những nguyên nhân dẫn đến bình thường hóa quan hệ Việt Nam - Trung Quốc - Pdf 27

Trờng Đại học KHoa học xã hội & Nhân văn
K45 - Khoa Đông phơng
------
báo cáo khoa học

Đề tài : Những nguyên nhân dẫn đến bình thờng hoá quan
hệ Việt Nam - trung quốc
Lời cảm ơn
Mặc dù đã cố gắng tìm tòi học hỏi, phát huy cao nhất khả năng của mình để trình bày
các vấn đề đa ra một cách trọn vẹn, đầy đủ; song do thời gian, kiến thức và kinh nghiệm thực
tế còn hạn chế, nên b i vi ết không tránh khỏi những thiếu sót. Tôi rất mong đợc tiếp thu
những ý kiến, lời phê bình của các thầy cô giáo các bạn - những ngời quan tâm đến vấn đề này
để bài viết đợc hoàn thiện hơn.
Qua đây em bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến thầy hớng dẫn, các thầy cô khoa Đông Ph-
ơng học trờng Đại học KHXH & NV, thầy cô Viện nghiên cứu Trung Quốc đã cho em những
kiến thức quý báu để hoàn thành tiểu luận này.
2
Lời nói đầu
Sau chiến tranh lạnh, trật tự thế giới mới đang hình thành. Tất cả các nớc lớn nhỏ đều
điều chỉnh lại chính sách đối nội và đối ngoại cùng với đờng lối xây dựng đất nớc cho phù hợp
với tình hình mới.
Trong bất cứ hoàn cảnh nào Đảng và Nhà nớc ta luôn xác định: Việt Nam muốn là
bạn với tất cả các nớc trong cộng đồng thế giới, phấn đấu vì hoà bình độc lập và phát triển.
Trên cơ sở đó, nền Ngoại giao Việt Nam đã đạt đợc những thành tựu rực rỡ. Bên cạnh việc
thiết lập các mối quan hệ mới, Đảng và Nhà nớc ta không ngừng củng cố và khôi phục các
mối quan hệ truyền thống lâu đời với các nớc láng giềng, tiếp tục thúc đẩy và tăng cờng tình
hữu nghị truyền thống nh đoàn kết với Lào, Cămpuchia. Đặc biệt, Việt Nam đã khôi phục và
phát triển một bớc quan hệ hữu nghị, hợp tác với Trung Quốc sau những năm bị gián đoạn.
Hơn thế nữa, trong bối cảnh Quốc tế mới hiện nay hai Đảng, hai Nhà nớc và nhân dân Việt -
Trung đã đang và sẽ duy trì mối quan hệ láng giềng hữu nghị hợp tác toàn diện, ổn định lâu
dài, hớng tới tơng lai ngày một tốt đẹp hơn.

2.2.2. Đờng lối đối ngoại cải cách mở cửa của Đảng và Nhà nớc Trung Quốc.
Chơng III. Thực trạng và triển vọng quan hệ Việt Nam- Trung Quốc
3.1. Thuận lợi.
3.2. Tồn tại
3.3. Triển vọng
Kết luận.
4
Chơng I :
Những nét chính trong quan hệ Việt - Trung trớc Bình thờng hoá.
1.1. Giai đoạn từ 1949 - 1972
Việt Nam và Trung Quốc là hai nớc láng giềng có quan hệ bang giao từ bao đời nay
nhng mối quan hệ đó có những lúc nồng ấm và cũng có những lúc băng giá. Sau khi nớc
Cộng hoà nhân dân Trung Hoa ra đời 1/10/1959 thì đến đầu 1950, Trung Quốc đã công nhận
nớc Việt Nam dân chủ cộng hoà và đến 18/1/1950, hai nớc Việt - Trung từ sau khi đợc thiết
lập quan hệ ngoại giao. Quan hệ Việt - Trung từ khi đợc thiết lập, đã trải qua những thăng
trầm nhng cho đến nay nhìn chung là tốt đẹp và có xu hớng ngày càng phát triển. Chúng ta thử
nhìn lại những chặng đờng của mối quan hệ này và những nguyên nhân nào khiến hai quốc gia
Việt Nam - Trung Quốc xích lại gần nhau hơn và những thành quả mà việc bình thờng hoá
quan hệ Việt - Trung đem lại cho nhân dân hai nớc nói riêng và cho sự phồn thịnh phát triển
của khu vực và thế giới nói chung.
Từ đầu những năm 50 đến cuối những năm 60 quan hệ Việt - Trung nhìn bề mặt có thể
đợc đánh giá là tốt đẹp. Sở dĩ nh vậy vì trong thời kỳ này, Trung Quốc đã giúp đỡ Việt Nam cả
về vật chất lẫn tinh thần, góp phần to lớn làm lên thắng lợi hoàn toàn của nhân dân trớc thực
dân Pháp và tạo điều kiện thuận lợi để ta đánh Mĩ sau này. Nhng nếu nhìn một cách sâu sắc
hơn, ta có thể thấy đợc rằng sự giúp đỡ của Trung quốc đối với ta không phải hoàn toàn vô t,
hết mình. Năm 1950, Trung Quốc công nhận nớc Việt Nam dân chủ cộng hoà, thế nhng mãi
đến năm 1954, khi hiệp định Giơnevơ kí thì Trung Quốc mới cử đại sứ sang Việt Nam để
tránh đụng chạm đến đế quốc Pháp. Trung Quốc thúc ép ta ký hiệp định Giơnevơ 1954. Họ đã
ép Việt Nam nhận vĩ tuyến 17 trên thực tế là Trung Quốc đã thoả thuận với Pháp để đổi lấy
một số lợi ích cho mình. Trong cuộc kháng chiến chống Mĩ, sự giúp đỡ của Trung Quốc đối

