LỜI NÓI ĐẦU
Trong công cuộc công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước, các doanh
nghiệp muốn tồn tại và phát triển, đòi hỏi người quản lý doanh nghiệp phải
nang động, sáng tạo, vận dụng những khả năng sẵn có của mình và nắm bắt
được cơ chế thị trường một cách linh hoạt, kịp thời để hạch toán linh hoạt,
kịp thời để hạch toán kinh doanh. Bởi hạch toán kế toán là công cụ sắc bén
không thể thiếu được trong quản lý kinh tế tài chính của các đơn vị cũng
như trong phạm vi toàn bộ nền kinh tế quốc dân ở nước ta hiện nay.
Thực hiện phương châm đào tạo "học đi đôi với hành, lý thuyết gắn
với thực tế, nhà trường gắn với xã hội". Chính vì vậy mà trường "Cao đẳng
kỹ thuật công nghiệp I" cho học sinh, sinh viên đi thực tập tại các đơn vị sản
xuất kinh doanh. Mục đích là giúp cho sinh viên nắm bắt và tìm hiểu thêm
về thực tế dựa trên lý thuyết đã được học ở nhà trường. Đồng thời tạo sự
nhuần nhuyễn thêm một cách có logic và có kiến thức được vững chắc để
khi trở thành một nhân viên, một cán bộ kế toán sẽ không còn bỡ ngỡ với
công việc được giao.
Nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề này. Sau khi dời ghế nhà
trường, kết thúc phần lý thuyết để bước vào thời gian thực tập em đã chọn
cho mình một chuyên đề chính đó là: "Tổ chức công tác kế toán lao động,
tiền lương".
Dưới chế độ xã hội chủ nghĩa hiện nay thì tiền lương của người lao
động được trả theo mức độ cống hiến của họ, vì tiền lương là giá cả, là sức
lao động mà nó được biểu hiện bằng tiền của giá trị sản phẩm phân phối cho
người lao động để bù đắp hao phí lao động cần thiết đã bỏ ra trong quá trình
sản xuất.
Qua quá trình thực tập tại công ty Khai thác công trình thuỷ lợi Mỹ
Đức - Hà Tây. Được sự giúp đỡ nhiệt tình của ban lãnh đạo, phòng kế toán
1
trong công ty, dưới sự hướng dẫn của các thầy cô giáo ở trường. Em đã hoàn
thành chuyên đề này với 3 nội dung chính sau:
Phần I: Khái quát về tình hình hoạt động của doanh nghiệp (Công ty
doanh hoạt động theo nguyên tắc tự chủ về tài chính được nhà nước cấp vốn
và vay vốn ngân hàng để sản xuất kinh doanh. Có trụ sở ở thị trấn Tế Tiêu
với ngành nghè kinh doanh chính là vận hành toàn bộ hệ thống công trình
thuỷ lợi tưới tiêu nước cho nông nghiệp và cung cấp nước cho cơ sở kinh tế
khác trong huyện theo hợp đồng dùng nước giữa công ty với HTX nông
nghiệp.
Công ty khai thác công trình thuỷ lợi Mỹ Đức nằm ở thị trấn Tế Tiêu
về danh giới địa chính của công ty là:
+ Phía Bắc giáp đường 73 và huyện Chương Mỹ/
+ Phía Đông và phía nam giáp sông Đáy và tỉnh Hà Nam.
+ Phía Tây giáp tỉnh Hoà Bình.
Toàn huyện Mỹ Đức có 22 xã và một thị trrấn với tổng diện tích là
22.100ha, bao gồm sông ngòi, đồi, núi, trong đó có 9.455 ha đất, dân số
3
163.000 người. Có tới 90% sống bằng nghề nông nghiệp, ngoài ra còn có
ngành nghề thủ công như dệt, trồng dâu nuôi tằm.
- Quá trình phát triển của công ty
+ Quá trình hoạt động và phát triển của công ty
Từ năm 1974 trở về trước huyện Mỹ Đức gồm có 2 hồ chứa nước, đó
là hồ Tuy Lai và hồ Quan Sơn (xây dựng từ năm 1959 với khả năng tưới
600ha và hai trạm bơm dầu Đức Môn và Kim Bôi) khả năng tưới 500 ha và
tiêu chủ yếu nước là tự tiêu ra sông đáy bằng các cống Đoan nữ (An Mỹ),
cống gánh (Phù Lưu Tế), cống đồng dầy (Đốc Tín) không có trạm bơm tiêu.
