tìm hiểu di sản văn hóa quan họ bắc ninh - Pdf 22

Tìm hiểu di sản văn hóa Quan họ Bắc Ninh

Văn hóa du lch – GVHD Th.s Phm Th Thúy Nguyt Page 1
Tiểu luận

Tìm hiểu di sản văn hóa Quan họ Bắc Ninh
Tìm hiểu di sản văn hóa Quan họ Bắc Ninh

Văn hóa du lch – GVHD Th.s Phm Th Thúy Nguyt Page 2
GIỚI THIỆU CHUNG:
I.1 Khái niệm:
Theo các nhà nghiên cứu văn hóa, Quan họ một loại hình dân ca đặc sắc, một lối hát giao duyên
nổi tiếng do cộng đồng người Việt (Kinh) ở 49 làng quan họ và một số làng lân cận thuộc hai tỉnh

bọn quan họ nữ hát đối nhau. Đứng đầu mỗi bọn Quan họ là liền anh, bên nữ gọi là liền chị. Các
câu hát có thể được chuẩn bị sẵn, nhưng ra đến khi đối đáp nhau thì thường dựa trên khả năng
ứng biến của hai bên. Họ hát những bài ca mà lời là thơ, ca dao (phần lớn là thể lục bát, lục bát
biến thể,…) từ ngữ được trau chuốt, trong sáng, mẫu mực thể hiện các trạng thái tình cảm của con
người: nhớ nhung, buồn bã khi chia xa, tình yêu lứa đôi,…bằng một ngôn ngữ giàu tính ẩn dụ.
Hát quan họ gắn liền với tục kết chạ, tục kết bạn giữa các bọn quan họ, tục “ngủ bọn”. Mặc dù
các phong tục này không được thực hành nhiều như trước đây, cộng đồng cư dân các làng quan
họ vẫn bảo tồn và truyền dạy nghệ thuật dân ca quan họ này.
Thời gian: từ mồng 4 Tết âm lịch, trong gần 3 tháng mùa xuân đầu năm, hội làng ở các làng
quan họ và các làng kề cận liên tiếp diễn ra. Suốt tháng 8 âm lịch lại là các hội lệ vào đám của các
làng. Trong số các lễ hội làng quan họ, hội Lim (thị trấn Lim, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh) mở
vào 13 tháng giêng âm lịch, là hội lớn nhất. Cho nên mùa xuân và mùa thu là mùa hội và mùa ca
hát quan họ nhộn nhịp, tưng bừng làng trên, thôn dưới.
II. ĐẶC TRƯNG DI SẢN QUAN HỌ BẮC NINH:
II.1 Trang phục:
Trang phục Quan họ bao gồm trang phục của liền anh và liền chị.:
Trang phục của liền anh: áo dài 5 thân, cổ đứng, có lá sen, viền tà, gấu to, dài tới quá đầu gối,
thường bên trong mặc một hoặc hai áo cánh, sau đó đến hai áo dài.Áo dài bên ngoài thường màu
đen, chất liệu là lương, the. Quần của liền anh là quần dài trắng, ống rộng, may kiểu có chân què
Tìm hiểu di sản văn hóa Quan họ Bắc Ninh

Văn hóa du lch – GVHD Th.s Phm Th Thúy Nguyt Page 4

dài tới mắt cá chân, chất liệu bằng phin, trúc bâu, màu mỡ gà, có thắt lưng nhỏ để thắt chặt cạp
quần. Đầu liền anh đội nhiễu quấn hoặc khăn xếp. Ngoài ra còn có các phụ kiện như: ô đen, khăn
tay, lược, thắt lưng
Trang phục liền chị : thường được gọi là “áo mớ ba mớ bảy”, có nghĩa là liền chị có thể mặc ba
áo dài lồng vào nhau ( mớ ba) hoặc là bảy áo dài lồng vào nhau ( mớ bảy ). Thành phần cơ bản
gồm có: trong cùng là một chiếc yếm có màu rực rỡ, thường làm bằng lụa truội nhuộm (có hai
loại yếm là yếm cổ xẻ dùng cho trung niên và yếm cổ viền dùng cho thanh nữ ). Bên ngoài yêm là