hoá quan hệ với Việt Nam, chừng nào quân đội Việt Nam cha rút hết khỏi Campuchia.
1.3. Giai đoạn 1986 - 1991
Cuộc chiến tranh biên giới tháng 2/1979 là một vết đen trong lịch sử. Quan hệ Việt -
Trung. Báo chí phơng Tây gọi là cuộc chiến giữa những ngời anh em đỏ điều đó không có
lợi cho các nớc (XHCN) nói chung và hai nớc Việt - Trung nói riêng. Việt Nam luôn tỏ rõ
thiện trí sẵn sàng đàm phán bình thờng hoá quan hệ với Trung Quốc.
Ngày 8/6/1986 tại hội nghị Ngoại trởng ba nớc Đông Dơng Việt Nam lại nêu ý muốn
Việt Nam sẵn sàng đàm phán với Trung Quốc bất kỳ ở đâu và bất kỳ cấp nào
(1)
. Một vấn đề
lớn là tháng 7/1986 căn cứ vào tình hình khu vực Châu á Thái Bình Dơng (CA-TBD), tình
hinh Việt Nam và Đông Dơng, Đảng và Nhà nớc ta quyết định chuyển sang giai đoạn đấu
tranh mới trong cùng tồn tại hoà bình với Trung Quốc, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI
Đảng cộng sản Việt Nam (12/1986) đã nêu: Trên tinh thần bình đẳng, đảm bảo độc lập chủ
quyền và tôn trọng lẫn nhau, sẵn sàng đàm phán để giải quyết những vấn đề thuộc quan hệ
Việt Nam giữa Việt Nam và Trung Quốc, bình thờng hoá và khôi phục tình hữu nghị giữa hai
(
1)
Năm mời năm ngoại giao Việt Nam, tập II, Lu Văn Lợi, nhà xuất bản Công an nhân
dân 1989 tr 204.
6
nớc vì lợi ích của nhân dân hai nớc vì hoà bình của Đông Nam á và trên thế giới
(2)
. Ngày
5/4/1989, Việt Nam tuyên bố sẽ rút hết quân khỏi Cămpuahia vào 8/1989. Ngày 12/8/1990,
Thủ tớng Lý Bằng tuyên bố Trung Quốc ky vọng cuối cùng sẽ bình thờng hoá quan hệ với
Việt Nam và thảo luận các vấn đề nh Nam-Sa.
Xuất phát từ những biến chuyến chuyển của tình hình thế giới và khu vực trên cơ sở
hai nớc đều có thiện chí khôi và bình thờng hoá quan hệ, với những vấn đề nêu trên, đặc biệt
vấn đề cămphuchia đã làm gián đoạn và can trở việc bình thờng hoá quan hệ giữa hai nớc.

