngạch xuất khẩu của đất nước.
Mặt hàng xuất khẩu chủ lực có thể thay đổi theo từng thời điểm nhất định.
Trong thời điểm này có thể xem một mặt hàng nào đó là chủ lực, nhưng trong thời
điểm khác nó chưa chắc là hàng xuất khẩu chủ lực. Chẳng hạn hiện nay Việt Nam
xác định dầu thô là mặt hàng xuất khẩu chủ lực nhưng trong tương lai, khi các ngành
công nghiệp chế biến của Việt Nam phát triển thì dầu thô có thể không còn là mặt
hàng xuất khẩu chủ lực mà thay vào đó là những mặt hàng khác như: sản phẩm phần
mềm vi tính, sản phẩm công nghệ Nano, sản phẩm công nghệ sinh học…
+ Đẩy mạnh đầu tư cho sản xuất hàng xuất khẩu
Công tác xuất khẩu ngày nay không thể chỉ dựa vào việc thu gom của cải tự
nhiên để xuất khẩu mà phải có các cơ sở tập trung sản xuất xuất khẩu, vì vậy phải
xây dựng những cơ sở sản xuất hàng xuất khẩu để tạo nguồn hàng xuất khẩu tập
trung, dồi dào, có chất lượng và đạt chuẩn quốc tế. Muốn thế phải đầu tư cho sản
xuất hàng xuất khẩu. Trong chính sách đầu tư của Nhà nước cần chú ý đầu tư cho các
ngành hàng xuất khẩu và hạn chế đầu tư cho các ngành thay thế nhập khẩu mà năng
lực sản xuất trong nước đã đáp ứng đầy đủ nhu cầu. Tập trung cho các ngành chủ lực,
cho các dự án nâng cao cấp độ chế biến, nâng cao khả năng cạnh tranh. Đối với nông
Tỷ giá hối đoái là tỷ lệ so sánh giữa đồng tiền các nước với nhau, hay nói cách
khác tỷ giá hối đoái là giá cả của một đơn vị tiền tệ nước này được biểu hiện bằng số
lượng đơn vị tiền tệ của nước khác.
Tỷ giá hối đoái ảnh hưởng đến xuất khẩu được biểu hiện thông qua ngang giá
sức mua đó chính là sự so sánh và đo lường sức mua tương đối của hai đồng tiền,
được tính toán bằng cách so sánh giá cả của cùng một số mặt hàng ở hai nước khác
nhau theo giá cả của đồng tiền đó để từ đó xác định tỷ giá hối đoái của đồng tiền này
so với đồng tiền nước khác, mà thông thường đồng tiền cơ sở là đô la Mỹ.
Đặng Thị Quỳnh Lớp: Kinh Tế Quốc Tế K46
15
Luận văn tốt nghiệp
Bên cạnh đó, nền tảng của ngang giá sức mua được biểu hiện như sau: nếu
như một mặt hàng ở trong quốc gia này rẻ thì xuất khẩu mặt hàng đó sang một nước
khác giá đắt hơn thì sẽ có lời hơn, và ngược lại nếu mặt hàng trong quốc gia sản xuất
đắt hơn so với giá thị trường nước ngoài thì tốt hơn hết nên nhập khẩu mặt hàng đó
sẽ có lợi hơn. Vấn đề này lý giải sự chênh lệch về giá cả của cùng một mặt hàng ở
các nước khác nhau trên thế giới, nước nào có lợi thế kinh tế tốt hơn sẽ có điều kiện
thuận lợi sản xuất ra hàng hoá với chi phí thấp sẽ là cơ hội để các nước này đẩy mạnh
xuất khẩu và ngược lại kích thích nhập khẩu khi mặt hàng đó sản xuất trong nước giá
cao hơn. Nói cách khác: khi đồng tiền trong nước giảm giá thì hàng hoá nhập khẩu
vào nước đó sẽ đắt đỏ hơn và trái lại hàng hoá xuất khẩu sang nước sẽ rẻ hơn, tạo
thuận lợi cho xuất khẩu hàng hoám ngược lại nếu đồng tiền trong nước lên giá hàng
hoá nước ngoài nhập vào sẽ rẻ hơn và hàng hoá xuất khẩu sẽ đắt đỏ hơn, tạo cơ hội
cho các nhà nhập khẩu.
