Đại học Quốc Gia Thành phố Hồ Chí Minh
Trường Đại học Công nghệ thông tin
Khoa Mạng máy tính và truyền thông
o0o
Bài báo cáo môn:
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU KHOA
HỌC TRONG TIN HỌC Đề tài:
Dịch vụ di động Viettel và ứng dụng phương pháp
khoa học trong quá trình phát triển
GVHD : GS.TSKH. Hoàng Kiếm
Học viên: Bùi Anh Kiệt
MSHV: CH1101018
Mục lục
1. Tổng quan 4
1.1 Giới thiệu 4
1.2 Sơ lượt về sản phẩm 4
1.3 Lịch sử ra đời 4
2 Quá trình phát triển 6
2.1 Hoàn cảnh ra đời 6
2.2 Điều kiện ra đời 6
2.3 Ý nghĩa 7
2.4 Quá trình phát triển 7
2.4.1 Dịch vụ 098 7
2.4.2 Xây dựng quan hệ hợp tác với các doanh nghiệp khác 8
2.4.3 Mở rộng đầu số 9
2.4.4 Cung cấp dịch vụ di động sang Campuchia 9
2.4.5 Kinh doanh máy điện thoại di động 10
2.4.6 Dịch vụ di động dành cho mọi người 10
2.4.7 Dịch vụ 3G 11
3 Phân tích các ứng dụng nghiên cứu khoa học 13
3.1 Nguyên tắc phân nhỏ 13
3.2 Nguyên tắc thực hiện sơ bộ 14
3.3 Nguyên tắc đảo ngược 14
3.4 Nguyên tắc giải thiếu hoặc thừa 15
3.5 Nguyên tắc chuyển sang chiều khác 15
3.6 Nguyên tắc chia nhỏ đối tượng Error! Bookmark not defined.
3.7 Nguyên tắc dự phòng 16
3.8 Nguyên tắc kết hợp 16
4 Kết luận 18
xuất hiện của thương hiệu điện thoại di động 098 trên thị trường, Viettel
một lần nữa đã gây tiếng vang lớn trong dư luận và khách hàng, làm giảm
giá dịch vụ, nâng cao chất lượng chăm sóc khách hàng, làm lành mạnh hóa
thị trường thông tin di động Việt Nam. Được bình chọn là 01 trong 10 sự
kiện công nghệ thông tin và truyền thông năm 2004, liên tục những năm
sau đó đến nay, Viettel luôn được đánh giá là mạng di động có tốc độ phát
triển thuê bao và mạng lưới nhanh nhất với những quyết sách, chiến lược
kinh doanh táo bạo luôn được khách hàng quan tâm chờ đón và ủng hộ.
(4) Năm 2005: Thủ tướng Phan Văn Khải đã ký quyết định thành lập Tổng
Công ty Viễn thông quân đội ngày 02/3/2005 và Bộ Quốc Phòng có quyết
định số 45/2005/BQP ngày 06/4/2005 về việc thành lập Tổng Công ty Viễn
thông quân đội.
(5) Năm 2007: Năm thống nhất con người và các chiến lược kinh doanh viễn
thông! Trong xu hướng hội nhập và tham vọng phát triển thành một Tập
đoàn Viễn thông, Viettel Telecom (thuộc Tổng Công ty Viễn thông quân
đội Viettel) được thành lập kinh doanh đa dịch vụ trong lĩnh vực viễn thông
trên cơ sở sát nhập các Công ty: Internet Viettel, Điện thoại cố định Viettel
và Điện thoại di động Viettel. 2 Quá trình phát triển
2.1 Hoàn cảnh ra đời
Trước khi khai sinh ra dịch vụ di động, Viettel chỉ hoạt động trên lĩnh vực điện
thoại cố định
Hệ thống dịch vụ điện thoại di động Viettel được thành lập vào năm nagfy 2004,
khi mà dịch vụ di động đang dần trở nên một ngành dịch vụ hấp dẫn nhất.