(
3)
Lu Văn Lợi, Sdd tr.212.
7
pháp Quốc tế. Cuộc hội đàm này là một mốc son lịch sử, mang một ý nghãi quan trọng của
thời đại mới: khép lại quá khứ, mở ra tơng lai.
Tóm lại, từ những năm đầu thập kỷ 70 quan hệ Việt - Trung một thời gian dài dơi vào
tình trạng căng thẳng va đối đầu, nổi cộm là vấn đề Cămpuchia chi phối quan hệ này và đỉnh
cao là cuộc chiến tranh biên giới năm 1979 làm cho quan hệ hai nớc trong tình trạng xấu nhất.
Tuy nhiên với thiện chí của Việt Nam với tinh thần hợp tác vì một Đông Nam á hoà bình, ổn
định và sự phát triển của các nớc ASEAN, sự quan tâm giải quyết của các nớc lớn, trong đó có
Trung Quốc đã làm cho quan hệ trong khu vực ấm lên cởi mở hơn. Những chuyển biến tích
cực này đã tác động tích cực đến quan hệ Việt - Trung. Có thể nói bình thờng hoá quan hệ
Việt - Trung là phù hợp với xu thế phát triển của thời đại, xu thế hoà bình, ổn định hợp tác và
phát triển trên thế giới, phù hợp với nguyện vọng của hai Đảng hai Nhà nớc và lợi ích căn bản
của nhân dân hai nớc.
8
Chơng II
Những nguyên nhân chủ quan và khách quan dẫn đến việc bình th-
ờng hoá quan hệ việt - trung.
2.1. Những nguyên nhân khách quan
Ngày nay, cục diện Thế giới biến đổi sâu sắc thúc đẩy nhanh quá trình quốc tế háo và
khu vực hóa nền kinh tế và đời sống xã hội. Thế giới. Các quốc gia lớn nhỏ ngày càng tuỳ
thuộc lẫn nhau trong xu thế hoà bình hợp tác và phát triển. Hoà bình phát triển trở thành nhu
cầu, mệnh lệnh của thời đại, là vấn đề sống còn của mỗi quốc gia, mỗi dân tộc. Ngày nay rõ
ràng không chỉ có một mô hình xã hội duy nhất, các dân tộc đang tìm con đờng đi đến một xã
hội mới, tiến bộ giàu mạnh và công bằng hơn. Chúng ta phấn đấu thực hiện dângiàu, nớc
mạnh, xã hội công bằng văn minh cùng nhằm đạt đợc mục tiêu lý tởng cao đẹp.
Chiến tranh lạnh chấm dứt sự sụp đổ của Liên Xô và các nớc XHCH Đông Âu khiến
CNXH Thế giới lầm vào thoái trào, tác động mạnh mẽ đến tình hình Thế giới, cán cân lực l-

sang xu thế đối thoại, chạy đua vũ trang sang cam kết về quân sự, hoà dịu trong sinh hoạt quốc
tế. Hoà bình ổn định để hợp tác là nhu cầu khách quan, đem lại cơ hội cho các quốc gia phát
triển kinh tế đợc u tiên hàng đầu có ý nghĩa quyết định đối với việc tăng cờng sức mạnh tổng
hợp của quốc gia trên trờng quốc tế. Đồng thời, không ngừng tạo sự ổn định chính trị và điều
kiện mở rộng hợp tác quốc tế, chính sách dối ngoại mỗi nớc nhằm phục vụ đờng lối, chính
sách phát triển kinh tế nớc mình, mở rộng quan hệ chính trị đối ngoại, tạo môi trờng quốc tế
thuận lợi, khai thác các nguồn lực bên ngoài phục vụ cho sự phát triển đất nớc. Hội nhập và
phát triển, khai thác điểm đồng, hạn chế điểm bất đồng, tập hợp lực lợng để tạo ra thế và lực
cho nhu cầu phát triển. Bên cạnh đó không ngừng nâng cao ý thức độc lập tự chủ, tự cờng và
đấu tranh chống sự can thiệp và áp đặt của nớc ngoài, bảo vệ độc lập chủ quyền và văn hoá
dân tộc, phát triển kinh tế xã hội. Khi yếu tố kinh tế trở thành nhân tố quyết định quyền lực
của mỗi quốc gia, lợi ích phát triển, hợp tác và cạnh tranh phát triển đang là vấn đề nổi bật
trong quan hệ quốc tế hiện đại. Các quốc gia có chế độ chính trị xã hội khác nhau nhng trung
hợp về nhu cầu, nguyện vọng, lợi ích vì hoà bình ổn định và phát triển vừa hợp tác vừa đấu
tranh trong cùng tồn tại hoà bình. Trung Quốc và Việt Nam đang thực hiện cải cách và mở cửa
rất cần đến hoà bình, ổn định, hợp tác để phát triển ở trong nớc cũng nh khu vực và quốc tế.
2.1.2. Xu thế quốc tế hoá, khu vực hoá
Gắn liền với xu thế nêu trên, xu thế quốc tế, khu vực hoá trong lĩnh vực kinh tế đang
ngày càng phát triển. Mỗi quốc gia không thể tồn tại biệt lập mà phải hoạch định chính sách
liên kết khu vực, hợp tác quốc tế cùng phát triển vì lợi ích căn bản của mỗi bên. Thế giới ngày
này là một tổng thể thống nhất, tuỳ thuộc lẫn nhau, vừa hợp tác vừa cạnh tranh và kiềm chế
ảnh hởng của nhau. Hội nhập quốc tế là sự lựa chọn tất yếu, đa đến một thế giới phụ thuộc lẫn
nhau ngày một sâu sắc. Nhờ có quá trình tự do hoá kinh tế, các quốc gia đi sau có khả năng
tiếp cận các nguồn vốn và công nghệ quốc tế, rút ngắn quá trình. Đồng thời phát huy tối đa thế
mạnh của đất nớc và tận dụng cơ hội do quá trình quốc tế háo đang mở ra.
10


Nhờ tải bản gốc
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status