hát Quan họ. Tiếng đệm là những âm thanh không thuộc phần lời thơ, như i, a, ơ, ư, hự, rằng, là,
ru hời, tính tình tang Nhiều người thường coi tiếng đệm là hư từ, nhưng ở đây không phải là
quan hệ thực từ - hư từ, mà cần nhận thấy mối quan hệ lời thơ - tiếng đệm. Trong bài Quan họ,
tiếng đệm vừa làm nền như một dàn nhạc đệm, vừa là chất kết dính các âm điệu của lời thơ, thông
qua các nốt luyến, lướt, hoa mỹ, thêu tạo thành tuyến giai điệu đặc trưng của Quan họ và chi phối
nhiều đến kỹ thuật hát Quan họ.
Nền là đặc điểm của các tiếng đệm tạo nên mặt bằng giai điệu, qua đó làm nổi lên lời thơ và
cùng với âm điệu của lời thơ tạo nên giai điệu của bài hát. Tiếng đệm thường có giai điệu nằm
trong quãng 2, quãng 3, thỉnh thoảng có quãng 4, 5, ít gặp quãng 6. Như vậy, nền ở đây có nghĩa
phông nền, chứ không phải nền nã, nền nếp như một số người quan niệm. Nói đến đặc điểm nền
trong Quan họ là nói đến đặc điểm các tiếng đệm như i ơ, hự, rằng là, tính tình tang tạo nên giai
điệu như một dàn nhạc đệm, làm nền và kết nối lời thơ. Chẳng hạn, trong câu Gọi ớ ơ ớ ơ hự à đò
không í i thấy i i hự đò là đò thưa í i (bài Gọi đò). Các tiếng đệm i í ơ ớ hự à… í i…i i hự… là…í
i làm nền cho lời thơ Gọi đò không thấy đò thưa.
Tiếng đệm thường thấy nhiều trong dân ca Việt Nam và mỗi thể loại có mức độ và cách thức sử
dụng tiếng đệm khác nhau. Ở các thể loại dân ca khác tiếng đệm thường được sử dụng để tô điểm,
làm chức năng đệm hơi, đệm nhịp hoặc cả đệm nghĩa cho dễ hát và phát triển giai điệu bài hát.
Trong Quan họ, tiếng đệm được sử dụng nhiều, chúng cũng có chức năng đệm hơi, đệm nhịp
hoặc cả đệm nghĩa, làm cho giai điệu bài hát phát triển, tuy nhiên đặc thù của tiếng đệm trong hát
Quan họ là chúng có vai trò thay cho dàn nhạc đệm, làm nền cho lời thơ và hỗ trợ cho các yếu tố
vang, rền, nẩy. Tiếng đệm trong Quan họ đòi hỏi kỹ thuật hát tương đối khó. Thiếu tiếng đệm
Quan họ không còn là Quan họ. Để hát được nền phải giữ hơi thở đều, liên tục, khẩu hình vừa
Tìm hiểu di sản văn hóa Quan họ Bắc Ninh

Văn hóa du lch – GVHD Th.s Phm Th Thúy Nguyt Page 6

phải, vị trí âm thanh ít thay đổi để giai điệu bài hát đều đặn, hoà quyện, nối tiếp nhau và không bị
đứt quãng. Đồng thời có thể điều tiết được độ to nhỏ, mạnh nhẹ của tiếng đệm tương quan hợp lý,
không những không át đi âm điệu của lời thơ, mà còn làm nổi lên lời thơ trên nền âm thanh đệm