Do vậy khi thực hiện hoạt động xuất khẩu điều cần thiết là duy trì tỷ giá hối đoái sao
cho các nhà sản xuất trong nước có lãi kho bán các sản phẩm công nghiệp, nông
nghiệp và dich vụ của họ trên thị trường quốc tế.
Tỷ giá hối đoái thực tế nhập khẩu do có thuế và trợ cấp thương mại được tính bằng
công thức sau:
Etn=Ro (1+tn-Sn+Qn)
của Triều Tiên). Một mức thuế xuất khẩu cao và duy trì quá lâu có thể làm lợi cho
các địch thủ cạnh tranh.
Thuế xuất khẩu ít được áp dụng ở các nước phát triển, mà thường được áp dụng
ở các nước đang phát triển. Ở Việt Nam thuế xuất khẩu áp dụng với ít mặt hàng và
mục tiêu là để nâng cao mức độ chế biến nguyên liệu thô chứ không chỉ vì mục tiêu
tăng ngân sách. Điều này thể hiện ở chỗ thuế suất cao được áp dụng cho các hàng
nguyên liệu không chế biến và ngược lại. Chẳng hạn gỗ tròn, gỗ xẻ có thuế suất là
20%, còn tranh, tượng gỗ có thuế xuất 5%…
- Hạn ngạch
Hạn ngạch là quy định của Nhà nước về lượng giá trị) hàng hóa tối đa được
phép xuất khẩu hoặc nhập khẩu đối với một thị trường hoặc khu vực thị trường cụ thể
trong một thời gian nhất định thường là một năm.
Đặng Thị Quỳnh Lớp: Kinh Tế Quốc Tế K46
17
Luận văn tốt nghiệp
Hạn ngạch xuất khẩu nhằm tránh tình trạng cung vượt quá cầu gây thiệt hại
cho các nhà sản xuất và kinh doanh xuất khẩu. Bên cạnh đó còn nhằm đảm bảo sự ổn
định của thị trường trong nước (đáp ứng được nhu cầu sử dụng trong nước) đối với
các mặt hàng là thiết yếu cho nhu cầu tiêu dùng và sản xuất trong nước. Được áp
dụng với các hàng hóa xuất khẩu có nguồn gốc tài nguyên thiên nhiên có nguy cơ bị
cạn kiệt hoặc khai thác sản xuất ồ ạt gây ô nhiễm môi trường làm mất cân bằng sinh
thái
- Hạn chế xuất khẩu tự nguyện
Biện pháp hạn chế xuất khẩu tự nguyện là biện pháp trong đó hai quốc gia
thoả thuận với nhau về việc cắt giảm lượng hàng hoá xuất khẩu. Cụ thể là quốc gia
nhập khẩu yêu cầu nước xuất khẩu phải cắt giảm lượng hàng hoá xuất khẩu của mình
một cách tự nguyện nếu không thực hiện thì nước nhập khẩu sẽ áp dụng các biện
pháp trả đũa thông thường là áp dụng biện pháp đánh thuế nhập khẩu cao đối với
hàng hoá đó hoặc các mặt hàng khác, hoặc bằng biện pháp phá giá. Hạn chế xuất
khẩu tự nguyện mang tính miễn cưỡng và gắn liền với những điều kiện nhất định.
