Tiểu luận
QUAN HỆ VIỆT NAM – TRUNG QUỐC TỪ
KHI BÌNH THƯỜNG HÓA ĐẾN NĂM 1999
LỜI MỞ ĐẦU
Trung quốc và Việt Nam là hai nước láng giềng núi sông liền một
dải,nhân dân hai nước vốn có tình hữu nghị truyền thống lâu đời,đã từng ủng hộ và
giúp đỡ lẫn nhau trong sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc của mỗi nước.Mối
quan hệ Việt _Trung đã qua thử thách, đã được tôi luyện trong cuộc đấu tranh cách
mạng giành độc lập và giải phóng dân tộc của mỗi nước.Lịch sử đã chứng minh mối
quan hệ hữu nghị truyền thống và tình cảm gắn bó giữa hai dân tộc chúng ta,như chủ
tịch Hồ Chí Minh đã nói “Vừa là đồng chí,vừa là anh em”.Lịch sử bang giao,cũng
như lịch sử quan hệ quốc tế đã chứng minh vai trò quan trọng của nước láng giêng
I. Sơ lược về mối quan hệ đặc biệt của hai nước láng giềng
Đây là mối quan hệ thay đổi, lên xuống, khi là bạn cực thân khi là thù không
đội trời chung, khi là đồng chí khi là địch thủ, khi hòa bình khi chiến tranh, khi liên
minh đoàn kết khi mâu thuẫn đối kháng trong mấy chục năm qua.
Từ xa xưa, một nghìn năm Bắc thuộc, rồi các cuộc xâm lược thời Nguyên - Mông để
lại những dấu ấn sâu đậm trong quan hệ hai nước.
Trung Quốc là nước đầu tiên thiết lập quan hệ ngoại giao với Viêt Nam,ngày
18/1/1950 Trung Quốc ra tuyên bố công nhận nước Việt Nam dân chủ cộng hòa.Đây
là sự kiên quan trọng mở đầu cho một loạt thắng lợi ngoại giao khác của Việt
Nam.Trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp,nhìn chung quan hệ
Việt_Trung tương đối tốt đẹp.Nhân dân,nhà nước và Đảng Cộng Sản Trung Quốc đã
đóng góp không nhỏ vào thắng lợi của Việt Nam.Sự giúp đỡ đó xuất phát từ truyền
thống hữu nghị giữa hai nước,từ sự tương đồng về ý thức hệ và cũng phù hợp với lợi
ích quốc gia của Trung Quốc.Trong kháng chiến chống Mỹ, Trung Quốc đã giúp đỡ
rất nhiều cho nhân dân Việt Nam.Về chính trị,Trung quốc luôn luôn tuyên bố ủng hộ
cuộc đấu tranh của nhân dân ta.Trung Quốc đã huy động hàng triệu người mít tinh
với sự tham gia của các vị lãnh đạo cao nhất để phản đối cuộc chiến do Mỹ gây ra và
ủng hộ nhân dân Việt Nam.Đặc biêt,Trung quốc đã viện trợ cho Việt Nam vũ khí bộ
2/1979.Cuộc chiến tranh này là hậu quả của sự căng thẳng giữa hai nước Việt
Nam,Trung Quốc.Cuộc chiến đã gây tổn thất lớn về người và của cho nhân dân hai
nước và làm phương hại đến quan hệ hữu nghị Việt_Trung.Cuộc chiến này còn làm
cho hòa bình và ổn định trong khu vực bị đe dọa, gây ảnh hưởng không nhỏ đến sự
phát triển của các nước trong khu vực.
