TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM
₪₪
Đề tài 9:
Phân biệt những điểm giống và khác nhau giữa bảo
hiểm thương mại với bảo hiểm xã hội và bảo hiểm y tế
GVHD: TS. NGUYỄN TẤN HOÀNG
Nhóm thực hiện: K33
Lê Ánh Hằng NH06
Nguyễn Ngọc Quỳnh Hương NH06
Lưu Bá Hưng NH06
Nguyễn Thành Luân NH06
Đỗ Thị Thùy Ngân NH06
Trầm Duy Tân NH06
LỜI MỞ ĐẦU
Cuộc đời mỗi người có thể ví như một bản nhạc có nhiều nốt thăng trầm qua
từng giai đoạn của cuộc sống. Tuy nhiên, hạnh phúc và thành công không chỉ đến một
cách ngẫu nhiên, mà thường với những người biết hoạch định tốt cuộc sống của chính
họ. Làm sao để có thể chủ động điều khiển “ Bản nhạc cuộc đời” của riêng bạn và
những người thân yêu? Bảo hiểm chính là giải pháp tối ưu và hoàn hảo mang lại sự
bảo vệ vững chắc và an tâm cho gia đình bạn trong suốt cuộc đời. Là một trong những
lĩnh vực quan trọng đối với các quốc gia nói chung và với Việt Nam nói riêng, bảo
hiểm không chỉ là một biện pháp di chuyển rủi ro, tạo ra sự yên tâm trong công việc,
chia sẻ lo ngại về những mầm mống rủi ro có thể xảy ra trong cuộc sống đối với khách
hàng, mà bảo hiểm ngày nay đã trở thành một trong những kênh huy động vốn hiệu
quả cho nền kinh tế. Thực tế, hoạt động kinh doanh bảo hiểm thời gian qua đã cho
thấy sự lớn mạnh không ngừng của ngành bảo hiểm và nhiều tiềm năng phát triển
trong tương lai.
Trong hệ thống tài chính nói riêng, hệ thống kinh tế xã hội nói chung, bảo hiểm
tồn tại như là một bộ phận cấu thành với 2 hình thức chính: bảo hiểm xã hội và bảo
hiểm thương mại. Trong đó, sản phẩm bảo hiểm là những dịch vụ mang tính đặc thù,
riêng có, và trừu tượng. Vì thế, nếu không tìm hiểu thật kỹ, khách hàng có thể nhầm
BHYT là hình thức bảo hiểm được áp dụng trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe nhằm
bảo đảm chi trả một phần hoặc toàn bộ chi phí khám chữa bệnh cho người tham
gia BHYT khi họ ốm đau, bệnh tật bằng nguồn quỹ BHYT do sự đóng góp theo chu
kỳ của người sử dụng lao động, người lao động, các tổ chức và cá nhân.
Quyền của người tham gia bảo hiểm y tế
1. Được cấp thẻ bảo hiểm y tế khi đóng bảo hiểm y tế.
2. Lựa chọn cơ sở khám bệnh, chữa bệnh bảo hiểm y tế ban đầu theo quy định
3. Được khám bệnh, chữa bệnh.
4. Được tổ chức bảo hiểm y tế thanh toán chi phí khám bệnh, chữa bệnh theo chế độ
bảo hiểm y tế.
5. Yêu cầu tổ chức bảo hiểm y tế, cơ sở khám bệnh, chữa bệnh bảo hiểm y tế và cơ
quan liên quan giải thích, cung cấp thông tin về chế độ bảo hiểm y tế.
6. Khiếu nại, tố cáo hành vi vi phạm pháp luật về bảo hiểm y tế.
Nghĩa vụ của người tham gia bảo hiểm y tế
1. Đóng bảo hiểm y tế đầy đủ, đúng thời hạn.
2. Sử dụng thẻ bảo hiểm y tế đúng mục đích, không cho người khác mượn thẻ bảo
hiểm y tế.
3. Thực hiện các quy định khi đến khám bệnh, chữa bệnh.
4. Chấp hành các quy định và hướng dẫn của tổ chức bảo hiểm y tế, cơ sở khám bệnh,
chữa bệnh khi đến khám bệnh, chữa bệnh.