Kỹ thuật nẩy hạt không chỉ có trong Quan họ mà còn thấy ở một số thể loại khác như Chèo, Ca
trù. Tuy nhiên, mỗi thể loại lại có cách nẩy hạt khác nhau, ví dụ trong hát Ca trù thường nẩy hạt ở
âm ư, đóng khẩu hình, nhả âm thanh bằng mũi. Chèo nẩy hạt thường rơi vào âm i, mở khẩu hình
và nhả âm thanh bằng mũi và một phần bằng miệng. Trong Quan họ những âm nẩy tương đối
phong phú, thường rơi vào những âm đệm như ư, hự, í ợ, ạ và một số trường hợp nẩy hạt vào
những từ thuộc phần lời thơ của bài hát.
Kỹ thuật hát nẩy hạt trong hát Quan họ rất khác biệt làm cho phong cách hát Quan họ không
giống với các thể loại dân ca khác. Để hát được nẩy hạt, cần mở khẩu hình vừa phải, phù hợp với
từng âm nẩy hạt (hự, ơ ), hàm dưới buông lỏng và hơi hạ thấp cằm xuống, môi và hàm trên hơi
nhếch lên, khống chế hơi, dùng lực hơi thở đẩy mạnh âm nẩy hạt bật ra.
Vang
Vang là đặc điểm âm thanh truyền đi mạnh và lan toả rộng ra xung quanh. Vang là kết quả
cộng hưởng của miệng hát để khuyếch đại âm thanh. Những yếu tố hỗ trợ vang trong hát Quan họ
gồm: giai điệu bài hát phát triển liên tục, sử dụng nhiều âm thêu, luyến, nốt hoa mỹ, âm đệm mở
như ơ, í ơ, í a với độ ngân dài.
Vang là một yếu tố quan trọng không chỉ riêng trong hát Quan họ mà ở tất cả các thể loại
dân ca. Về mặt âm nhạc, vang có chức năng làm cho tuyến giai điệu của bài hát phát triển ở nhiều
cung bậc trầm bổng khác nhau, làm cho tác phẩm nghệ thuật thật sự sống động. Mặt khác, yêu
cầu đối với người hát ở bất kỳ dòng nhạc nào đều đòi hỏi có độ vang nhất định. Tuy vậy, hát vang
trong Quan họ lại có điểm khác biệt với các thể loại dân ca khác. Chẳng hạn, vang của thanh
nhạc được ngân, nghỉ vào những âm ở cuối tiết, câu hoặc đoạn nhạc. Còn vang trong hát Quan họ
là nhờ vào tuyến giai điệu phát triển liên tục, kết hợp luyến láy và ngân những âm đệm mở tạo
nên, đồng thời vẫn giữ được các yếu tố rền, nền, nẩy. Chính vì vậy, cách hát vang của Quan họ
mang nét đặc thù, cần có kỹ thuật hát phù hợp.
Để hát được vang cần hát chậm, hơi thở đầy, khẩu hình mở, vòm họng chống lên cao, có độ
rỗng bên trong họng. Hàm dưới rơi tự do, hàm và môi trên hơi nhếch cao để lộ ra hàm răng trên
Tìm hiểu di sản văn hóa Quan họ Bắc Ninh

Văn hóa du lch – GVHD Th.s Phm Th Thúy Nguyt Page 8



Lễ kết nghĩa được bắt đầu bằng những lời thăm hỏi tận tình hoặc những lời thề thốt. Sau
đó, họ lại có buổi gặp nhau ở bên nam. Tại đây họ có thể hát thâu đêm suốt sáng để thổ lộ với
nhau về tình cảm. Căn cứ vào sự đồng nhất về cữ giọng, âm sắc, họ xếp thành từng cặp: Anh Cả -
Chị Cả, anh Hai- chị Hai, anh Ba – chị Ba, anh Tư – chị Tư Lời ca trong quan họ chủ yếu nói về
tình yêu nam nữ, sự gắn bó thủy chung. Nhưng trên thực tế họ không hề nghĩ đến chuyện yêu
nhau mà chỉ quan hệ trên cơ sở bình đẳng tôn trọng lẫn nhau. Họ gọi nhau bằng anh, chị và xưng
em hoặc tôi. Thời gian kết nghĩa của người Quan họ có thể từ đời này sang đời khác hay có khi
chỉ một vài năm.
Địa điểm ca hát Quan họ thường là ở sân nhà, trước cửa đình , cửa chùa, dưới gốc đa, bên
sườn đồi, trên thuyền, bến nước
Hàng năm, mỗi khi đình đám hội hè, làng có hội phải cử đôi Quan họ đến các làng Quan họ kết
chạ để mời. Đúng hẹn, các Liền anh Liền chị được mời đến đông đủ. Ngay từ cổng làng, cổng
đình chùa, Quan họ chủ nhà đã ra đón khách: Tay bê cơi trầu miệng hát mời đón khách bằng
những lời ca nghe ngọt ngào, tế nhị. Sau đó, Quan họ chủ nhà mời quan họ bạn đi lễ Phật, lễ
thánh, hát hội. Và ngày xưa hát hội là để giao lưu văn hoá giữa các bọn Quan họ nam và nữ, chứ
không thi hát lấy giải. Vui chơi hát hội đến sẩm tối, quan họ chủ nhà mời Quan họ bạn về nhà ông
(bà) Trùm để hát canh vào mỗi canh Quan họ thường thâu đêm đến sáng.
Vào canh Quan họ, các Liền anh Liền chị ngồi trên tràng kỷ hoặc phản thành bọn nam
riêng và bọn nữ riêng để hát đối đáp và bao giờ cũng phải hát bằng hệ thống giọng lề lối như Hừ
La, La Rằng…, sau đó chuyển sang giọng Sổng, giọng Bỉ, giọng Vặt và cuối cùng là giọng Giã
Bạn. Bao giờ, giữa canh quan họ, quan họ chủ nhà cũng mời cơm quan họ. Gọi là cơm Quan họ,
nhưng thực ra là cỗ ba tầng có đầy đủ các món ăn đặc sản của địa phương như giò, chả, nem,
bóng, nấm… và bánh trái hoa quả. Trong khi ăn uống, Quan họ luôn mời mọc nhau bằng những
lời ca, tiếng hát nghe ngọt ngào, tế nhị. Ăn uống xong, các bọn Quan họ nghỉ ngơi chốc lát, sau
đó lại hát tiếp đến khi nghe thấy tiếng chuông chùa thỉnh mới tàn canh Quan họ và chia tay nhau
để ra về. Quan họ chủ nhà tiễn bạn ra tận đầu làng và còn lưu luyến nhau bằng đôi câu Quan họ
để đến hẹn lại lên.
Tìm hiểu di sản văn hóa Quan họ Bắc Ninh