Không ngần ngại phải đương đầu với những khó khăn vào thời điểm ban đầu khi
vào thời điểm ra đời, nước ta đã tồn tại 3 mạng di động. Nổi tiếng nhất và lớn nhất
là mạng điện thoại MobiFone (*1), ngoài ra còn có VinaFone(*2) và SFone (*3).
2.2 Điều kiện ra đời
Triển khai dịch vụ:
Dịch vụ thông tin di động 098 là dịch vụ di động đầu tiên mà Viettel cung
cấp đến khách hàng, ra đời vào dịp kỷ niệm tròn 4 năm ra đời của dịch vụ
178 (15/10/2000 ~ 15/10/2004). Và cũng là mạng điện thoại di động toàn
quốc thứ 3 tại Việt Nam, biến ước mơ của Viettel từ những ngày đầu tiên
khi gia nhập thị trường viễn thông Việt Nam của mình trở thành hiện thực.
Đến tháng 9/2006, mạng di động Viettel được cấp thêm đầu số mới là 097.
Ý nghĩa:
Việc mạng thông tin di động Viettel ra đời không chỉ có những tác động
tích cực đến thị trường Bưu chính Viễn thông mà nó còn khẳng định ý chí
quyết tâm, tính đúng đắn của tinh thần độc lập, tự chủ. Bởi lúc đầu không có nhiều người tin rằng Viettel sẽ triển khai được dự án di động nhất là sau
khi Viettel quyết định tự làm mà không hợp tác kinh doanh với nước
ngoài. Không những biến ước mơ thành sự thật mà chỉ sau 2 tháng chính
thức kinh doanh Viettel đã có 100.000 thuê bao (con số mà Sfone phải phấn
đấu trong 12 tháng). Và trong 9 tháng đã đạt 700.000 thuê bao (gần bằng ½
số thuê bao di động của VNPT trong 10 năm) một lần nữa khẳng định vai
trò tiên phong, đột phá của Viettel trong lĩnh vực viễn thông.
2.4.2 Xây dựng quan hệ hợp tác với các doanh nghiệp khác
Triển khai:
Tháng 12/2004, Viettel ký biên bản cuộc họp với VNPT về xây dựng
nguyên tắc hợp tác giữa hai doanh nghiệp. Cuộc họp này được tổ chức
nhằm thực hiện tinh thần thoả thuận giữa Bộ Bưu chính Viễn thông và Bộ
Quốc phòng về một số giải pháp nhằm tạo điều kiện để Viettel phát triển
nhanh, vững chắc trong cơ chế thị trường, đồng thời phục vụ tốt nhiệm vụ
quốc phòng.
Ngày 29/11/2007, Bộ Bưu chính Viễn thông Campuchia (MPTC) đã ký giấy phép
cho Viettel được cung cấp và khai thác dịch vụ điện thoại di động và các dịch vụ
sử dụng công nghệ GSM trên toàn lãnh thổ Campuchia. Với thời hạn của giấy
phép kéo dài 30 năm, Viettel được cung cấp các dịch vụ thoại, fax, truyền dữ liệu,
truy nhập Internet, cuộc gọi quốc tế và dịch vụ WAP.Đầu số mà MPTC cấp cho
Viettel cũng là đầu 097 (giống một đầu số của Viettel vừa được Bộ Bưu chính
Viễn thông Việt Nam cấp thêm). Cũng ngày 29/11, MPTC còn cấp thêm giấy
phép ISP và IXP cho Viettel trong thời hạn 35 năm. Ý nghĩa:
Việc đầu tư sang Campuchia trong lĩnh vực điện thoại di động cho thấy Viettel
không chỉ muốn khai thác dịch vụ trong nước mà còn sẵn sàng mở rộng ra quốc tế. Đây là một sự kiện đáng ghi nhận của tập đoàn Viettel trong quá trình khẳng
định thương hiệu với thị trường quốc tế.