5. Thanh toán chi phí khám bệnh, chữa bệnh cho cơ sở khám bệnh, chữa bệnh ngoài
phần chi phí do quỹ bảo hiểm y tế chi trả.
B. Bảo hiểm thương mại:ai
1./ Khái niệm Bảo hiểm thương mại
Bảo hiểm thương mại hay hoạt động kinh doanh bảo hiểm được thực hiện bởi
các tổ chức kinh doanh bảo hiểm trên thị trường bảo hiểm thương mại. Bảo hiểm
thương mại chỉ những hoạt động mà ở đó các doanh nghiệp bảo hiểm chấp nhận rủi ro
trên cơ sở người được bảo hiểm đóng một khoản tiền gọi là phí bảo hiểm để doanh
nghiệp bảo hiểm bồi thường hay trả tiền bảo hiểm khi xảy ra các rủi ro đã thỏa thuận
trước trên hợp đồng.
tượng, thường gắn liền với tuổi thọ con người (nên gọi là bảo hiểm nhân thọ). Các hợp
đồng loại này thường là trung và dài hạn (10 năm, 20 năm, trọn đời )
• Phân loại theo tính chất của tiền bảo hiểm trả:
(1) Các loại bảo hiểm có số tiền bảo hiểm trả theo nguyên tắc bồi
thường: Theo nguyên tắc này, số tiền mà người bảo hiểm trả cho người được bảo hiểm
không bao giờ vượt quá giá trị thiệt hại thực tế mà anh ta đã phải gánh chịu. Các loại
bảo hiểm này gồm có: bảo hiểm tài sản và bảo hiểm trách nhiệm dân sự (gọi chung là
bảo hiểm thiệt hại). Với loại bảo hiểm nầy, về nguyên tắc, người mua bảo hiểm không
được ký hợp đồng trên giá hoặc bảo hiểm trùng ;
(1) (2) Các loại bảo hiểm có số tiền bảo hiểm trả theo nguyên tắc khoán:
Người được bảo hiểm sẽ nhận được số tiền khoán theo đúng mức mà họ đã thỏa thuận
trước trên hợp đồng bảo hiểm với người bảo hiểm tùy thuộc và phù hợp với nhu cầu
cũng như khả năng đóng phí. Đây chính là các loại bảo hiểm nhân thọ và một số
trường hợp của bảo hiểm tai nạn, bệnh tật. Với loại bảo hiểm nầy, về nguyên tắc,
người mua bảo hiểm có thể cùng một lúc ký nhiều hợp đồng bảo hiểm cho một đối
tương và không bị hạn chế số tiền bảo hiểm
• Phân loại theo phương thức quản lý:
(2) Với cách phân loại này, các nghiệp vụ bảo hiểm thương mại được chia
làm 2 hình thức: bắt buộc và tự nguyện
(3) (1) Bảo hiểm tự nguyện: Là những loại bảo hiểm mà hợp đồng được
kết lập dựa hoàn toàn trên sự cân nhắc và nhận thức của người được bảo hiểm. Đây là
tính chất vốn có của bảo hiểm thương mại khi nó có vai trò như là một hoạt động dịch
vụ cho sản xuất và sinh hoạt con người.
(4) (2) Bảo hiểm bắt buộc: Được hình thành trên cơ sở luật định nhằm bảo
vệ lợi ích của nạn nhân trong các vụ tổn thất và bảo vệ lợi ích của toàn bộ nền kinh tế
- xã hội. Các hoạt động nguy hiểm có thể dẫn đến tổn thất con người và tài chính trầm
trọng gắn liền với trách nhiệm dân sự nghề nghiệp thường là đối tượng của sự bắt
buộc này. Ví dụ: bảo hiểm trách nhiện dân sự chủ xe cơ giới, trách nhiệm dân sự của
thợ săn Tuy nhiên, sự bắt buộc chỉ là bắt buộc người có đối tượng mua bảo hiểm
chứ không bắt buộc mua bảo hiểm ở đâu. Tính chất tương thuận của hợp đồng bảo
Bảo hiểm thương mại được thực hiện bởi các doanh nghiệp bảo hiểm nhằm mục
đích cung cấp cho xã hội một loại hàng hóa, dịch vụ “an tòan”, trên cơ sở đó, nhà bảo
hiểm tìm kiếm một khoản lợi nhuận kinh doanh bảo hiểm.