Văn hóa du lch – GVHD Th.s Phm Th Thúy Nguyt Page 11

Các làng trên, đại bộ phận đều có cả những bọn Quan họ nam và bọn Quan họ nữ, thực hiện
phong tục kết bạn Quan họ khác giới, khác làng và tiến hành giao du, ca hát Quan họ với làng
khác. Nhưng có những làng có những nét riêng: Ngang Nội, Sen Hồ, Thị Cầu chỉ có các bọn
Quan họ nam đi kết bạn với Quan họ nữ ở làng khác; không có các bọn Quan họ nữ, hoặc có cũng
chỉ hát vui ở hội làng, không giao du ca hát Quan họ với làng khác. Các làng Niềm, Yên, Khúc
Toại, Trà Xuyên, từ 1930 - 1935 cũng chỉ còn các bọn Quan họ nam, không còn các bọn quan họ
nữ đi giao du, ca hát quan họ. Ở Tam Sơn chỉ còn lứa kết bạn cuối cùng với Lũng Giang vào
những năm đầu của thế kỷ 20. Các làng ở Việt Yên đã không đi hát Quan họ với các làng khác từ
đầu những năm 30. Một số làng khác ở phía Nam sông Cầu đến trước Cách mạng tháng 8-1945
và sau này cũng không còn hát hay ít hát, hoặc chỉ có một vài người còn hát được.
Trong các làng Quan họ, ai cũng biết hát Quan họ, trở thành những liền anh Quan họ, liền chị
Quan họ mới có thể hát được trên dưới 200 bài ca và có thể tham dự các cuộc hát Quan họ, thông
thạo mọi lề lối, phong tục Quan họ. Mỗi thế hệ nam, nữ của một làng thường có từ 3, 4, 5 bọn
Quan họ nam, nữ. Riêng làng Viêm Xá (Diềm) và 2 làng Bịu (Bịu Sim, Bịu Trung) vào đông
nhất, mỗi làng cũng chỉ có hơn 10 bọn Quan họ nam, nữ.
II.5 Lễ hội:
Lễ hội bao gồn phần lễ và hội. quan họ thường diễn ra cả phần lễ và phần hội. Quan họ phần lễ là
để hát những làn điệu cổ, còn quan họ phần hội là để các liền anh liền chị của làng đến hát đối
đáp giao lưu, mang đậm văn hóa lễ nghĩa của một vùng quê ngàn năm văn hiến. Phần lễ là thờ
thần, phật phù hộ cho mùa màng, nhân dân và vật nuôi. Phần hội diễn ra các trò chơi giải trí như:
tuồng, ca trù, quan họ,…
 Quan hệ phần lễ: là phần để hát các những làn điệu cổ có nội dung ca ngợi công đức của
thần, phật, cầu may. Theo tục lệ thì chỉ có nam hoặc nữ của làng được hát. Trong hát thờ
chỉ được hát giọng cổ như: Hừ la, La rằng, Cây gạo, tuyệt đối không được hát giọng vặt
nội dung nam nữ yêu đương.
 Quan họ phần hội: là phần quan họ nam và nữ hát đối đáp với nhau nhằm tạo không khí
vui vẻ, giải trí. Đấy là phần hấp dẫn nhát bởi các liền anh liền chị bằng những làn điệu
Tìm hiểu di sản văn hóa Quan họ Bắc Ninh


