mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức vai trò của tri thức khoa học trong công cuộc đổi mới của nước ta hiện nay - Pdf 22


TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA TP.HCM
PHÒNG QUẢN LÝ KHOA HỌC – SAU ĐẠI HỌC

UUUUU TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC

Phân tích

MỐI QUAN HỆ BIỆN CHỨNG GIỮA VẬT CHẤT VÀ Ý THỨC
VAI TRÒ CỦA TRI THỨC KHOA HỌC
TRONG CÔNG CUỘC ĐỔI MỚI CỦA NƯỚC TA HIỆN NAY GVHD : TS ĐÀO DUY THANH
HVTT : NGUYỄN DUY KIỆT
MSHV : QTDN13026

vật chất đầu tiên tạo thành, cho nên ta còn gọi đó là quan điểm đa nguyên thể.
Chẳng hạn, thuyết ngũ hành của triết học Trung Quốc cổ đại cho rằng năm yếu
tố: Kim, Mộc, Thủy, Hỏa,Thổ là những yếu tố khởi nguyên cấu tạo nên mọi
vật. Nhìn chung, quan điểm đa nguyên thể giải thích rằng sự biến đổi của giới
tự nhiên là do sự kết hợp khác nhau của những yếu tố vật chất đầu tiên. So với
quan điểm nhất nguyên thể thì quan điểm đa nguyên thể là một bước tiến nhất
đònh trong quá trình nhận thức về vật chất. Vì cơ sở của mọi vật là một số đối
tượng rộng lớn.
- Bước tiến quan trọng nhất của sự phát triển phạm trù vật chất là đònh nghóa vật
chất của hai nhà triết học Hy Lạp cổ đại: Lờxíp và Đêmôcrít. Hai ông đònh
nghóa vật chất là nguyên tử, căn nguyên của mọi vật là nguyên tử. Mọi sự vật,
hiện tượng của thế giới là do sự kết hợp và phân giải của các nguyên tử mà
Tiểu Luận Triết Học
Hvth: Nguyễn Duy Kiệt Trang 2
thành. Thuyết nguyên tử cổ đại đã vượt lên xa hơn, khái quát hơn, trừu tượng
hơn trong quan niệm về vật chất so với các học thuyết vật chất của các nhà duy
vật trước đó. Tuy còn nhiều hạn chế như quy vật chất về các dạng cụ thể của
vật chất, nhưng học thuyết nguyên tử là một bước phát triển mới trên con đường
hình thành phạm trù vật chất trong triết học, tạo cơ sở triết học mới cho nhận
thức khoa học sau này.
Tiểu Luận Triết Học
Hvth: Nguyễn Duy Kiệt Trang 3
1.2. Đònh nghóa vật chất của V.I.LêNin:
“Vật chất là một phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại khách quan được đem
lại cho con người trong cảm giác, được cảm giác của chúng ta chép lại, chụp lại,
phản ánh, và tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác”.
Đây là đònh nghóa khoa học và hoàn chỉnh về vật chất của V.I.Lênin trong
tác phẩm Chủ nghóa duy vật Và Chủ nghóa kinh nghiệm phê phán, bao hàm các nội
dung sau đây:
- Một là, vật chất là một phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại khách quan. Khi