Nói cách khác, mối quan hệ của Bảo hiểm thương mại nẩy sinh mang tính chất tự
nguyện, còn Mối quan hệ của Bảo hiểm xã hội và bảo hiểm y tế mang tính chất bắt
buộc.
d. Người tham gia bảo hiểm:
Bảo hiểm xã hội và bảo hiểm y tế: người sử dụng lao động và người làm công
hưởng lương
Ví dụ:
Bảo hiểm xã hội :
1. Người lao động tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc là công dân Việt Nam, bao
gồm:
a) Người làm việc theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn, hợp đồng lao
động có thời hạn từ đủ ba tháng trở lên;
b) Cán bộ, công chức, viên chức;
c) Công nhân quốc phòng, công nhân công an;
d) Sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp quân đội nhân dân; sĩ quan, hạ sĩ quan
nghiệp vụ, sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên môn kỹ thuật công an nhân dân; người làm
công tác cơ yếu hưởng lương như đối với quân đội nhân dân, công an nhân dân;
đ) Hạ sĩ quan, binh sĩ quân đội nhân dân và hạ sĩ quan, chiến sĩ công an nhân dân
phục vụ có thời hạn;
e) Người làm việc có thời hạn ở nước ngoài mà trước đó đã đóng bảo hiểm xã hội
bắt buộc.
2. Người sử dụng lao động tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc bao gồm cơ quan
nhà nước, đơn vị sự nghiệp, đơn vị vũ trang nhân dân; tổ chức chính trị, tổ chức chính
trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, tổ
chức xã hội khác; cơ quan, tổ chức nước ngoài, tổ chức quốc tế hoạt động trên lãnh
thổ Việt Nam; doanh nghiệp, hợp tác xã, hộ kinh doanh cá thể, tổ hợp tác, tổ chức
khác và cá nhân có thuê mướn, sử dụng và trả công cho người lao động.
9. Người có công với cách mạng.
10. Cựu chiến binh theo quy định của pháp luật về cựu chiến binh.
11. Người trực tiếp tham gia kháng chiến chống Mỹ cứu nước theo quy định của
Chính phủ.
12. Đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp đương nhiệm.
13. Người thuộc diện hưởng trợ cấp bảo trợ xã hội hằng tháng theo quy định của
pháp luật.
14. Người thuộc hộ gia đình nghèo; người dân tộc thiểu số đang sinh sống tại vùng
có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn, đặc biệt khó khăn.
15. Thân nhân của người có công với cách mạng theo quy định của pháp luật về ưu
đãi người có công với cách mạng.
16. Thân nhân của các đối tượng sau đây theo quy định của pháp luật về sĩ quan
Quân đội nhân dân, nghĩa vụ quân sự, Công an nhân dân và cơ yếu:
a) Sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp thuộc Quân đội nhân dân đang tại ngũ; hạ sĩ
quan, binh sĩ đang phục vụ trong Quân đội nhân dân;
b) Sĩ quan, hạ sĩ quan nghiệp vụ và sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên môn, kỹ thuật đang
công tác trong lực lượng Công an nhân dân; hạ sĩ quan, chiến sĩ Công an nhân dân
phục vụ có thời hạn;
c) Sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp đang làm công tác cơ yếu tại Ban Cơ yếu
Chính phủ và người đang làm công tác cơ yếu hưởng lương theo bảng lương cấp
bậc quân hàm sĩ quan Quân đội nhân dân và bảng lương quân nhân chuyên nghiệp
thuộc Quân đội nhân dân nhưng không phải là quân nhân, công an nhân dân.
17. Trẻ em dưới 6 tuổi.
18. Người đã hiến bộ phận cơ thể người theo quy định của pháp luật về hiến, lấy,
ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác.
19. Người nước ngoài đang học tập tại Việt Nam được cấp học bổng từ ngân sách
của Nhà nước Việt Nam.