nước khi nguồn lực về lao động dồi dào đặc biệt là đối với các vùng nông thôn và các
tỉnh trung du việc dồi dào về nhân công kéo theo giá cả thuê nhân công rẻ và việc đó
tạo ra được các mặt hàng phong phú, giá thành sản phẩm thấp, tạo được sức cạnh
tranh cho các mặt hàng cũng như tạo ra nguồn hàng dồi dào nhu cầu tiêu dùng trong
nước không hết điều đó đòi hỏi các nước phải mở rộng hoạt động xuất khẩu để trao
đổi các mặt hàng với các nước trên thế giới
+ Về yếu tố khoa học - công nghệ: Cùng với sự phát triển của khoa học công
nghệ đã đem lại nhiều thành tựu trong mọi lĩnh vực của đời sống kinh tế xã hội, trong
đó các hoạt động xuất khẩu đòi hỏi áp dụng các thành tựu khoa học là chủ yếu và đã
đạt được một số kết quả như:
Các doanh nghiệp thực hiện được quá trình chuyên môn hóa sản xuất ở mức độ cao
điều này tạo cho cán bộ công nhân viên trong ngành ngày càng nâng cao được tay
nghề
Khoa học phát triển sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp trong và
ngoài nước có thể trao đổi thông tin nhanh chóng hơn, qua hệ thống mạng Internet
giúp cho các nhà kinh doanh các nhà đầu tư thu thập được nhiều thông tin về môi
Đặng Thị Quỳnh Lớp: Kinh Tế Quốc Tế K46
19
Luận văn tốt nghiệp
trường đầu tư kinh doanh cũng như các thông tin của các đối tác làm ăn, bên cạnh
việc thu thập thông tin các doanh nghiệp cũng có thể quảng bá hình ảnh thương hiệu
của mình ngày một đi xa hơn tới các nước trên thế giới mà tốn ít chi phí.
+ Điều kiện tự nhiên
Các yếu tố tự nhiên ảnh hưởng đến nguồn cung đầu vào cho hoạt động sản
xuất cũng như hoạt động xuất khẩu, mỗi quốc gia khi có nguồn lực về tài nguyên tự
nhiên sẽ có khả năng thực hiện được các hoạt động xuất khẩu. Đối với Việt Nam có
các điều kiện thuận lợi để phát triển các hoạt động sang các thị trường trên thế giới ví
dụ như Việt Nam có các điều kiện phát triển cây cà phê vì vậy có lợi thế sản xuất
xuất khẩu cà phê, điều kiện tự nhiên cùng với các nguồn lực về lao động, kinh
nghiệm đã tạo cho cà phê Việt Nam những hương vị riêng, có các yếu tố để giảm giá
Cà phê hiện đang nắm những vai trò quan trọng trong chiến lược đẩy mạnh
hoạt động xuất khẩu hàng nông sản của Việt Nam và thị trường xuất khẩu chủ yếu là
thị trường EU trong đó cà phê Việt Nam xuất khẩu có mặt hầu hết trên các thị trường
là thành viên của thị trường EU chính vì với sản lượng xuất khẩu lớn đã đem lại giá
trị kim ngạch góp phần vào tăng trưởng kinh tế Việt Nam. Trong
điều kiện là thành viên thứ 150 của tổ chức Thương mại thế giới (WTO) Việt Nam đã
cho phép các Ngân hàng Thương mại được làm môi giới giao dịch hợp đồng tương
lai và cà phê là mặt hàng được chọn làm dịch vụ cho doanh nhân buôn bán cà phê
trên thị trường kỳ hạn Luân Đôn với mặt hàng cà phê Robusta và thị trường New
York với cà phê Arabica, dù rằng ở Việt Nam lượng cà phê Arabica là không đáng
kể. Cà phê là một trong những mặt hàng đầu tiên để thực hiện chủ trương khắc phục
những bất cập trong việc quy hoạch phát triển ngành hàng không theo kịp diễn biến
của thị trường trong nước và thế giới việc lựa chọn nhằm nâng cao hiệu quả xuất
khẩu nông sản và tránh thiệt hại cho người nông dân. Các nước Đức, Anh, Pháp và
Hà Lan luôn là những thị trường xuất khẩu cà phê lớn nhất của Việt Nam trong khối
EU và với tốc độ tăng trưởng trung bình 20-30%/ năm.