phản ánh là ý thức.
- Ba là, thực tại khách quan được cảm giác của chúng ta chép lại, chụp lại phản
ánh. Với nội dung này, V.I.LêNin chứng minh vật chất tồn tại khách quan,
nhưng không phải tồn tại một cách vô hình thần bí mà tồn tại một cách hiện
thực dưới dạng các sự vật, hiện tượng cụ thể, mà con người bằng cá giác quan
có thể trực tiếp hoặc gián tiếp nhận biết được. Nghóa là, ngoài dấu hiệu tồn tại
khách quan, vật chất còn có một dấu hiệu quan trọng khác là tính có thể nhận
thức được. Vì vậy, về nguyên tắc, không có đối tượng nào không thể nhận biết,
chỉ có những đối tượng chưa nhận thức được mà thôi.
Là kết quả của sự khái quát những thành tựu khoa học mới và hoạt động
thực tiễn của con người, đònh nghóa vật chất của V.I.LêNin đã giải đáp một cách
đúng đắn, sâu sắc cả hai mặt nội dung vấn đề cơ bản của triết học. Vì vậy, ngoài ý
nghóa thế giới quan khoa học trên đây, đònh nghóa vật chất của V.I.LêNin còn có ý
nghóa phương pháp luận chung đối với chúng ta trong nhận thức và hoạt động thực
tiễn.
Vì vật chất có trước, tồn tại khách quan không phụ thuộc vào ý thức, ý thức
có sau, vật chất quyết đònh ý thức, cho nên trong nhận thức và hoạt động thực tiễn
“Phải luôn luôn xuất phát từ thực tế, tôn trọng và hành động theo quy luật khách
quan” (Đảng Cộng Sản Việt Nam :Văn Kiện Đại Hội Đại Biểu Toàn Quốc Lần
Thứ VI, NXB Sự Thật, Hà Nội, 1987, tr.30), phải xuất phát từ điều kiện vật chất
khách quan đã và đang có làm cơ sở cho mọi hành động của mình, không được lấy
ý muốn, nguyện vọng chủ quan làm điểm xuất phát. Yêu cầu khi đề ra mục tiêu,
nhiệm vụ và các biện pháp thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ cho đòa phương mình, đơn
vò mình, ngành mình, phải nắm chắc tình hình thực tế khách quan thì mới nêu ra
mục đích, chủ trương đúng và sẽ đi đến thắng lợi trong hoạt động thực tiễn. Ngược
lại, cần chống thái độ chủ quan, duy ý chí, nóng vội, bất chấp quy luật khách quan,
không đếm xỉa đến điều kiện vật chất khách quan, tùy tiện phiến diện, lấy ý muốn,
nguyện vọng, cảm tính làm xuất phát điểm cho chủ trương, chính sách, hậu quả là
đường lối không hiện thực, không tưởng và tất yếu sẽ đi đến thất bại trong hoạt
động thực tiễn.

tồn tại bằng cách vận động, thông qua vận động mà các dạng vật chất biểu hiện sự
tồn tại của mình. Như vậy, bất cứ sự vật, hiện tượng nào cũng ở trong trạng thái
vận động. Từ các thiên thể khổng lồ đến những hạt vô cùng nhỏ, từ giới vô sinh
đến giới hữu sinh, từ các sự vật, hiện tượng tự nhiên đến xã hội loài người, tất cả
đều không ngừng biến đổi dưới hình thức này hay hình thức khác.
Tiểu Luận Triết Học
Hvth: Nguyễn Duy Kiệt Trang 6
Ph.Ăngghen: chống Đuy – rinh
Mác – Ăngghen, toàn tập, tập 20, NXB Chính trò Quốc Gia Hà Nội, 1994, tr.89
2.1.b. Nguồn gốc của vận động nằm trong ngay bản thân sự vật, bản thân vật
chất :
Vật chất bao giờ cũng ở trong trạng thái vận động, bởi vì bất cứ sự vật, hiện
tượng vật chất nào cũng là một thể thống nhất có một kết cấu nhất đònh. Kết cấu
đó gồm những nhân tố, những bộ phận, những xu hướng khác nhau, đối lập nhau.
Sự tác động, ảnh hưởng qua lại lẫn nhau của các yếu tố đó gây ra những biến đổi
nói chung, tức là vận động. Vì vậy, nguồn gốc của vận động là do sự tác động của
các mặt khác biệt bên trong của các kết cấu vật chất tạo nên. Do đó, vận động của
vật chất là tự vận động.
2.1.c. Những hình thức vận động cơ bản của vật chất:
Với cách nhìn khái quát theo quan điểm duy vật biện chứng, Ph.Ăngghen đã
rút ra năm hình thức vận động cơ bản của vật chất là:
- Vận động cơ học (sự dòch chuyển vò trí của các vật thể trong không gian).
- Vận động vật lý (vận động của các phân tử, các hạt cơ bản, vận động của
điện tử, của các quá trình nhiệt, điện ….).
- Vận động hóa học (vận động của các nguyên tử, các quá trình hóa học và
phân giải các chất).
- Vận động sinh vật (sự trao đổi chất giữa cơ thể sống với môi trường).
- Vận động xã hội (sự biến đổi, thay thế của các hình thái kinh tế xã hội).
Các hình thức vận động cơ bản có sự khác nhau về chất, nhưng lại tồn tại
trong mối liên hệ biện chứng với nhau. Mỗi hình thức vận động được thực hiện là