Việc quản lý công trình và điều hành do phòng thuỷ lợi đảm nhiệm.
Từ năm 1974 trở lại đây, được nhà nước đầu tư vốn mở rộng Hồ Quan
Sơn và Hồ Tuy Lai đồng thời xây dựng hồ mới Vĩnh An với tổng diện tích
cả 3 hồ theo thiết kế là: 11.410 m
3
nước. Năng lực tưới cho diện tích
1880ha. Một số trạm bơm đầu trở thành trạm bơm điện. Và xây dựng trạm
* Mô hình doanh nghiệp: Công ty khai thác công trình thuỷ lợi Mỹ
Đức thuộc loại hình doanh nghiệp vừa và nhỏ. Hơn nữa lại là công ty của
nhà nước cộng với vốn đi vay của công ty được tổ chức dưới dạng độc lập.
* Hình thức sở hữu vốn của công ty là: Hình thức sở hữu vốn của nhà
nước.
* Công ty thuộc lĩnh vực sản xuất kinh doanh là phục vụ sản xuất
nông nghiệp, mặt hàng chủ yếu là dịch vụ tưới tiêu.
3. Tổ chức bộ máy hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty
khai thác công trình thuỷ lợi Mỹ Đức
a. Về lao động và thu nhập
* Về lao động
Để đáp ứng nhu cầu của công ty đồng thời hoàn thành tốt các chỉ tiêu
kế hoạch của đơn vị, công ty đã có một số lượng lao động là 135 công nhân
(43 là nữ). Trong đó có:
5
+ Kỹ sư : 8 người
+ Cao đẳng : 5 người
+ Trung cấp : 5 người
+ Công nhân: 110 người
+ Nhân viên : 2 người
+ Đại học : 5 người.
Là công ty nhà nước hoạt động công ích, để đứng vững trong nền kinh
tế thị trường hiện nay. Công ty rất cố gắng tìm tòi, học hỏi cũng như vận
dụng những kinh nghiệm của mình để phát triển công ty và đạt kết quả tốt
đã được tỉnh tặng bằng, giấy khen nhiều năm đạt danh hiệu thi đua xuất sắc
(kể từ 1991 đến nay).
* Về thu nhập lao động
Năm
Chỉ tiêu
1998 1999 2000 2001 2002
là tăng từ 2.610.237.900 đồng (1998) lên 2.638.256.200 đồng (1999), đến
năm 2001-2002 lại giảm xuống từ 2.332.783.980 đồng (2000) xuống
2.235.253.480 đ (2001).
Như vậy nguyên nhân sự tăng giảm không ổn định này là do năm
1998 bị lũ lụt, đến năm 1999 bị hạn hán kéo dài và năm 2000, 2001 lại bị
mất mùa.
- Thu nhập bình quân lúc tăng, lúc giảm, không ổn định là do mức giá
quy định của nhà nước có sự thay đổi. Năm 1998 quy định giá thu thủy lợi
phí là 1.600đ/kg thóc, năm 2001 là 1400đ/1kg thóc, năm 2002 là 1800đ/1kg
thóc.
b. Về cơ cấu ban giám đốc, phòng ban và các bộ phận sản xuất kinh
doanh của Công ty khai thác công trình thuỷ lợi Mỹ Đức - Hà Tây.
Công ty khai thác công trình thuỷ lợi Mỹ Đức là đơn vị hạch toán kinh
tế độc lập theo nguyên tắc tự chủ về tài chính được nhà nước cấp vốn và cho
vay vốn ngân sách để hoạt động sản xuất kinh doanh. Nên việc tổ chức quản
lý và phân cấp quản lý theo cấp bậc như sau:
+ Ban giám đốc: Phụ trách chung, chỉ đạo trực tiếp chung công việc
sản xuất kinh doanh của đơn vị và cũng là người chịu trách nhiệm trực tiếp
7
trước cơ quan pháp luật của nhà nước về các mặt hoạt động sản xuất kinh
doanh của đơn vị.