2.4.5 Kinh doanh máy điện thoại di động
Triển khai:
Sáng 17/5/2006, tại Trung tâm thương mại VKO - Giảng Võ, cửa hàng bán điện
thoại di động đầu tiên của VIETTEL chính thức khai trương. Thời gian đầu cửa
hàng sẽ tập trung kinh doanh điện thoại di động của rất nhiều hãng điện
thoại như Nokia, Sam Sung, LG, Motorola, Sony Ericson, O2, Lenovo
Ngoài ra, khách hàng cũng có thể hoà mạng di động Viettel Mobile 098 và
hưởng một số dịch vụ chăm sóc khách hàng như tải nhạc chuông, hình
ảnh… tại cửa hàng. Được biết bên cạnh việc mở cửa hàng kinh doanh thiết
bị đầu cuối, hiện nay Công ty thương mại và Xuất nhập khẩu Viettel vẫn
tiếp tục đẩy mạnh kinh doanh các mặt hàng truyền thống như mua sắm thiết
bị viễn thông và công nghệ thông tin.
Viettel. Thay vì chú trọng vào lượng khách hàng có thu nhập khá, có điều
kiện và nhu câu sử dụng điện thoại di động thường xuyên thì Viettel lại mở
rộng thêm thị trường của những người có thu nhập không cao và không có
nhu cầu sử dụng di động thường xuyên. Trong hoàn cảnh của đất nước ta
thì thị trường mà Viettel nhắm đến với dịch vụ này là thị trường nông thôn.
Đây là thị trường lớn và việc đâu tư vào thị trường này cho thấy Viettel có
những tầm nhìn khá nhạy bén trong vấn đề phát triển dịch vụ của mình.
2.4.7 Dịch vụ 3G
Triển khai:
Ngày 13/8/2009, Bộ Thông tin & Truyền thông đã chính thức trao 4 giấy
phép 3G cho mạng di động Viettel. Đến 4/2010 Viettel đã hoàn tất thủ tục đấu
thấu và mua sắm 6.000 trạm phát sóng 3G. Theo cam kết, Viettel sẽ đầu tư
12.789 tỷ đồng trong 3 năm cho mạng 3G. 9 tháng sau khi được cấp phép,
Viettel sẽ chính thức cung cấp dịch vụ 3G. Tại thời điểm khai trương dịch vụ, Viettel cam kết vùng phủ 3G đạt tối thiểu 86,32% dân số và sau 3 năm
cung cấp dịch vụ này sẽ đạt vùng phủ là 100% dân số với 15.000 trạm.
Ý nghĩa:
Dịch vụ 3G ra đời mở ra hướng mới trong quá trình phát triển của không
chỉ Viettel mà còn nhiều nhà cung cấp dịch vụ khác. Song song với cung
cấp dịch vụ di động 3G, dịch vụ internet không dây sử dụng sóng 3G cũng
được Viettel cung cấp đến khách hàng. Đây lại là một bước tiến lớn trong
quá trình phát triển của Viettel, khi mà dịch vụ di động đang từng bước đạt
đến mức bảo hòa thì dịch vụ internet với sóng 3G của Viettel lại trở thành
một hướng mới mở ra thị trường mới.
Dịch vụ internet kết hợp sóng điện thoại 3G sẽ dần thay thế cho dịch vụ
internet thông thường bởi tính tiện dụng của nó. Với cơ sở vật chất đã có
của dịch vụ di động, dịch vụ internet 3G hiện đang là gói dịch vụ mới mang
3.2 Nguyên tắc thực hiện sơ bộ
Sự kiện Viettel xây dựng mối quan hệ hợp tác với Tổng công ty Điện lực Viêt
Nam (EVN) để hai phía cùng tận dụng cơ sở vật chất của nhau. Về phía
Viettel, hợp tác với EVN có mục đích là để mở rộng mạng lưới phủ sóng trên
phạm vi toàn quốc. Tận dụng cơ sở hạ tầng mà EVN đã có sẵn (trụ điện, đường
dẫn dây, hệ thống cáp ngầm ).
Hơn nữa khi ký kết thiết lập mối quan hệ hợp tác vơi VNPT về các điều khoản
trong dịch vụ đưa đến khách hàng vào thời điểm Viettel đã mở rộng tầm ảnh
hưởng được xem là một bước thực hiện sơ bộ nhưng đầy khôn ngoan. Với việc
hợp tác này Viettel có thể tập trung vào việc thu hut khách hàng mà không phải
lo lắng từ đối thủ trực tiếp là VNPT.