- Tính ba chiều của không gian và tính một chiều của thời gian, tính ba chiều của
không gian là chiều dài, chiều rộng và chiều cao. Tính một chiều của thời gian
là chiều từ quá khứ đến tương lai.
Tiểu Luận Triết Học
Hvth: Nguyễn Duy Kiệt Trang 8
II. NGUỒN GỐC, BẢN CHẤT CỦA Ý THỨC:
“Nếu người ta đặt câu hỏi rằng tư duy và ý thức là gì, chúng từ đâu đến, thì
người ta sẽ thấy rằng chúng là sản vật của bộ óc con người và bản thân con người,
là sản vật của giới tự nhiên một sản vật đã phát triển trong một môi trường nhất
đònh và cùng với môi trường đó. Vì vậy, lẽ tự nhiên là những sản vật của giới tự
nhiên, không mâu thuẫn mà lại còn phù hợp với mối liên hệ còn lại của giới tự
nhiên”.
P.h ngghen: Chống Đuy-Rinh
Mác – ngghen, toàn tập, tập 20. Nxb CTQG, HN, 1994, trang 55.
Vấn đề nguồn gốc, bản chất và vai trò của ý thức là một vấn đề hết sức phức
tạp của triết học, là trung tâm của cuộc đấu tranh giữa chủ nghóa duy vật và chủ
nghóa duy tâm trong lòch sử. Dựa trên những thành tựu của triết học duy vật, của
khoa học và thực tiễn xã hội, triết học Mác – Lênin đã góp phần làm sáng tỏ vấn
đề trên đây.
1. Quan điểm của triết học Mac – Lênin về nguồn gốc và bản chất của ý
thức:
1.1. Nguồn gốc của ý thức:
1.1.a. Nguồn gốc tự nhiên:
Trước Mác nhiều nhà duy vật tuy không thừa nhận tính chất siêu tự nhiên
của ý thức, song do khoa học chưa phát triển nên cũng đã không giải thích đúng
nguồn gốc và bản chất của ý thức. Dựa trên những thành tựu của khoa học tự nhiên
nhất là sinh lý học thần kinh, chủ nghóa duy vật biện chứng khẳng đònh rằng ý thức
là một thuộc tính của vật chất nhưng không phải của mọi dạng vật chất mà chỉ là
thuộc tính của một dạng vật chất sống có tổ chức cao là bộ óc người. Bộ óc người
là cơ quan vật chất của ý thức. Ý thức là chức năng của bộ óc người. Hoạt động ý