+ Hai phó giám đốc:
- Phó giám đốc phụ trách về kỹ thuật
- Phó giám đốc phụ trách về hành chính
Việc tổ chức đoàn thể, một số công việc khác do giám đốc chịu trách
nhiệm về phân việc của mình. Về phó giám đốc phụ trách kỹ thuật sản xuất,
điều động chỉ đạo các cụm, trạm thuỷ nông giúp đỡ cho giám đốc lãnh đạo
hoạt động sản xuất kinh doanh được thông suốt.
- Các phòng ban trong Công ty khai thác công trình thuỷ lợi Mỹ Đức
+ Phòng tổ chức hành chính: Gồm 4 người có trách nhiệm điều động
+ Trạm bơm Hoà Lạc
+ Trạm bơm La Làng
+ Trạm bơm Cống Đắm
+ Trạm bơm Bãi Giữa
+ Trạm bơm Phù Lưu Tế
+ Trạm bơm Xuy Xá
+ Trạm bơm Tân Độ
+ Trạm bơm An Mỹ
+ Trạm bơm Áng Thượng
+ Trạm bơm Mỹ Thành
+ Trạm bơm Đức Môn
+ Trạm bơm Đỗ Mơ
+ Trạm bơm Phúc Lâm.
Nhiệm vụ của các bộ phận này là cung cấp nước tưới tiêu cho sản xuất
nông nghiệp trên phạm vi toàn huyện.
9
10
c. Hình thức tổ chức bộ máy kế toán của công ty
- Tổ chức hạch toán tạo ra mối quan hệ có định hướng theo một trình
tự xác định có giữa biện pháp thông qua nhân tố con người, nhằm đảm bảo
điều kiện thực hiện các chức năng, nhiệm vụ và phát huy vai trò của hạch
toán kế toán trong hoạt động quản lý.
Tổ chức công tác kế toán ở Công ty khai thác công trình thuỷ lợi Mỹ
Đức được xây dựng trên cơ sở đảm bảo tính thống nhất giữa kế toán của
quốc gia và quốc tế. Đảm bảo sự liên kết chặt chẽ giữa kế toán tổng hợp và
kế toán chi tiết tạo điều kiện cho việc cung cấp các thông tin kinh tế kịp
thời, số liệu chính xác cho yêu cầu quản lý, đảm bảo tiến độ công việc đều ở
tất cả các bộ phận kế toán của công ty.
Xuất phát từ đặc điểm tổ chức sản xuất và tổ chức quản lý phù hợp với
trình độ quản lý điều hành công việc. Công ty áp dụng hình thức kế toán tập
* Tổng doanh thu
- Tổng doanh thu năm 2002 so với năm 2001 tăng 8.713.799.589đ hay
tăng 24,78%
- Tổng doanh thu năm 2001 so với năm 2000 tăng 8.779.806.605đ hay
tăng 33,4%.
Như vậy tốc độ tăng doanh thu của năm 2002 thấp hơn 2001 là
66.007.016 hay thấp hơn là8,53%.
Nguyên nhân chủ yếu là do giá vốn tăng.
* Tổng lợi tức trước thuế
- Tổng lợi tức trước thuế năm 2002 so với năm 2001 tăng
3.303.513.348đ hay tăng 24,9%.
- Tổng lợi tức trước thuế năm 2001 so với năm 2000 tăng
2.829.602.497đ hay tăng 27,13%.
Nhận xét: Xét tổng quát năm sau so với năm trước thì tổng lợi tức
trước thuế tăng dần lên - nguyên nhân là do lợi nhuận từ hoạt động tài chính,
12
lợi nhuận hoạt động bất thường tăng dần do đó dẫn đến tổng lợi tức trước
thuế tăng.
* Số thuế phải nộp
- Số thuế phải nộp năm 2002 so với năm 2001 tăng 1.328.905.589đ
hay tăng 40,75%
- Số thuế phải nộp năm 2001 so với năm 2000 tăng 801.435.009đ hay
tăng 32,58%
Nhận xét: Năm sau so với năm trước tăng dần lên là do công ty xây
dựng thêm nhiều trạm bơm và mở rộng sản xuất kinh doanh.