20. Người thuộc hộ gia đình cận nghèo.
21. Học sinh, sinh viên.
22. Người thuộc hộ gia đình làm nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp và diêm
Ví dụ: Trong bảo hiểm trách nhiệm dân sự chủ tàu sông, tàu ven biển, thời gian
bảo hiểm: thời hạn bảo hiểm tính theo dương lịch dài nhất không quá 12 tháng, ngắn
nhất không dưới 03 tháng. Hiệu lực bảo hiểm bắt đầu và kết thúc theo thời gian ghi
trên giấy chứng nhận bảo hiểm, với điều kiện người được bảo hiểm đã nộp phí bảo
hiểm đẩy đủ và đúng hạn .
Ngược lại mối quan hệ giữa Người lao động và cơ quan bảo hiểm xã hội, bảo
hiểm y tế là dài hạn, trọn đời.
Ví dụ đối với bảo hiểm xã hội : Điều 50. Điều kiện hưởng lương hưu:Người lao
động quy định tại các điểm a, b, c và e khoản 1 Điều 2 của Luật này có đủ hai mươi
năm đóng bảo hiểm xã hội trở lên được hưởng lương hưu khi thuộc một trong các
trường hợp sau đây: a) Nam đủ sáu mươi tuổi, nữ đủ năm mươi lăm tuổi; b) Nam từ
đủ năm mươi lăm tuổi đến đủ sáu mươi tuổi, nữ từ đủ năm mươi tuổi đến đủ năm
mươi lăm tuổi và có đủ mười lăm năm làm nghề hoặc công việc nặng nhọc, độc hại,
nguy hiểm thuộc danh mục do Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội và Bộ Y tế ban
hành hoặc có đủ mười lăm năm làm việc ở nơi có phụ cấp khu vực hệ số 0,7 trở lên.
Tuổi đời được hưởng lương hưu trong một số trường hợp đặc biệt khác do Chính phủ
quy định.
e. Cộng đồng Người được bảo hiểm:
Cộng đồng Người được bảo hiểm của Bảo hiểm thương mại là một “nhóm đóng”
có giới hạn trong một thời kỳ nhất định
Cộng đồng Người được bảo hiểm của Bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế đó lại là một
“nhóm mở” có đầu vào và đầu ra là các thế hệ người lao động nối tiếp nhau.
f. Cơ sở nguồn tiền đóng bảo hiểm
Bảo hiểm xã hội hoàn toàn dựa vào thu nhập từ tiền lương, tiền công của người
lao động. Bảo hiểm xã hội thực hiện các quy định theo chính sách xã hội của Nhà
nước trong từng thời kỳ để đảm bảo sự phát triển kinh tế - xã hội, sự ổn định chính trị
của quốc gia. Mức đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm thất nghiệp được tính
trên cơ sở tiền lương, tiền công của người lao động. Mức đóng bảo hiểm xã hội tự
nguyện được tính trên cơ sở mức thu nhập do người lao động lựa chọn nhưng mức thu
nhập này không thấp hơn mức lương tối thiểu chung.
h. Quỹ bảo hiểm:
Bảo hiểm xã hội: Nguồn hình thành quỹ
1. Người lao động đóng
2. Tiền sinh lời của hoạt động đầu tư từ quỹ.
3. Hỗ trợ của Nhà nước.
4. Các nguồn thu hợp pháp khác.
Bảo hiểm y tế: Nguồn hình thành quỹ bảo hiểm y tế
1. Tiền đóng bảo hiểm y tế theo quy định của Luật này.
2. Tiền sinh lời từ hoạt động đầu tư của quỹ bảo hiểm y tế.
3. Tài trợ, viện trợ của các tổ chức, cá nhân trong nước và nước ngoài.
4. Các nguồn thu hợp pháp khác.
Bảo hiểm thương mại: nguồn quỹ hình thành do người mua bảo hiểm đóng
i. Các đảm bảo và mức độ đảm bảo:
a. Bảo hiểm xã hội: đối với trợ cấp ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh
nghề nghiệp, hưu trí, tử tuất theo lương tối thiểu, lương trung bình hoặc lương thực
tế tùy loại trợ cấp. Ví dụ:
Điều 52. Mức lương hưu hằng tháng (luật bảo hiểm xã hội)
1. Mức lương hưu hằng tháng của người lao động đủ điều kiện quy định tại Điều
50 của Luật này được tính bằng 45% mức bình quân tiền lương, tiền công tháng đóng
bảo hiểm xã hội quy định tại Điều 58, Điều 59 hoặc Điều 60 của Luật này tương ứng
với mười lăm năm đóng bảo hiểm xã hội, sau đó cứ thêm mỗi năm đóng bảo hiểm xã
hội thì tính thêm 2% đối với nam và 3% đối với nữ; mức tối đa bằng 75%.
2. Mức lương hưu hằng tháng của người lao động đủ điều kiện quy định tại Điều
51 của Luật này được tính như quy định tại khoản 1 Điều này, sau đó cứ mỗi năm
nghỉ hưu trước tuổi quy định thì giảm 1%.
3. Mức lương hưu hằng tháng thấp nhất bằng mức lương tối thiểu chung.
b. Bảo hiểm y tế: thanh toán chi phí khám chữa bệnh dựa vào tùy đối
tượng và tính theo chi phí khám chữa bệnh.
Ví dụ: CBCC, người lao động, làm việc theo HĐ không xác định thời hạn hoặc
HĐ từ 3 tháng trở lên, kể cả lao động người nước ngoài. Khám chữa bệnh đúng
các danh mục thuốc và dịch vụ kỹ thuật chẩn đoán, điều trị do Bộ Y tế quy định (KCB
ở tuyến xã được thanh toán 100%); được thanh toán 80% chi phí kỹ thuật cao có chi
phí lớn trong 1 lần sử dụng dịch vụ, nhưng cũng không quá 40 tháng lương tối thiểu.
Đây thuộc loại bảo hiểm y tế vì:
+ Được cơ quan nhà nước tổ chức quản lý tiến hành,
+ Mức phí bảo hiểm: mức thấp nhất 3% của mức lương tối thiểu nhưng được
ngân sách nhà nước hỗ trợ (tỷ lệ cụ thể tùy từng địa phương)
+ Tổ chức hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận, nếu quỹ bảo hiểm còn dư
thì được chuyển hết sang những năm tiếp theo
+ Phạm vi áp dụng của bảo hiểm này là toàn bộ học sinh, sinh viên trên cả
nước.
Tình huống 2:
Ngày 28/8/2010 Chị Lan đến công ty bảo hiểm Bảo Minh mua cho con chị (đang
học lớp 12) bảo hiểm toàn diện học sinh, trong hợp đồng ký với công ty bảo hiểm
Bảo Minh có các điều khoản sau:
“Phạm vi địa lý:
Phạm vi địa lý được bảo hiểm của bảo hiểm này là lãnh thổ Việt Nam.
Các quyền lợi bảo hiểm khác:
Người được bảo hiểm theo Quy tắc này vẫn được tham gia và hưởng quyền lợi
của các loại hình bảo hiểm khác nếu ký các hợp đồng độc lập với nhau.
Phạm vi bảo hiểm:
Bảo hiểm này bồi thường cho Người được bảo hiểm trong những trường hợp sau đây:
A. Phạm vi bảo hiểm A: Chết do mọi nguyên nhân;
B. Phạm vi bảo hiểm B: Thương tật thân thể do tai nạn;
C. Phạm vi bảo hiểm C: Ốm đau, bệnh tật, thai sản phải nằm viện hoặc phẫu
thuật.
Các điểm loại trừ:
Bảo hiểm này không trả tiền bảo hiểm trong những trường hợp sau hoặc gây ra bởi:
1. Hành động cố ý của Người được bảo hiểm hoặc người thừa kế hợp pháp (trừ
trường hợp trẻ em dưới 14 tuổi).
Đối với hợp đồng bảo hiểm tái tục, hợp đồng bảo hiểm có hiệu lực ngay sau
khi Người được bảo hiểm đã đóng phí bảo hiểm đầy đủ trừ khi có thỏa thuận khác.