Văn hóa du lch – GVHD Th.s Phm Th Thúy Nguyt Page 13

Nói đến chơi Quan họ là nói đến một lối chơi có quy củ, nền nếp, buộc người chơi phải tuân thủ
theo luật chơi gồm nhiều thể loại: hát đối, hát giao duyên, hát canh, hát kết chạ, hát lễ hội, hát
mời nước, mời trầu… chơi cho chỉ nổi kim chìm, chơi cho lở đất long trời mới xứng là trai gái
Kinh Bắc. Nhưng không chỉ có thế, Quan họ còn có lối hát tự do, ngẫu hứng thể hiện sự phóng
khoáng trong những canh hát ngày xuân. Hát để thay cho nói, tâm sự gửi cả vào trong câu hát, đó
cũng là cái tình của người quan họ đã thấm thía, lan tỏa ngàn đời. Đối với Quan họ thì yếu tố
vang, rền, nền, nảy là không thể thiếu được và đòi hỏi người hát phải trải qua một quá trình rèn
luyện rất kỳ công mới đạt đến độ chuẩn đó. Các bài Quan họ thường thể hiện tâm trạng tình yêu
đôi lứa, khát vọng sống ấm no, hạnh phúc, nỗi nhớ mong, tương tư của người quan họ.Quan họ
không chỉ là nghệ thuật hát mà nó còn là văn hóa, là "ứng xử" của người dân Kinh Bắc. Đó là
cách ứng xử thật khéo léo, tế nhị, kín đáo và mang đầy ý nghĩa như các làn điệu mời nước, mời
trầu thật chân tình, nồng thắm .
Những làn điệu Quan họ gắn bó mật thiết với đời sống người dân Kinh Bắc, là món ăn tinh thần
không thể thiếu trong các mùa lễ hội. Tuy nhiên trong giai đoạn này nó chỉ có giá trị trong lĩnh
vực văn hóa chứ chưa gắn liền với du lịch. Đó là cái riêng nổi bật của vùng đất này, gắn kết
những người trong vùng với nhau, nó chỉ phổ biến trong vùng Kinh Bắc chứ chưa có tiếng tăm
nhất định,chưa thu hút được sự quan tâm của du khách quốc tế nên việc khai thác các giá trị Quan
họ chủ yếu là của chính quyền và người dân địa phương và nó chưa thật sự được phát triển hay
bảo tồn một cách có tổ chức
III.2 Sau khi được UNESCO công nhận :
*Các tiêu chí để Quan họ Bắc Ninh được UNESCO công nhận là di sản văn hoá phi vật thể
đại diện cho nhân loại
Vào lúc 19.55 (giờ Việt Nam, tức 16.55 giờ Abu Dhabi), Quan họ đã được Ủy ban
Liên chính phủ Công ước UNESCO Bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể long trọng công bố là
Di sản phi vật thể đại diện của Nhân loại.
Tìm hiểu di sản văn hóa Quan họ Bắc Ninh