* Lợi nhuận sau thuế
- Lợi nhuận sau thuế năm 2002 so với năm 2001 tăng 1.974.607.759đ
hay tăng 19,75%
- Lợi nhuận sau thuế năm 2001 so với năm 2000 tăng 2.028.168.488đ
hay tăng 25,45%
ngưoiừ lao động được hưởng khoản tiền khác như tiền thưởng thi đua,
thưởng năng suất lao động…
14
* Đối với Công ty khai thác công trình thuỷ lợi Mỹ Đức tiền lương
có đặc điểm sau:
- Tiền lương gắn liền với người lao động và nền sản xuất của người
nông dân.
- Trong điều kiện hiện nay thì tiền lương là một yếu tố chi phí sản xuất
cấu thành nên giá thành của sản phẩm lao vụ dịch vụ, tiền lương được sử
dụng như một đòn bảy kinh tế quan trọng kích thích động viên người lao
động gắn bó với công việc phát huy sáng tạo trong sản xuất nâng cao hiệu
quả sản xuất kinh doanh. Tăng năng suất lao động thúc đẩy sản xuất phát
triển.
* Vai trò của lao động và tiền lương
- Về lao động
Bất kỳ doanh nghiệp nào dù ở lĩnh vực sản xuất thương mại hay dịch
vụ đều cần phải có một lượng lao động nhất định, bởi đây là những con
người quyết định đến số lượng, chất lượng sản phẩm mà doanh nghiệp sản
xuất ra cũng như quyết định đến kết quả sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp.
Lao động không thể thiếu được khi chúng ta có đầy đủ máy móc, thiết
bị, có đủ nguyên vật liệu thì việc sản xuất làm ra những sản phẩm đó chính
là những người lao động.
Đối với Công ty khai thác công trình thuỷ lợi Mỹ Đức là một đơn vị
hoạt động công ích, người lao động đóng vai trò hết sức quan trọng, đối với
công ty là những người công nhân trực tiếp vận hành hệ thống máy móc để
tưới tiêu nước chống úng, chống hạn cho cây trồng, vì vậy mà người lao
động là những người không thể thiếu được trong quá trình sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp.
- Về tiền lương:
Tiền lương trực tiếp = = 951.200 đ
16
* Tiền lương sản phẩm: là việc tính lương trả cho người lao động căn
cứ vào số lượng, chất lượng lao động mà họ làm ra hoặc sản phẩm sản xuất
hoàn thành hoặc có thể tính theo doanh thu thực hiện được trong kỳ.
+ Đối với Công ty khai thác công trình thuỷ lợi: Việc tính lương theo
sản phẩm (cá nhân) là không thực hiện vì đây là doanh nghiệp hoạt động
công ích.
* Phương pháp trả lương:
Công ty khai thác công trình thuỷ lợi trả lương một lần vào cuối mỗi
tháng.
Bảng lương chức vụ quản lý doanh nghiệp
ĐVT: 1000đ
Hạng dn Hệ số - mức lương
Chức doanh Đặc biệt I II III IV
1. Giám đốc
- Hệ số
- Mức lương
6,72-7,60
1209,6 -
1270,8
5,72 - 6,03
1029,6 -
1085,4
4,98-5,26
896,4 - 946,8
4,32 - 4,60
777,6 - 828,0
3,66 - 3,9
658,8 - 702,0
đó làm cho hoạt động của công ty cũng đã đi đúng kế hoạch đặt ra không có
sự trì trệ trong công việc.
Tuy nhiên còn nhiều hạn chế trong công tác quản lý lao động và tiền
lương như ở công ty em đây là công ty thuộc sự quản lý của nhà nước mà
theo đánh giá chung thì hầu hết các công chức hoạt động trong các công ty
nhà nước thì vẫn còn nhiều thời gian dư dôi, giờ làm không tối đa dẫn đến
sức ì đối với những hoạt động của công ty đây là vấn đề rất nan giải ở các
công ty cũng như ở công ty em. Mà công tác quản lý lao động phải gặp
nhiều khó khăn.