Đối với hợp đồng bảo hiểm đầu tiên và hợp đồng bảo hiểm không liên tục,
hiệu lực bảo hiểm tuân theo các quy định sau, trừ khi có thỏa thuận khác:
1. Phạm vi bảo hiểm A: bảo hiểm chỉ có hiệu lực bảo hiểm sau 30 ngày kể từ ngày
đóng phí bảo hiểm đối với trường hợp chết không do tai nạn. Trường hợp chết do tai
nạn, bảo hiểm có hiệu lực ngay sau khi Người được bảo hiểm đóng phí bảo hiểm đầy
đủ.
2. Phạm vi bảo hiểm B: bảo hiểm có hiệu lực ngay sau khi Người được bảo hiểm đã
đóng phí bảo hiểm đầy đủ.
3. Phạm vi bảo hiểm C:
a. Trường hợp ốm đau bệnh tật (không phải do tai nạn): bảo hiểm chỉ có hiệu
lực sau 30 ngày kể từ ngày Người được bảo hiểm đóng phí bảo hiểm đầy đủ.
b. Trường hợp sẩy thai, nạo thai theo chỉ định của bác sĩ, lấy u nang buồng
trứng, điều trị thai sản: bảo hiểm chỉ có hiệu lực sau 90 ngày kể từ ngày Người được
bảo hiểm đóng phí bảo hiểm đầy đủ.
c. Trường hợp sinh đẻ: bảo hiểm chỉ có hiệu lực sau 270 ngày kể từ ngày
Người được bảo hiểm đóng phí bảo hiểm đầy đủ Các quy định ở mục 3a, 3b, 3c
của Điều này không áp dụng đối với hợp đồng bảo hiểm nhóm có từ 50 thành viên trở
lên.
Quyền lợi của Người được bảo hiểm:
1a. Trường hợp có tham gia phạm vi bảo hiểm A, Người được bảo hiểm chết
thuộc phạm vi bảo hiểm, Công ty bảo hiểm trả toàn bộ số tiền bảo hiểm ghi trong
phạm vi bảo hiểm A.
1b. Trường hợp không tham gia phạm vi bảo hiểm A, Người được bảo hiểm chết
do tai nạn, Công ty bảo hiểm trả toàn bộ Số tiền bảo hiểm ghi trong phạm vi bảo hiểm
B.
2. Trường hợp Người được bảo hiểm bị thương tật thân thể do tai nạn (thương tật
vĩnh viễn và thương tật tạm thời) thuộc phạm vi bảo hiểm: Công ty bảo hiểm trả tiền
bảo hiểm theo tỷ lệ phần trăm của Số tiền bảo hiểm thuộc phạm vi bảo hiểm B được
Minh)
+ Mức bảo hiểm: đóng theo mức đảm bảo đã chọn
+ Quỹ bảo hiểm: được quản lý theo cơ chế hạch toán kinh doanh có lãi
2. Bảo hiểm xe cơ giới thuộc loại hình nào?
Các sản phẩm bảo hiểm xe cơ giới thường được các công ty bảo hiểm việt nam cung
cấp bao gồm :
a. Bảo hiểm TNDS của chủ xe đối với hành khách trên xe
b. Bảo hiểm TNDS của chủ xe đối với hàng hoá vận chuyển trên xe
c. Bảo hiểm thiệt hại vật chất xe cơ giới
d. Bảo hiểm tai nạn lái phụ xe và người ngồi trên xe
e. Bảo hiểm kết hợp xe cơ giới…
Loại hình bảo hiểm: bảo hiểm xe cơ giới là loại hình bảo hiểm thương mại :
A. Dựa vào một số đặc điểm cơ bản của bảo hiểm thương mại.
1. Đây là họat động bảo hiểm được thực hiện bởi các tổ chức kinh doanh bảo
hiểm trên thị trường bảo hiểm thương mại được thành lập và hoạt động kinh doanh
bảo hiểm hợp pháp tại Việt Nam và được phép triển khai bảo hiểm bắt buộc trách
nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới. Ví dụ như công ty bảo hiểm Bảo Việt , Bảo Minh,
Bảo Tín
“Căn cứ nghị định 103/2008/NĐ-CP: bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ
xe cơ giới”
2. “Ngoài việc tham gia hợp đồng bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự, chủ xe
cơ giới có thể thoả thuận với doanh nghiệp bảo hiểm để tham gia hợp đồng bảo hiểm
tự nguyện, như là các bảo hiểm tai nạn và thiệt hại về tài sản khi lưu thông trên xe cơ
giới.” Nhìn chung hoạt động bảo hiểm ở đây cũng có tính chất như là một hoạt động
thỏa thuận.