Sau chiến tranh biên giới,quan hệ hai nước tiếp tục căng thẳng.Tình trạng này
kéo dài suốt thập kỷ 80,gây ảnh hưởng xấu đối với chính sách đối ngoại và sự phát
triển kinh tế của hai nước.Trong 12 năm đối đầu(1979_1991),do quan hệ chính trị
căng thẳng nên đã dẫn đến sự bế tắc trong các lĩnh vực khác.Trung Quốc thường
xuyên gây ra các vụ khiêu khích dọc theo biên giới hai nước.Nghiêm trọng nhất là
ngày 14/3/1988, một biên đội tàu chiến gồm sáu chiếc của hải quân Trung Quốc đã
gây sự tấn công các tàu tiếp tế của Việt Nam và đổ bộ đóng chiếm sáu bãi nước
ngầm thuộc quần đảo Trường Sa, gây ra sự lo ngại sâu sắc trong dư luận khu vực và
thế giới.Trong suốt thời gian này, quan hệ kinh tế, văn hóa…giữa hai nước bị ngưng
trệ.Hai nước đã tiến hành đám phán nhiều lần nhưng đều thất bại.Từ tháng 1/1989
hai bên nối lại đàm phán và đến tháng 9/1990, hai bên gặp gỡ cấp cao ở Thành
Đô(Trung Quốc) mở đầu cho việc giải quyết triệt để vấn đề Campuchia và bình
thường hóa quan hệ Việt_Trung.
Như vậy có thể thấy rằng,quan hệ Việt_Trung từ thời phong kiến đến trước
khi bình thường hóa năm 1991 đã diễn ra rất nhiều thăng trầm và biến đổi lớn lao.Từ hai
nước “vừa là đồng chí,vừa là anh em” chuyển thành kẻ thù không đợi trời chung.Từ
quan hệ hữu nghị tốt đẹp chuyển sang quan hệ đối đầu căng thẳng.Điều này chứng tỏ
quan hệ Việt_Trung là rất phức tạp và có tác động lớn đối với Việt Nam.
II. Quan hệ Việt_Trung từ năm 1991 đến năm 1999
1. Quan hệ chính trị
Cuộc gặp cấp cao giữa các nhà lãnh đạo hai nước năm 1990 và tháng 11/1991
đã đưa quan hệ Việt_Trung bước theo một trang mới theo tinh thần “khép lại quá
khứ,mở ra tương lai”.Từ đó đến nay quan hệ giữa hai Đảng,hai nhà nước và nhân
dân hai nước đã không ngừng mở rộng và phát triển trên mọi lĩnh vực, và ngày càng
Việt Nam Lê Khả Phiêu(2/1999),lãnh đạo cấp cao hai nước đã nhất trí xây dựng
quan hệ theo khuôn khổ mới hướng tới thế kỷ 21 là “láng giềng hữu nghị, hợp tác
toàn diện, ổn định lâu dài, hướng tới tương lai” .Việc ký hiệp ước trên đất liền
(30/12/1999) là sự kiện trọng đại trong quan hệ quan hệ hợp tác giữa hai nước,tạo
tiền đề xây dựng đường biên giới ổn định hòa bình,hữu nghị và bền vững lâu
dài,đánh dấu bước phát triển mới trong quan hệ hai nước.Việc ký hiệp ước biên giới
trên đất liền đã tạo điều kiện thuận lợi cho hai bên tiếp tục đàm phán để giải quyết
vấn đề phân vịnh Bắc Bộ và những vấn đề tồn tại giữa hai nước.
Hai bên đã đề ra nguyên tắc chung trong quan hệ giữa hai nước là hữu nghị và
láng giềng thân thiện dựa trên năm nguyên tắc cùng tồn tại hòa bình, hợp tác, bình
đẳng và cùng có lợi, giải quyết các vấn đề tranh chấp thông qua thương lượng và
bằng biện pháp hòa bình, quan hệ giữa hai nước không nhằm vào nước thứ ba và
cũng không làm ảnh hưởng đến quan hệ của mỗi nước với các nước khác. Những
nguyên tắc trên là những nguyên tắc chỉ đạo trong quan hệ giữa hai nước không chỉ
trong thời gian từ 1991-1999 mà còn là những nguyên tắc chung để xử lý quan hệ
Việt - Trung sau năm 1999 cho tới ngày nay và trong tương lai.