18
CHƯƠNG III
MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO CÔNG TÁC QUẢN LÝ
VỀ LAO ĐỘNG - TIỀN LƯƠNG
I. ĐỊNH HƯỚNG CHUNG VỀ HOẠT ĐỘNG CỦA CẢ NGÀNH
- Qua nghiên cứu và xem xét tình hình thực tế về quản lý lao động,
tiền lương cũng như kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty
khai thác công trình thuỷ lợi Mỹ Đức. Trong những năm vừa qua nhất là
năm 2002 có thể thấy rằng: mặc dù gặp nhiều khó khăn trong cơ chế thị
trường có nhiều biến động hiện nay, nhưng với sự chỉ đạo của Nhà nước, Bộ
Nông nghiệp và phát triển nông thôn cùng sự nỗ lực cố gắng vươn lên của
tập thể cán bộ công nhân viên trong công ty nhất là trong lĩnh vực quản lý
lao động tiền lương đã đạt được những kết quả đáng mừng.
Năm 2002 công ty đã sử dụng số lao động khá đông, có trình độ
chuyên môn cao, làm tăng năng suất lao động rõ rệt, đã làm cho lợi nhuận,
doanh thu của công ty tăng lên. Hàng năm công ty đóng góp đáng kể vào
ngân sách nhà nước, tăng tích luỹ nội bộ. Đời sống cơ bản của công nhân
viên ngày được nâng cao.
Tuy nhiên công ty vẫn còn nhiều tồn tại trong công tác quản lý lao
động tiền lương đó là: phân công lao động chưa chặt chẽ, tiền lương được
trả cho CNV chưa hợp lý dẫn đến năng suất lao động chưa cao.
- Công ty cần thường xuyên đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công nhân
viên trong công ty để nâng cao sự chuyên môn hoá công việc. Quan tâm hơn
nữa đến đời sống của cán bộ, công nhân viên trong công ty.
* Về tiền lương
Trong những năm thực hiện cơ chế mới, đời sống cán bộ công nhân
viên có tăng dần lên nhưng không ổn định vì mức lương của công ty còn
20
phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên. Thu nhập bình quân lúc tăng lúc giảm là
do mức giá quy định của nhà nước có sự thay đổi.
Nhìn vào thực tế đó em cũng mạnh dạn đưa ra một số giải pháp về
tiền lương ở công ty như sau:
- Khắc phục việc dẫn thoát nước cho bà con nông dân để kết quả sản
xuất kinh doanh cao. Việc thu thuỷ lợi phí của từng hợp tác xã được tiến
hành kịp thời từ đó mới tạo ra mức lương ổn định cho mỗi lao động trong
công ty.
- Chi trả lương phù hợp và nhanh gọn.
Vì công ty là một doanh nghiệp nhà nước có quy mô nhỏ, có chức
năng tưới tiêu cho toàn huyện phục vụ nông nghiệp thuỷ nông, nên nhà
nước phải:
+ Hỗ trợ cho công ty vay vốn tín dụng
+ Hỗ trợ đào tạo, bồi dưỡng chuyển giao công nghệ, dịch vụ, kỹ thuật,
khuyến khích các hình thức hợp tác, phân công lao động sản xuất hợp lý và
hình thành hệ thống chuyên môn hoá cho các ngành trong công ty như có
ngành chuyên lo về nguyên liệu có ngành chuyên lo tiêu thụ sản phẩm, có
cán bộ ngành chuyên sản xuất khuyến khích thành lập hiệp hội nghề nghiệp
để hỗ trợ nhau trong sản xuất, tiêu thụ sản phẩm tránh cạnh tranh không lành
mạnh giải quyết các vấn đề về môi trường, đổi mới công nghệ và thiết bị,
bồi dưỡng đào tạo thợ trẻ.
* Giải pháp nâng cao trình độ chuyên môn hoá của người lao động là:
- Nâng cao trình độ của những người lao động bằng cách đẩy mạnh
việc điều hành và quản lý kinh doanh.
Trên đây là một số giải pháp đưa ra nhằm góp phần thực hiện công tác
quản lý lao động và tiền lương được tốt hơn song những giải pháp đưa ra ở
đây chủ yếu chỉ tập trung vào các mặt yếu kém của công tác quản lý tiền
lương thì đi vào một số giải pháp về chi trả tiền lương và lao động nhằm
22
khắc phục chúng như về tiền lương thì đi vào một số giải pháp về chi trả tiền
lương cho hợp lý, về lao động đi vào phân công lại lao động cho công ty cho
hợp lý. Do vậy những giải pháp mà em đưa ra nó chưa đầy đủ nhưnng em cũng
hy vọng là nó sẽ góp phần sẽ thúc đẩy hoạt động của công ty được tốt hơn.