Văn hóa du lch – GVHD Th.s Phm Th Thúy Nguyt Page 15

 Tìm hiều di sản văn hóa phi vật thể Quan họ Bắc Ninh được xem như hoạt động của
“du lịch văn hóa”
Du lịch văn hóa đang ngày một phổ biến trên thế giới và được chú trọng phát triển ở Việt Nam.
Theo Luật Du lịch, du lịch văn hóa là “loại hình du lịch dựa vào việc khai thác các giá trị di sản
văn hóa nhằm bảo tồn và phát huy các giá trị của nền văn hóa dân tộc, có sự tham gia của đông
đảo cộng đồng”. Như vậy, di sản văn hóa là nhân tố cơ bản trong phát triển du lịch văn hóa.
Di sản văn hóa góp phần hình thành xu hướng phát triển du lịch trên thế giới. Ngày nay, trong xã
hội công nghiệp hiện đại, khi chất lượng cuộc sống được nâng cao, con người có điều kiện và nhu
cầu muốn được hưởng thụ văn hóa nhiều hơn, được đi tới những miền đất mới tìm hiểu khám phá
những nền văn hóa khác. Nếu di sản chỉ được giấu kín trong lòng đất, trong các bảo tàng mà
không được nghiên cứu, trưng bày giới thiệu cho công chúng biết thì di sản đó cũng không có giá
trị tồn tại. Khi di sản được khách du lịch quan tâm, tìm hiểu thì đó đã tạo cơ hội, môi trường cho
di sản được “sống”. Ngược lại, đến lượt mình, di sản văn hóa càng phong phú, đa dạng và giữ
được tính xác thực bao nhiêu thì nó lại càng có sức hấp dẫn khách du lịch bấy nhiêu. Do vậy, Bắc
Ninh là một nơi có rất nhiều lễ hội, nhiều điểm tham quan hấp dẫn có cơ hội thu hút được nhiều
khách du lịch đến để tìm hiểu, chiêm ngưỡng di sản văn hóa.
Ở nhiều quốc gia, du lịch văn hóa được xem là loại hình du lịch chính, thậm chí còn trở thành
thương hiệu của một quốc gia, một vùng đất. Chính bởi vì bản thân di sản văn hóa đã mang tính
lịch sử, tính truyền thống, tính biểu trưng…cho nên sản phẩm du lịch văn hóa có giá trị hấp dẫn
đặc biệt. Nếu biết khai thác hợp lý di sản văn hóa phục vụ du lịch thì sẽ tạo ra những sản phẩm du
lịch văn hóa giàu sức hút, có ý nghĩa.
Muốn du lịch văn hóa phát triển, không thể không dựa vào việc khai thác giá trị các di sản văn
hóa. Để du lịch văn hóa thực sự hấp dẫn thì trước hết phải xác định giá trị của mỗi di sản văn hóa
(di sản văn hóa vật thể và di sản văn hóa phi vật thể) đối với hoạt động du lịch, tiếp theo là phải
có sự đầu tư đúng mức để di sản văn hóa trở thành sản phẩm du lịch văn hóa. Ngược lại, một
phần lợi nhuận từ du lịch đem lại cần phải được đầu tư trở lại cho di sản văn hóa (nhằm phục vụ
công tác bảo tồn di sản…). Đó là sự phát triển du lịch bền vững.

Dương.
Tìm hiểu di sản văn hóa Quan họ Bắc Ninh

Văn hóa du lch – GVHD Th.s Phm Th Thúy Nguyt Page 17

Hệ thống đường giao thông nội tỉnh cũng tương đối phát triển với trục đường quốc lộ chạy
qua 1A, 1B, 18, đường sắt xuyên Việt đi Trung Quốc. Đường sông cũng được xem là một lợi thế
trong phát triển du lịch của tỉnh, với 3 con sông chính là sông Cầu, sông Đuống, sông Thái Bình
chảy qua tạo mạng lưới đường thủy dài 127km. Với vị trí như vậy, Bắc Ninh có điều kiện giao
lưu kinh tế, buôn bán nội vùng và với các tỉnh bạn, đặc biệt là với thủ đô Hà Nội. Hoạt động giao
thông, giao lưu kinh tế phát triển tạo thuận lợi cho hoạt động du lịch của tỉnh Bắc Ninh và đặc
biệt là vùng văn hóa Quan họ.
Với những giá trị đã được thế giới công nhận, di sản văn hóa Quan họ Bắc Ninh thực sự là
nguồn tài nguyên du lịch hấp dẫn du khách trong và ngoài nước. Dựa vào di sản văn hóa Quan
họ, Bắc Ninh có thể tạo ra nhiều sản phẩm du lịch, kết hợp hình thành các tour, tuyến du lịch
phong phú.
Có thể kết hợp du lịch Quan họ với du lịch thăm quan di tích, tham dự lễ hội. Trong dân
gian ta có câu: “Cầu Nam, chùa Bắc, đình Đoài” để ca ngợi những di sản văn hóa cộng đồng nổi
tiếng của các miền trong nước. Xứ Bắc hay vùng Kinh Bắc là một trong những xứ sở của đình
chùa và lễ hội. Đặc biệt trong những năm gần đây một số chương trình như “ Về miền Quan họ”,
“Fesival Bắc Ninh” đã trở thành ngày hội lớn với nhiều chương trinh hấp dẫn thu hút rất nhiều du
khách trong và ngoài nước đến tham gia.
Ở đây có những ngôi chùa cổ kính có ý nghĩa lớn về lịch sử và kiến trúc như: chùa Dâu,
chùa Cổ Pháp, chùa Phật Tích, chùa Bút Tháp, chùa Dạm, chùa Lim, chùa Xuân Ổ, chùa Viêm
Xá (Diềm), chùa Châm Khê trong đó, có những ngôi chùa nổi tiếng có lễ hội gắn liền với Quan
họ cả phần lễ và phần hội như: chùa Lim, chùa Châm Khê, chùa Dương Ổ, chùa Hòa Đình. Ngoài
ra, vùng Kinh Bắc cũng nổi tiếng với những ngôi đình “Thứ nhất là đình Đông Khang, thứ nhì
đình Bảng, vẻ vang đình Diềm” (câu ca dân gian) và những ngôi đền thờ Mẫu, hầu hết tập trung ở
những làng Quan họ gốc. Những ngôi đình, ngôi đền này là không gian văn hóa để Quan họ tồn
tại và phát triển.