3. Bảo hiểm cung cấp dịch vụ đảm bảo không chỉ cho các rủi ro bản thân con
người mà còn cho cả rủi ro tài sản và trách nhiệm. (Bảo hiểm tai nạn lái phụ xe và
người ngồi trên xe; Bảo hiểm thiệt hại vật chất xe cơ giới; Bảo hiểm TNDS của chủ xe
đối với hành khách trên xe…)
4. Bảo hiểm xe cơ giới có mức phí, mức chi trả, bồi thường phụ thuộc vào thảo
không chỉ có vai trò trong bối cảnh hoạt động ngân hàng ở trạng thái bình thường và
phát triển mà nó có vai trò đặc biệt trong trường hợp xảy ra khủng hoảng hoặc có
nguy cơ xảy ra khủng hoảng tài chính.
Ðó cũng là nguyên nhân lý giải tại sao hàng loạt hệ thống bảo hiểm tiền gửi ở các
quốc gia châu Á ra đời sau khi xảy ra cuộc khủng hoảng tài chính ở khu vực châu Á.
Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam (BHTGVN) được Chính phủ thành lập năm 2000 có trụ
sở chính tại Hà Nội. Theo đó, BHTGVN là một tổ chức tài chính nhà nước hoạt động
không vì mục tiêu lợi nhuận, với vai trò bảo vệ người gửi tiền, góp phần bảo đảm sự
phát triển an toàn và lành mạnh của hoạt động ngân hàng. Ở Việt Nam, hoạt động bảo
hiểm tiền gửi có
sự khác biệt với các loại hình bảo hiểm khác.
Năm vừa qua, thế giới đã chứng kiến cuộc khủng hoảng kinh tế trầm trọng nhất trong
vòng 80 năm qua. Nhiều nền kinh tế lớn trên thế giới bị "chao đảo" đặc biệt nhiều tổ
chức tài chính, ngân hàng thậm chí có lịch sử phát triển lâu đời với quy mô lớn đã bị
đổ vỡ. Trong bối cảnh đó, tổ chức BHTG của nhiều quốc gia điển hình là ở Mỹ đã có
đóng góp hiệu quả, tích cực trong việc bảo vệ người gửi tiền, xử lý đổ vỡ bảo đảm ổn
định xã hội.
Về sự điều chỉnh của pháp luật: Với chức năng và vai trò mang tính chất
đặc thù, hoạt động của bảo hiểm tiền gửi ở Việt Nam không chịu sự điều chỉnh của
Luật Kinh doanh bảo hiểm mà Chính phủ đã có nghị định riêng điều chỉnh hoạt động
bảo hiểm tiền gửi.
Về cơ chế bảo hiểm: Ở các loại hình bảo hiểm thương mại khác khi chủ thể
tham gia bảo hiểm sẽ xuất hiện mối quan hệ trực tiếp giữa một bên là đối tượng bảo
hiểm và một bên là đối tượng được bảo hiểm. Còn ở bảo hiểm tiền gửi thì khác, mặc
dù người gửi tiền là người được hưởng lợi trực tiếp từ chính sách bảo hiểm tiền gửi
nhưng không xuất hiện mối quan hệ trực tiếp về bảo hiểm tiền gửi giữa người gửi tiền
và tổ chức BHTG trừ trường hợp xảy ra đổ vỡ của tổ chức tín dụng. Theo quy định,
bất cứ một tổ chức (tín dụng hoặc không phải là tổ chức tín dụng nhưng có hoạt động
ngân hàng trừ ngân hàng chính sách hoặc tiết kiệm bưu điện - gọi là tổ chức tham gia
bảo hiểm tiền gửi) nào có hoạt động huy động tiền gửi của dân cư thì phải tham gia
thể…