KẾT LUẬN CHUNG
* Tổng hợp về công tác quản lý tiền lương ở công ty khai thác công
trình thuỷ lợi- Mỹ Đức.
+Tiền lương là hình thức thù lao cho lao động nhằm mục đích tái sản
xuất sức lao động. Trong cơ cấu tiền lương có các yếu tố tiền ăn, ở, sinh
hoạt cá nhân người lao động và gia đình, chi phí cho học tập nâng cao trình
độ, cho nghỉ ngơi, ốm đau… Như vậy tiền lương là sự đầu tư cho sự phát
triển nguồn nhân lực của xã hội. Trả lương như thế nào để tiền lương thực
hiện được chức năng khuyến khích lao động với năng xuất, chất lượng và
hiệu quả cao đảm bảo công bằng xã hội là một vấn đề rất phức tạp và khó
khăn. Đối với phòng hành chính sự nghiệp của công ty KTCTTL đang áp
dụng hình thức trả lương căn cứ vào hệ thống ngành, bậc được xây dựng
trên cơ sở trình độ chuyên môn, nghiệp vụ và thâm niên công tác của CB,
CC với mức lương tối thiểu được nhà nước quy định và điều chỉnh khi có
những biến nhiều về giá cả các mặt hàng tiêu dùng thiết yếu (theo nghị định
số 25/cp ngày 25/5/1993 của chính phủ về quy định tạm thời chế độ tiền
lương mới của công chức viên chức hành chính sự nghiệp)
Vấn đề đặt ra là mức trả lương như hiện nay của công ty cao hay thấp
và cách trả lương đã hợp lý chưa.
Trong thực tế công ty có tình trạng trả lương cho cùng 1 đối tượng
ty có việc làm ổn định, có năng suất, chất lượng, nâng cao thể chất và mức
sống của người lao động, đồng thời giúp cho người lao động nắm bắt được
24
những thành tựu về khoa học, công nghệ và tri thức để vận dụng vào sản
xuất góp phần phát triển và tồn tại của công ty.
- Trong điều kiện cơ chế thị trường hiện nay tiền lương là giá cả, sức
lao động hay giá trị sức lao động, được biểu hiện bằng tiền đó là những chi
phí để tái sản xuất sức lao động.
- Để tiền lương đảm bảo tái sản xuất sức lao động cần thiết phải tính
toán đầy đủ những chi phí để sản xuất và tái sản xuất sức lao động.
+ Xoá bỏ tính bình quân trong tiền lương, hiện nay tiền lương của
Công ty khai thác công trình thuỷ lợi Mỹ Đức còn mang nặng tính bình
quân, điều này thể hiện rõ nét ở thang bảng lương giữa các ngành, các lĩnh
vực;… Vì vậy phải tính lại sự cách biệt giữa mức lương cũng như quy định
lại các tiêu chuẩn điều kiện tăng lương của công nhân viên chức trong công
ty.
+ Điều chỉnh nâng mức lương tối thiểu từ 180.000đ/tháng lên
210.000đ/tháng thực hiện từ 01/01/2001 nhằm đảm bảo tiền lương thực tế
của cán bộ công nhân viên trong công ty.
+ Thực hiện chi trả trợ cấp một lần đối với người hoạt động kháng
chiến được nhà nước khen thưởng Huân huy chương kháng chiến, thực hiện
một số chế độ khác như tiền thưởng đối với cán bộ công chức…
+ Thực hiện việc tổng kết chính sách tiền lương nhằm đánh giá cụ thể
những mặt đạt đợc và chưa được nguyên nhân của tồn tại và đưa ra những
biện pháp thích hợp.
+ Tiến hành nghiên cứu khoa học để đưa ra các luận cứ phục vụ cho
việc xây dựng đề án cải cách chính sách tiền lương ở công ty.
Trong thời gian thực tập Công ty khai thác công trình thuỷ lợi Mỹ
Đức- Hà Tây em đã được sự giúp đỡ rất nhiệt tình của ban lãnh đạo đặc biệt
là các cô, chú ở phòng tổ chức quản lý đã giúp em hoàn thành bài báo cáo