Sự phát triển của quan hệ Việt - Trung được đặt trong bối cảnh chung là Việt
Nam và Trung Quốc thực hiện chính sách đối ngoại cởi mở, đa dạng hóa và đa
phương hóa. Mối quan hệ đa phương của mỗi bên cũng tạo điều kiện thuận lợi cho
quan hệ song phương giữa hai nước ngày càng phát triển. Đây là nội dung mới trong
quan hệ giữa hai nước.với tư cách là thành viên của tổ chức Hiệp hội các quốc gia
Đông Nam Á (ASEAN), Việt Nam đã tích cực ủng hộ Trung Quốc trở thành bên đối
thoại chính thức của Diễn đàn ASEAN (Trung Quốc bắt đầu quan hệ với ASEAN kể
từ năm 1991), tạo thêm điều kiện thuận lợi để Trung Quốc phát triển quan hệ với
nhóm nước này. Ngược lại, với địa vị một thành viên có tiếng nói quan trong trong tổ
chức Hợp tác kinh tế châu Á – Thái Bình Dương (APEC), Trung Quốc cũng ủng hộ
Việt Nam gia nhập tổ chức nói trên (Việt Nam là thành viên chính thức của APEC từ
tháng 11/1998), tạo điều kiện thuận lợi cho quan hệ kinh tế giữa hai nước ngày càng
phát triển, không những qua kênh song phương mà còn qua kênh đa phương.
Như vậy, kể từ năm khi bình thường hóa quan hệ 1991, quan hệ Việt – Trung
thường hóa quan hệ về chính trị, khép lại quá khứ, mở ra giai đoạn mới, nhờ vậy,
trong suốt những năm 90 trên biên giới Việt Nam - Trung Quốc, trở thành biên giới
của tình hợp tác và hữu nghị, từ chiến trường chuyển thành thị trường ngày càng phát
triển phồn vinh và nhộn nhịp. Mức buôn bán qua biên giới Việt Nam và Trung Quốc
ngày càng tăng (xem bảng 1 và hình 2 bên dưới)
Bảng 1 – Mức buôn bán qua biên giới Việt Nam - Trung Quốc từ năm 1991 - 1999
Năm 1991
1992 1993 1994 1995 1996 1997 1998
1999
Mức
buôn
bán
(triệu
USD)
32.23
179,07
398,64
532,82
1.052,19
1.150,63
1.435,64
500
Năm
Phần trăm %
Hình 1 - Biểu đồ biểu thị phần trăm mức buôn bán qua biên giới Việt Nam -
Trung Quốc từ năm 1991 – 1999
1991
1992
1993
1994
1995
1996
1997
1998
1999
0
200
400
600
800
1000
1200
1400
1600
1800
Hình 2 - Biểu đồ biểu thị mức buôn bán qua biên giới
Việt Nam - Trung Quốc từ năm 1991 – 1999
Từ tình hình thực tế về buôn bán biên giới Việt- Trung trong lịch sử 10 năm
Ngày 2/12/1992,Chính phủ hai nước ký hiệp định hợp tác văn hóa giữa Chính
phủ nước CHND Trung Hoa và Chính phủ nước CHXHCN Việt Nam.Thông qua
hiệp định này nhằm tăng cường quan hệ hợp tác trên các lĩnh vực văn hóa,nghệ
thuật,thể dục thể thao,báo chí,phát thanh truyền hình,điện ảnh,biểu diễn nghệ
thuật,triển lãm,khuyến khích thúc đẩy các tác phẩm văn học ưu tú,cử cán bộ nghiệp
vụ thăm và trao đổi lẫn nhau….Nhờ vậy,các hoạt động giao lưu văn hóa giữa hai
nước đã phát triển mạnh mẽ.Phía Việt Nam đã cử hàng trăm đoàn đại biểu các cấp
thuộc lĩnh vực báo chí,mỹ thuật,bảo tàng,âm nhạc,truyền hình…đến Trung Quốc
khảo sát,nghiên cứu,biểu diễn,triễn lãm….Ngược lại nhiều đoàn văn hóa thuộc các
lĩnh vực khác nhau của Trung Quốc cũng đã sang Việt Nam biểu diễn.Đặc biệt,gần
đây,Đảng,Chính phủ và nhân dân Trung Quốc còn gửi tặng Việt Nam khoản tiền 150
triệu NDT để xây dựng cung văn hóa Việt_Trung tại thủ đô Hà Nội.