Để cho ý thức ra đời, những tiền đề, nguồn gốc tự nhiên là rất quan trọng,
không thể thiếu được, song chưa đủ điều kiện quyết đònh cho sự ra đời cùng với
quá trình hình thành bộ óc người nhờ lao động, ngôn ngữ và những quan hệ xã hội,
ý thức là sản phẩm của sự phát triển xã hội, nó phụ thuộc và xã hội, và ngay từ đầu
đã mang tính chất xã hội.
Quá trình hình thành ý thức không phải là quá trình con người thu nhận thụ
động. Nhờ có lao động con người tác động vào các đối tượng hiện thực, bắt chúng
phải bộc lộ những thuộc tính, những kết cấu, những quy luật vận động của mình
thành những hiện tượng nhất đònh và các hiện tượng này tác động vào bộ óc người.
ý thức được hình thành không phải chủ yếu là do tác động thuần túy, tự nhiên của
thế giới khách quan vào bộ óc người, mà chủ yếu là do hoạt động của con người
cải tạo thế giới khách quan làm biến đổi thế giới đó. Quá trình hình thành ý thức là
Tiểu Luận Triết Học
Hvth: Nguyễn Duy Kiệt Trang 10
kết quả hoạt động, chủ động của con người. như vậy, không phải bỗng nhiên thế
giới khách quan tác động vào bộ óc người để con người có ý thức mà trái lại, con
người có ý thức chính vì con người chủ động tác động vào thế giới thông qua hoạt
động thực tiễn để cải tạo thế giới, con người chỉ có ý thức do có tác động vào thế
giới. Nói cách khác, ý thức chỉ được hình thành thông qua hoạt động thực tiễn của
con người. Nhờ tác động vào thế giới mà con người khám phá ra những bí mật của
thế giới, ngày càng làm phong phú và sâu sắc ý thức của mình về thế giới.
“Sự sản xuất ra ý niệm, những quan niệm và ý thức thì lúc đầu là trực tiếp
gắn liền mật thiết với hoạt động vật chất và với sự giao tiếp vật chất của con
người. Ngôn ngữ của cuộc sống hiện thực. Ở đây, những quan niệm tư duy, sự giao
tiếp tinh thần của con người xuất hiện ra còn là sản phẩm trực tiếp của các quan hệ
vật chất của họ. Đối với sản xuất tinh thần, đúng như nó biểu hiện trong ngôn ngữ
của chính trò, của pháp luật, của tôn giáo, của siêu hình học, v v…trong một dân tộc
thì cũng thế . Chính con người là kẻ sản xuất ra những quan niệm, ý
niệm,v v… của mình, song đây là những con người hiện thực, đang hành động
đúng, , như họ bò quy đònh bởi một sự phát triển nhất đònh của những lực lượng sản

khách quan .
Ý thức là sự phản ánh hiện thực khách quan vào bộ óc con người, song đây
là sự phản ảnh đặc biệt – phản ảnh trong quá trình con người, cải tạo thế giới . Quá
trình ý thức là quá trình thống nhất của 3 mặt sau đây :
- Một là trao đổi thông tin giữa chủ thể và đối tượng phản ánh . Sự trao đổi
này mang tính chất hai chiều, có đònh hướng và chọn lọc các thông tin cần thiết .
- Hai là, mô hình hóa đối tượng trong tư duy dưới dạng hình ảnh tinh thần .
Thực chất đây là quá trình “Sáng tạo lại” hiện tượng của ý thức , theo nghóa mã
hóa các đối tượng vật chất thành các ý thức tinh thần phi vật chất .
- Ba là, chuyển mô hình từ tư duy ra hiện thực khách quan, tức quá trình
hiện thực hóa tư tưởng, thông qua hoạt động thực tiển biến cái quan niệm thành cái
thực tại, biến các ý tưởng phi vật chất trong tư duy thành các dạng vật chất ngoài
hiện thực . Trong giai đoạn này con người lựa chọn những phương pháp, phương
tiện, công cụ để tác động vào hiện thực khách quan nhằm thực hiện mục đích của
mình . Điều đó càng nói lên tính năng động sáng tạo của ý thức .
Tính sáng tạo của ý thức không có nghóa là ý thức đẻ ra vật chất . Sáng tạo
của ý thức là sáng tạo của sự phản ảnh, theo qui luật và trong khuôn khổ của sự
phản ánh, mà kết quả bao giờ cũng là những khách thể tinh thần . Sự sáng tạo của
ý thức không đối lập , loại trừ, tách rời sự phản ánh mà ngược lại thống nhất với
phản ánh, trên cơ sở phản ánh. Phản ánh và sáng tạo là hai mặt thuộc bản chất của
ý thức . Ý thức trong bất cứ trường hợp nào - cũng là sự phản ánh và chính thực
tiển xã hội của con người tạo ra sự phản ánh phức tạp, năng động, sáng tạo của bộ
óc.
Tiểu Luận Triết Học
Hvth: Nguyễn Duy Kiệt Trang 12
2/ Vai trò và tác dụng của ý thức . Ý nghóa phương pháp luận của mối
quan hệ giữa vật chất và ý thức :
“Ý thức con người không phải chỉ phản ánh thế giới khách quan, mà còn tạo
ra thế giới khách quan”
V.I. Lênin : Bản tóm tắt : “Khoa học Lôgich “ học thuyết về khái niệm .