Áp dụng nguyên tắc thực hiện sơ bộ khi chưa đủ tiềm lực để phát triển một hệ
thống phủ sóng riêng là một bước đi đúng đắn trong thời gian mới thành lập.
Với việc hợp tác với EVN, Viettel đã thể hiện mục tiêu bành trướng tầm ảnh
hưởng đến mọi vùng miền trên đất nước. Ở đâu có điện, ở đó có thể có sóng
Viettel.
3.3 Nguyên tắc đảo ngược
Trong phương thức hoạt động của Viettel, phục vụ khách hàng là mục tiêu, và
đáp ứng được yêu cầu khách hàng là mục đích. Thông tin của khách hàng khi
sử dụng dịch vụ của Viettel sẽ được lưu trữ và được dùng để làm thông tin
quản lý. Trong phương thức này thì Viettel quản lý theo khách hàng chứ không
quản lý theo thuê bao (như cách mà trước đó VNPT áp dụng trước đó). Tuy có
vẻ ngược ngạo so với nhận thức về cách quản lý dịch vụ viễn thông, nhưng đây
lại là bước ngoặc để Viettel phát triển nhanh chóng. Khách hàng khi đến với
dịch vụ Viettel cảm nhận được họ đang được phục vụ, họ là khách hàng sử
dụng dịch vụ qua các thuê bao chứ không phải họ là thông tin gắn kèm với
thuê bao.
hàng bằng việc giảm cước thì những gói cước mới, có đặc điểm phù hợp với
một lượng khách hàng không nhỏ là giải pháp thông minh trong việc kinh
doanh. Viettel đã làm được việc đó và đã cho thấy họ xứng đáng với vị trí số 1
về cung cấp dịch vụ viễn thông tại Việt Nam.
Sau gói dịch vụ “Di động dành cho mọi người”, Viettel tiếp tục cho ra đời một
dịch vụ khác, khai thác khách hàng từ một hướng khác, đó là truy cập internet
thông qua mạng di động 3G.
Khi mà việc khai thác khách hàng qua các gói dịch vụ di động dần trở nên bảo
hòa, thì việc chuyển hướng sang khai thác dịch vụ internet không dây thông
qua mạng di động 3G là một bước tiến táo bạo và hết sức đúng đắn.
3.6 Nguyên tắc dự phòng
Khi số lượng khách hàng sử dụng dịch vụ với thuê bao 098, 097 đã vượt quá số
lượng thuê bao có thể có, thay vì xin cấp thêm một đầu số khác nằm trong dãy
09x với 10 chữ số thì ban lãnh đạo Viettel đã đề nghị xin được cấp cho đầu số
mới với 11 chữ số bắt đầu bằng 0168. Với việc xin được cấp số thuê bao lên
đến 11 chữ số, số lượng thuê bao mà Viettel có thể có được nâng lên đáng kể.
Thay vì chỉ giải quyết vấn đề trước mắt, Viettel đã đi một bước xa hơn trong
việc xin cấp số lượng thuê bao. Và đến bay giờ, quyết định đó trở nên vô cùng
đúng đắn khi số lượng khách hàng sử dụng dịch vụ tăng lên rất nhiều.
3.7 Nguyên tắc kết hợp
Việc sử dụng sóng di động với công nghệ 3G để thực hiện truy cập internet đã
mở ra một hướng phát triển mới. Kết hợp sóng điện thoại theo công nghệ 3G
với internet không chỉ có lợi về mặt kinh doanh dịch vụ mới mà còn có lợi
trong việc sử dụng cơ sở hạ tầng hiện có để làm phong phú thêm dịch vụ. Hơn nữa khi cung cấp dịch vụ internet không dây dùng công nghệ 3G, Viettel
vào các sản phẩm công nghệ. Và cũng chính vì lý do đó mà các phương pháp khoa
học trong việc phát triển sản phẩm công nghệ sẽ ngày càng phong phú hơn và có
giá trị hơn.