Là hai nước láng giềng kề cận, nhân dân Việt Nam và nhân dân Trung Quốc
có lịch sử gắn bó lâu đời, có nhiều điểm tương đồng trong đời sống văn hóa; tiềm
năng phát triển quan hệ hai nước là rất lớn. Với quyết tâm và nỗ lực chung của cả hai
bên, mối quan hệ đó sẽ không ngừng được củng cố, phát triển tốt đẹp hơn trong
tương lai, đáp ứng nguyện vọng và lợi ích của nhân dân hai nước, đồng thời góp
phần vì hòa bình, ổn định, hợp tác, phát triển ở khu vực và trên thế giới.
4. kết luận chung về mối quan hệ giữa Việt Nam và Trung Quốc giai đoạn này
Như vậy, kể từ khi hai nước bình thường hóa quan hệ cho tới năm 1999, mối
quan hệ Việt Nam và Trung Quốc đã có nhiều chuyển biến tích cực, từ thù thành
bạn, từ đối đầu sang đối thoại, tuy tình cảm hai nước không còn là quan hệ anh em
như những năm chúng ta kháng chiến chống Mỹ, nhưng sự chuyển biến quan hệ hai
nước đã giải quyết được nhiều vấn đề sau:
Tăng cường mối quan hệ mọi mặt giữa hai nước;
Thúc đẩy sự phát triển kinh tế hai nước;
Tăng cường tình đoàn kết hai dân tộc so với thời kì đối đầu;
Đối với mỗi nước, giảm được một “kẻ thù” và tăng thêm một người bạn;
Giải quyết các vấn đề tranh chấp biên giới;
Và rất nhiều vấn đề khác được giải quyết.
Nam Á vào tháng 7/1994 với sự tham gia của hầu hết các nước lớn là một đóng góp
tích cực cho hòa bình và an ninh của khu vực.Mặc dù bị ảnh hưởng nặng nề của cuộc
khủng hoảng tài chính năm 1997,song kinh tế các nước khu vực Châu Á_TBD đang
hồi phục và phát triển,liên kết khu vực đang được xúc tiến. Trong bối cảnh chung đó,
hai nước phải thực hiện một số cải cách về chính sách đối ngoại lẫn đối nội. Và đây
cũng là một trong những lí do chính khiến mối quan hệ hai nước được cải thiện trở
nên tốt đẹp hơn
Thứ hai:xu thế hòa bình và phát triển trên thế giới,sự ổn định và hợp tác của
khu vực Châu Á_TBD là điều kiện cần cho quan hệ Việt _Trung phát triển song chỉ
như thế thì chưa đủ.Chính những điểm tương đồng giữa hai nước mới có thể làm cho
sự hợp tác giữa hai nước toàn diện và sâu sắc hơn.