không được lấy ý muốn chủ quan của mình làm chính sách, không được lấy tình
cảm làm điểm xuất phát cho chiến lược và sách lược cách mạng. Nếu chỉ xuất phát
từ ý muốn chủ quan, nếu lấy ý chí áp đặt cho thực tế, lấy ảo tưởng thay cho hiện
thực thì sẽ mắc phải bệnh chủ quan duy ý chí.
III. TÍNH TUYỆT ĐỐI VÀ TƯƠNG ĐỐI CỦA MỐI QUAN HỆ GIỮA VẬT
CHẤT VÀ Ý THỨC VÀ Ý NGHĨA LÝ LUẬN CỦA NÓ:
Từ trước tới nay có quan niệm cho rằng, trong mối quan hệ giữa vật chất và
ý thức thì vật chất là cái có trước, ý thức là cái có sau, vật chất quyết đònh ý thức,
đó là cái đúng ở mọi nơi, mọi lúc. Họ làm như vậy và tưởng rằng mình đứng trên
lập trường kiên đònh của chủ nghóa duy vật biện chứng. Nhưng thực ra đâu có phải
như vậy, họ đã đứng trên lập trường của chủ nghóa duy vật máy móc, siêu hình, tại
sao lại như vậy?
Trước hết, nếu trong giới hạn của vấn đề nhận thức luận, thừa nhận cái gì là
cái có trước, cái gì là cái có sau, thì sự đối lập giữa vật chất và ý thức, xem vật chất
là cái có trước, ý thức là cái có sau, vật chất quyết đònh ý thức, ý thức là có ý nghóa
tuyệt đối. Điều này đã được sự phát triển của khoa học, đặc biệt là khoa học tự
nhiên khẳng đònh. Ngay từ những năm đầu của thế kỷ XX, trong chủ nghóa duy vật
và chủ nghóa kinh nghiệm phê phán, V.I Lênin đã đặt vấn đề: “ Giới tự nhiên có
tồn tại trước loài người không? ”. Và ông đã trả lời: “Các khoa học tự nhiên khẳng
đònh một cách tích cực rằng trái đất đã từng tồn tại trong một trạng thái chưa có và
cũng không thể có loài người hay bất cứ một sinh vật nào nói chung cả. Vật chất
hữu cơ là một hiện tượng về sau mới có, là kết quả của một sự phát triển lâu dài”.
Rằng “ Vật chất là cái có trước; tư duy, ý thức, cảm giác đều là sản phẩm của một
sự phát triển rất cao”. Avênariút cho rằng, khoa học tự nhiên muốn biết , hình dung
trái đất hoặc thế giới như thế nào trước khi có các sinh vật hay con người xuất
hiện? Không phải từ Avênariút, mà trước kia đã có người cho rằng sở dó biết vật là
do ta đã “Quẳng” cái tâm vào đó rồi. Còn nếu không có tâm thì vật là vật hay là
gì ta cũng không biết. Cũng như hiện nay, chúng ta đã phóng tầm mắt, ý thức của
mình ra ngoài vũ trụ cách xa trái đất hàng mấy tỷ năm ánh sáng, nhưng ngoài giới
hạn này là cái gì, ta không thể hay biết. Cái mà Cantơ gọi là “Vật tự nó” đã được