1.5 Bài học từ kinh nghiệm phát triển ngành cà phê của Braxin
Braxin là một quốc gia có lịch sử trồng trọt, chế biến và tiêu thụ cà phê từ thế
kỷ 17, phát triển mạnh từ thập kỷ 20 cho đến nay. Trước đây, cà phê chiếm tới 80%
tổng thu nhập từ xuất khẩu, nhưng hiện nay chỉ còn là 20% do giá trị xuất khẩu của
Đặng Thị Quỳnh Lớp: Kinh Tế Quốc Tế K46
21
Luận văn tốt nghiệp
các ngành khác tăng mạnh. Mặc dù vị trí của ngành cà phê giảm tương đối trong cơ
cấu xuất khẩu, nhưng Braxin vẫn là nước xuất khẩu cà phê lớn nhất thế giới, với sản
lượng tương đối ổn định. Việt Nam tuy là nước lớn thứ 2 về sản lượng cà phê xuất
khẩu sau Braxin, nhưng khoảng cách của nước ta với Braxin lại quá xa, trong khi đó
với các nước xếp thứ hạng sau thì khoảng cách này lại rất nhỏ và có thể bị vượt lên
bất cứ lúc nào. Lấy ví dụ minh họa về khoảng cách này giữa 3 nước đứng đầu trong
top các nước xuất khẩu cà phê hàng đầu thế giới ta thấy rất rõ:
nên mạnh dạn đầu tư cho hoạt động này và đồng bộ hóa tiêu chuẩn về cà phê xuất
khẩu.
Thứ ba: Braxin đã triển khai chương trình xúc tiến thương mại toàn diện trong
nước từ thập kỷ 80 của thế kỷ 20. Nhờ họat động này mà sản lượng cà phê sản xuất
ra không chỉ đứng đầu thế giới về xuất khẩu mà lượng tiêu thụ nội địa của cà phê
Braxin cũng đứng thứ 2 thế giới sau Mỹ. Với lượng tiêu thụ trong nước chiếm gần
50% sản lượng sản xuất ra đã giúp giảm bớt sự phụ thuộc và thị trường bất ổn trên
thế giới, Braxin luôn giữ vững vị thế của mình trong mặt hàng này. Đây là một kinh
nghiệm rất tốt mà Việt Nam nên học tập ngay bởi hoạt động xuất khẩu cà phê của
Việt Nam hiện đang phụ thuộc nhiều vào thị trường thế giới.
Thứ tư: Braxin có sự phân công công việc rất rõ ràng, cụ thể trong toàn bộ quá
trình tạo ra sản phẩm để xuất khẩu, điều này vừa giúp nâng cao chất lượng cà phê
đồng thời tạo ra sự thuận lợi, thông suốt trong từ khâu sản xuất đến khâu xuất khẩu
sản phẩm.
Ngành cà phê của Braxin có 4 nhóm tổ chức chính:
+ Tổ chức của các nhà sản xuất (bao gồm các nhà sản xuất nhỏ lẻ và các hợp
tác xã)
+ Tổ chức của các nhà rang xay
+ Tổ chức của các nhà sản xuất cà phê hòa tan
+Tổ chức của các nhà xuất khẩu.
Đặng Thị Quỳnh Lớp: Kinh Tế Quốc Tế K46
23
Luận văn tốt nghiệp
Các tổ chức ngành hàng này đại diện cho từng nhóm người khác nhau, tham
gia vào quá trình:
+Thảo luận, hoạch định và thực hiện chính sách;
+ Xác định, điều chỉnh, giám sát và đánh giá nghiên cứu kỹ thuật cà phê,
thực hiện các chương trình xúc tiến thương mại, tăng cường chất lượng cà phê. Bộ
Nông nghiệp Braxin có chức năng nghiên cứu, hoạch định chính sách, chịu trách
nhiệm về các vấn đề vệ sinh an toàn thực phẩm, phòng chống bệnh dịch.
xác định các ưu tiên nghiên cứu và phân bổ vốn cho các hoạt động nghiên cứu và
chuyển giao cũng như các chương trình khác như xúc tiến thương mại trong nước,
nâng cao chất lượng cà phê, bảo vệ môi trường...
Qua nghiên cứu mô hình sản xuất, nghiên cứu, thị trường cà phê của Braxin
cho thấy Việt Nam cần sớm thành lập Ban điều phối hoạt động trong ngành cà phê.
CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN VỀ THỊ TRƯỜNG CÀ PHÊ EU VÀ THỰC
TRẠNG XUẤT KHẨU CÀ PHÊ CỦA VIỆT NAM SANG THỊ TRƯỜNG EU
2.1 Tình hình và quy định về nhập khẩu cà phê tại thị trường EU
Đặng Thị Quỳnh Lớp: Kinh Tế Quốc Tế K46
25