Việt Nam và Trung Quốc là hai nước láng giềng có mối quan hệ hữu nghị từ
ngàn năm nay.Hai nước có rất nhiều điểm tương đồng về văn hóa,phong tục tập
quán,con người…Chính sự tương đồng này đã tạo nên quan hệ gắn bó mật thiết giữa
nhân dân hai nước trontg lịch sử.Nhân dân thường xuyên qua lại,trao đổi thăm hỏi và
tăng cường sự hiểu biết lẫn nhau.Trong bối cảnh hai nước tiếp tục phát triển kinh tế
thị trường,sự gần gũi về mặt địa lý càng làm cho mối liên hệ giữa nhân dân hai nước
trở nên gắn bó và chặt chẽ do sự tăng cường quan hệ thương mại giữa hai nước
Không chỉ là hai nước láng giềng,Việt Nam và Trung Quốc còn có điểm
tương đồng về chính trị,kinh tế và xã hội: đều là nước XHCN,đều kiên trì sự lãnh
đạo của Đảng,thực hiên công nghiệp hóa,hiện đại hóa đất nước,tiến hành cải cách mở
cửa Liên Xô và các nước XHCN Đông Âu đã sụp đổ,Việt Nam và Trung Quốc là
hai trong số ít các nước còn lại trên thế giới.Các thế lực thù địch vẫn đang tiếp tục
thực hiện “diễn biến hòa bình” với nhiều thủ đoạn mới.Do vậy hai nước tất yếu phải
tăng cường quan hệ để góp phần vào công cuộc xây dựng kinh tế của mỗi nước,bảo
vệ độc lập dân tộc và CNXH. 2, Phương pháp đẩy mạnh mối quan hệ hai nước trong tương lai
Để duy trì quan hệ hợp tác Việt_Trung phục vụ cho sự nghiệp xây dựng chủ
1999 là giai đoạn chứng kiến những biến chuyển mạnh mẽ nhất đưa quan hệ Việt
Nam – Trung Quốc chuyển từ đối đầu sang bình thường và hợp tác toàn diện. Năm
1991 đánh dấu mốc quan trọng trong lịch sử Việt Nam khi mà hai nước đã biến từ
thù thành bạn, từ đối đầu sang đối thoại. Và năm 1999, quan hệ hai nước Việt Nam –
Trung Quốc đã được nâng lên tầm cao mới khi lãnh đạo hai nước xác định khuôn
khổ cho quan hệ Việt – Trung bằng phương châm 16 chữ vàng.Tám năm qua là một
thời gian cực kỳ ngắn ngủi so với lịch sử hàng nghìn năm của mối quan hệ láng
giềng Việt - Trung. Nhưng trong tám năm qua chúng ta đã chứng kiến sự thay đổi
sâu sắc trong mối quan hệ truyền thống này. Nhìn lại, chúng ta thấy sau khi bình
thường hóa, quan hệ Việt - Trung đã phát triển toàn diện trên tất cả các lĩnh vực:
chính trị, kinh tế, văn hóa, giáo dục v.v… với nhiều hình thức hợp tác phong phú, đa
dang: trao đổi đoàn qua lại, kết nghĩa giữa các địa phương. Là hai nước láng giềng kề
cận, nhân dân Việt Nam và nhân dân Trung Quốc có lịch sử gắn bó lâu đời, có nhiều
điểm tương đồng trong đời sống văn hóa; tiềm năng phát triển quan hệ hai nước là
rất lớn. Với quyết tâm và nỗ lực chung của cả hai bên, mối quan hệ đó sẽ không
ngừng được củng cố, phát triển tốt đẹp hơn trong tương lai, đáp ứng nguyện vọng và
lợi ích của nhân dân hai nước, đồng thời góp phần vì hòa bình, ổn định, hợp tác, phát
triển ở khu vực và trên thế giới
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Nguyễn Vũ Tùng, chính sách đối ngoại Việt Nam tập II(1975_2006)
II. Quan hệ Việt_Trung từ năm 1991 đến năm 1999 5
1. Quan hệ chính trị 5
2. Quan hệ kinh tế,thương mại 8
3. Quan hệ văn hóa, giáo dục 11
4. Kết luận chung về mối quan hệ giữa Việt Nam và Trung Quốc giai đoạn này 12
III, Làm thế nào để đẩy mạnh mối quan hệ hai nước trong tương lai? 13
1. Những nhân tố thuận lợi trong quan hệ hai nước 13
2, Phương pháp đẩy mạnh mối quan hệ hai nước trong tương lai 14
KẾT LUẬN 15
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 16