chỉ có tính chất tương đối. Điều này, trong chủ nghóa duy vật và chủ nghóa kinh
nghiệm phê phán, V.I. Lênin đã chỉ rõ sự đối lập vật chất và ý thức chỉ có ý nghóa
tuyệt đối trong những phạm vi hết sức hạn chế: trong trường hợp này, chỉ giới hạn
trong những vấn đề nhận thức luận cơ bản là thừa nhận cái gì là cái có trước và cái
gì là cái có sau ? Ngoài những giới hạn đó, thì không còn nghi ngờ gì nữa rằng sự
đối lập đó là tương đối. Ở đây, V.I. Lênin đã chỉ ra phạm vi hạn chế đó là gì, đó là
vấn đề nhận thức luận cơ bản.
Tiểu Luận Triết Học
Hvth: Nguyễn Duy Kiệt Trang 15
Nhưng một số người đã không hiểu điều đó, đã tuyệt đối hóa cái gọi là vật
chất quyết đònh ý thức, xem nó là vạn năng, đúng ở mọi lúc mọi nơi. Điều đó đã
đẩy họ vào Chủ nghóa duy vật máy móc, siêu hình. Họ quên mất điều căn dặn của
V.I.Lênin rằng chủ nghóa duy tâm thông minh còn gần chủ nghóa duy vật biện
chứng hơn là chủ nghóa duy vật thô thiển, máy móc, ngu xuẩn.
Họ cũng quên rằng ngay chủ nghóa duy vật biện chứng còn cho rằng ý thức
cũng có tác động lại đối với vật chất, ý thức xã hội còn góp phần cải biến xã hội.
Những quan niệm đó đã đẩy họ tới, một lối sống về vật chất, vì tiền, lối
sống thực dụng, lạnh lùng, không tình nghóa, lối sống hưởng thụ, vò kỷ cá nhân.
Mục đích của họ là vật chất, của cải tiền bạc, vì theo họ, có cái đó là có tất cả, nên
họ bất chấp mọi dư luận, luân lý, đạo đức trong nền kinh tế hiện nay, có một
nguyên nhân bắt nguồn từ quan niệm đó. Bởi vậy, để góp phần làm trong sạch bầu
không khí tinh thần, làm lành mạnh xã hội, chúng ta cần phải phê phán, lên án
mạnh mẽ quan niệm duy vật thô thiển, máy móc này. Trong công việc đó, những
chỉ dẫn của V.I Lênin trong chủ nghóa duy vật và chủ nghóa kinh nghiệm phê phán
cho đến nay hầu như vẫn còn nguyên giá trò của nó.
B. VAI TRÒ CỦA TRI THỨC
I. ĐỊNH NGHĨA NỀN KINH TẾ TRI THỨC KINH TẾ TRI THỨC
Là nền kinh tế trong đó sự sản sinh ra phổ cập và sử dụng trí thức giữ vai trò
quan trọng quyết đònh nhất đối với sự phát triển kinh tế tạo ra của cải nâng cao
chất lượng cuộc sống.

biệt là công nghệ gen ,công nghệ tế bào ) , công nghệ vật liệu mới, công nghệ
năng lượng . làm tăng nhanh nhòp độ tăng trưởng kinh tế, dòch chuyển mạnh cơ
cấu kinh tế, tạo sự nhảy vọt trong lực lượng sản xuất, lực lượng sản xuất bước sang
giai đoạn mới về chất trong đó tri thức, thông tin trở thành yếu tố hàng đầu của sản
xuất, khoa học và công nghệ trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp, đây không chỉ
là cuộc cách mạng trong khoa học công nghệ, trong phát triển lực lượng sản xuất
mà còn là cách mạng trong các quan niệm, các cách tiếp cận, nó đòi hỏi con ngừơi
phải đổi mới trong cách nghó , cách làm để thích nghi và làm chủ sự phát triển .
Chưa bao giờ vai trò động lực của tri thức, khoa học và công nghệ đối với sự
phát triển kinh tế xã hội trở nên rõ ràng, nổi bật như ngày nay.
Trứơc kia người ta thường coi các yếu tố sản xuất chỉ bao gồm lao động và
vốn , còn tri thức , công nghệ, giáo dục . là các yếu tố ben ngoài sản xuất có ảnh
hưởng tới sản xuất. Gần đây các nghiên cứu kinh tế (Romer , Schumpeter ,
R.Solow . . .) đều thừa nhận công nghệ và tri thức là yếu tố bên trong của hệ thống
kinh tế . Romer coi tri thức và công nghệ là yếu tố thứ ba của sản xuất , bên cạnh
vốn và lao động. Lập luận này đã được các nhà nghiên cứu chấp nhận .
Tiểu Luận Triết Học
Hvth: Nguyễn Duy Kiệt Trang 17
Tri thức ngày càng trở thành nhân tố trực tiếp của chức năng sản xuất . Đầu
tư vào tri thức trở thành yếu tố then chốt cho sự tăng trửơng kinh tế dài hạn . Trong
các nước phát triển đầu tư vô hình (vào giáo dục , khoa học công nghệ, văn hoá,
phát triển con người … ) tăng nhanh hơn đầu tư hữu hình. Ở Mỹ đầu tư vô hình tăng
nhanh hơn đầu tư hữu hình .
Chính K.Marx đã coi tri thức là nhân tố trực tiếp của chức năng sản xuất,
người khẳng đònh khoa học trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp. Ngày nay luận
điểm đó đã được chứng minh : khoa học không tham gia trực tiếp vào quá trình sản
xuất bằng việc tạo ra công nghệ, tạo ra phương pháp tổ chức quản lý ý thức sản
xuất để nâng cao năng suất chất lượng hiệu quả của sản xuất , đổi mới sản phẩm
mà còn trực tiếp tạo ra sản phẩm ( như sản phẩm phần mềm), các ngành công
nghiệp công nghệ cao …) Khoa học đã trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp và

doanh diễn ra hết sức nhanh chóng dồn dập thập kỷ sau nhanh hơn thập kỷ trước,
năm sau nhanh hơn năm trước thành tựu kỳ diệu nhất của loài người trong thế kỷ
20 tập trung chủ yếu trong thập kỷ 90 nhất là những năm cuối thập kỷ 30 ta vẫn
chưa dự báo được sự phát triển Internet thương mại diện tử như ngày nay và hiện
nay sẽ khó dự báo được những thành tựu sẽ đạt được trong những năm tới phần lớn
là các chiến lược qui hoạch phát triển của các quốc gia được điều chỉnh cho nhanh
hơn ) chưa có thời kì mà trong lòch sử mà sự thay đổi, đảo lộn trong xã hội diễn ra
nhanh chóng, to lớn, sâu sắc và toàn diệân như hiện nay. Nhiều khái niệm cũng như
phương thức, qui tắc hoạt độâng, xử lý bò đảo lộ, buộc người ta phải đổi mới tư duy,
phải hành động nhanh, “làm việt theo tốc độ tư duy “(Bill Gates).
Các công nghệ cao, trước hết là công nghệ thông tin, là nguồn góc của sự
biến đổi mới lớn hiện nay. Máy hơi nước, động cơ điện mở đầu cho cuộc cách
mạng công nghiệp, thúc đẩy sự ra đời của nển kinh tế nông nghiệp , nội dung chủ
yếu là thay thế lao động chân tay bằng máy móc. Đó là cuộc cách mạng sâu sắc
nhưng diễn ra chậm chạp trong thời gian dài. Còn máy tính và mạng máy tính có
chức năng kỳ diệu là có thể thay thế một phần lao động trí óc con người nâng cao
trí thức giúp con người nâng cao khả năng tư duy khả năng sáng tạo từ đó đẩy
mạnh sự đổi mới công nghệ đổi mới tổ chức quản lý cải thiên điều kiện lao động
rút ngắn khoảng cách tạo điều kiên thuận lợi cho quốc tế hoá sản xuất thương mai
lưu thông tiền tệ làm cho quá trình toàn cầu hoá gia tăng mạnh mẽ trong những
năm gần đây. Máy tímh phát triển rất nhanh không có công nghệ nào khác sánh
kòp. Chúng nhanh chóng đi vào cuộc sống, có mặt ở mọi nơi trong mọi lónh vực
hoạt động. Sở dó như thế ngoài chức năng còn có đặc điểm của nó nữa là năng lực
của nó tăng rất nhanh cứ 18 tháng tăng gấp đôi Chẳng bao lâu mạng máy tính tốc
độ cao sẽ nối với các hộ gia đình các trường học cơ quan, doanh nghiệp, nhà máy,
trang trại, hộ gia đình và đến từng thiết bò từng công cụ xã hội thông tin rồi xã hội
tự động hoá sẽ hình thành.
Tiểu Luận Triết Học
Hvth: Nguyễn Duy Kiệt Trang 19
III. NỀN KINH TẾ TRI THỨC VÀ CÔNG CUỘC CÔNG NGHIỆP HOÁ HIỆN

nghèo nhất không cách nào đuổi kòp các nước phát triển nhưng phải cố gắng nhanh
chóng để nâng cao trình độ tri thức tăng cường năng lực nội sinh về khoa học công
Tiểu Luận Triết Học
Hvth: Nguyễn Duy Kiệt Trang 20
nghệ mới nhất để hoàn thành thắng lợi nền công nghiệp hóa hiên đại hoá, thực
hiện được mục tiêu dân giàu nước mạnh xã hội công bằng dân chủ văn minh .
Chúng ta có thế mạnh về tiềm năng con người, chỉ số phát triển con người.
Chỉ số phát triển con người (HDI) nứơc ta đứng thứ 110 và thuộc nhóm trung bình
của thế giới. Thực tế đã chứng minh người Việt Nam nắm bắt và làm chủ nhanh
các tri thức mới và các ngành công nghệ hiện đại. Nhiều ngành mới xây dựng nhờ
sử dụng công nghệ mới đã theo kòp trình độ các nùc trong khu vực ( Bưu chính
viễn thông, năng lượng, cầu đường, dầu khí …). Cho nên chúng ta cần thực hiện
một chính sách phát triển bằng và dựa vào con người, khoa học và công nghệ, như
nghò quyết TW2 khóa 8 đã chỉ ra. Chiến lược phát triển đất nước dựa vào tri thức
và thông tin, chiến lược đi tắt, đón đầu với mũi nhọn là công gnhệ thông tin .
Về công nghệ thông tin, ngành đang là động lực chủ yếu thúc đẩy nền kinh
tế tri thức và xã hội thông tin, thì người Việt Nam có nhiều khả năng. Những học
sinh Việt Nam thi giải tin học quốc tế đoạt giải rất cao, lực lượng người Việt Nam ở
nước ngoài làm tin học khá đông và giữ nhiều vò trí quan trọng. Riêng tại thung
lũng Silicon hiện có hơn 10.000 người làm công nghệ thông tin. Việt Nam cần tập
trung phát triển công nghệ thông tin để thúc đẩy phát triển và hiện đại hoá các
ngành, các lónh vực sản xuất dòch vụ, nâng vao hiệu quả tổ chức và quản lý, đồng
thời để phát triển các ngành công nghệ thông tin là những ngành có giá trò gia tăng
cao nhất, những ngành trụ cột trong xã hội tương lai. Công nghệ thông tin trở thành
ưu tiên hàng đầu trong chiến lược phát triển nước ta .
Nền kinh tế nước ta phải phát triển theo mô hình hai tốc độ : Một mặt phải
lo phát triển nông nghiệp, nâng cao năng lực sản xuất những ngành công nghiệp cơ
bản, lo giải quyết nhữnh nhu cầu cơ bản và bức xúc của người dân, mặt khác đồng
thới phải phát triển nhanh những ngành kinh tế dựa vào tri thức và công nghệ cao,
nhất là công nghệ thông tin để hiện đại hóa và nâng cao năng lực cạnh tranh cuả


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status