riêng có của tỉnh Bắc Ninh.
Các công ty du lịch cũng đã nắm bắt được những ảnh hưởng của quan họ đối với du lịch
Bắc Ninh nên thiết kế nhiều tour du lịch đến Bắc Ninh kết hợp giữa việc thưởng thức món ăn tinh
Tìm hiểu di sản văn hóa Quan họ Bắc Ninh

Văn hóa du lch – GVHD Th.s Phm Th Thúy Nguyt Page 19

thần Quan họ còn tham quan tìm hiểu các di tích nổi tiếng và một số điểm du lịch thu hút nhiều
du khách. Nhiều công ty du lịch đã rất thành công khi khai thác du lịch ở vùng đất này đặc biệt
Công ty du lịch Hà Nội – Sài Gòn của doanh nhân trẻ Đỗ Hoàng Cát đã đạt doanh nghiệp tiêu
biểu ở Bắc Ninh, góp phần không nhỏ vào quá trình phát triển và giữ gìn nét đẹp quan họ . Là
người con của đất Bắc Ninh, với tấm lòng yêu quê hương và khao khát muốn giữ gìn những nét
đẹp cũng như giới thiệu quê hương với du khách trong và ngoài nước, ông đã xây dựng nhiều tour
du lịch đặc biệt để du khách có những ấn tượng tốt đẹp nhất với vùng đất này.
Như vậy phát triển du lịch Quan họ sẽ góp phần hình thành xu hướng tìm hiểu văn hóa Quan họ,
cũng chính là tìm hiểu lịch sử truyền thống, phong tục tập quán của ông cha ta, bản săc dân tộc ta.
Đối với bạn bè quốc tế thì dân ca Quan họ đã trở thành hình ảnh của đất nước, con người Việt
Nam. Vì vậy, phát triển du lịch di sản văn hóa Quan họ góp phần quảng bá, đưa hình ảnh đất
nước Việt Nam ra với thế giới. Du lịch Bắc Ninh đã đạt được nhiều thành quả to lớn: Lượng
khách tới Bắc Ninh hàng năm có tốc độ tăng 17-20%, doanh thu du lịch cũng tăng 17-18%. Tỉnh
Bắc Ninh đạt mục tiêu phấn đấu đến năm 2015 doanh thu du lịch đạt trên 250 tỷ đồng, đón
400.000 lượt khách/năm; khuyến khích đầu tư xây dựng thêm 4 khách sạn tiêu chuẩn 3-5 sao để
đảm bảo đáp ứng lượng khách đến thăm khi tổ chức các sự kiện lớn; sớm hoàn chỉnh các dự án
xây dựng khu du lịch văn hóa lịch sử tiêu biểu.Chỉ tính riêng trong năm 2010, tỉnh Bắc Ninh đạt
doanh thu 125 tỷ đồng từ du lịch, đón gần 200.000 lượt khách đến thăm quan. Hệ thống cơ sở lưu
trú du lịch và dịch vụ những năm gần đây được đầu tư mở rộng, từng bước đưa du lịch Bắc Ninh
trở thành điểm đến quen thuộc trong nước.
Nhận thấy rõ tiền năng và vai trò to lớn của Quan họ đối với du lịch địa phương, song cuốn
theo vòng xoáy của xã hội ngày nay, Quan họ đã có những thay đổi kéo theo đó là những ảnh
hương tiêu cực đến du lịch vùng:

khó hòa hợp với đội ngũ những nghệ sĩ hát Quan họ theo lối mới, hiện trạng cho thấy ngày nay
chỉ ở vùng Kinh Băc chỉ còn hai nghệ nhân hát theo lối cũ là cụ Nguyễn Thị Nguyên và cụ Ngô
Thị Nhi, còn lại những nghệ sĩ hát Quan họ theo lối mới thì hầu như chất lượng không cao, không
truyền tải được hết bản chất của quan họ và cùng với đó là sự khan hiếm liền anh có chất lượng
cũng là điều khó khăn cho Quan họ Bắc Ninh.
Tìm hiểu di sản văn hóa Quan họ Bắc Ninh

Văn hóa du lch – GVHD Th.s Phm Th Thúy Nguyt Page 21

Tóm lại, từ những hiện trạng trên có thể thấy Quan họ Bắc Ninh có những tiềm năng nhất định
ảnh hưởng lớn đến du lịch của địa phương. Đồng thời chúng ta cũng thấy rõ sự mai một dần của
di sản văn hóa này, do đó đòi hỏi Nhà nước và chính quyền địa phương cần phải thấy được thực
trạng khai khai thác để có những biện pháp bảo tồn và phát huy giá trị to lớn của di sản văn hóa
Quan họ Bắc Ninh xứng tầm với di sản văn hóa đại diện cho nhân loại.

IV. BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY DI SẢN VĂN HÓA QUAN HỌ BẮC NINH:
Sau 5 năm( 2005-2009) triển khai lập hồ sơ khoa học đề cử di sản ngày 30-09-2009, Tổ chức văn
hóa khoa học- giáo dục của Liên hợp quốc ( UNESCO) công nhận Dân ca quan họ Bắc Ninh là di
sản văn hóa phi vật thể của nhân loại. Sự kiện này không những mang đến cho người dân Bắc
Ninh mà còn mang đến cho người dân cả nước niềm vui, tự hào dân tộc, đồng thời còn đặt ra
nhiệm vụ quan trọng đòi hỏi trách nhiệm hết sức lớn lao của các cấp ngành từ Trung ương đến địa
phương đặc biệt là của cộng đồng trong việc bảo tồn và phát huy giá trị của di sản.
Quan họ là một loại hình dân ca phong phú về giai điệu và được lưu truyền trong dân gian từ đời
này sang đời khác bằng phương thức truyền khẩu. Tuy nhiên, cũng chính phương thức lưu truyền
này đã làm cho các bài Quan họ lưu truyền trong dân gian bị biến đổi nhiều, thậm chí còn bị biến
đổi khác hẳn so với ban đầu. Do vậy, hiện nay nhiều giai điệu cổ đã hoàn toàn biến mất. Mặc dù
sự thay đổi này làm cho Quan họ phát triển, nhưng ở trong bối cảnh văn hóa Phương Tây đang
xâm nhập mạnh mẽ vào xã hội Việt Nam, thì vấn đề bảo tồn nguyên trạng Quan họ trong từng
giai đoạn phát triển là một việc làm cấp bách. Những năm qua, Bộ Văn hóa Thông tin đã xác định
Dân ca Quan họ Bắc Ninh là một di sản Văn hóa đặc biệt, để bảo tồn và phát huy giá trị của nó.

- Giúp cộng đồng nhận diện và kiểm kê Dân ca Quan họ Bắc Ninh theo định kỳ từng năm.
- Xây dựng chính sách đãi ngộ với nghệ nhân như lương, phụ cấp, nhất là những nghệ nhân
được phong tặng “Báu vật nhân văn sống” ở các làng quan họ trên địa bàn hai tỉnh Bắc
Ninh, Bắc Giang.
- Hoàn thiện tư liệu và kết quả nghiên cứu về Quan họ Bắc Ninh, kể cả những làng quan họ
thuộc vùng lân cận.
Tìm hiểu di sản văn hóa Quan họ Bắc Ninh

Văn hóa du lch – GVHD Th.s Phm Th Thúy Nguyt Page 23

- Hai tỉnh Bắc Ninh, Bắc Giang cùng với cộng đồng tổ chức các liên hoan quan họ Bắc Ninh
định kỳ 2 năm/lần trên cơ sở festival quan họ Bắc Ninh theo địa bàn huyện 1 năm/lần
(Festival Bắc Ninh 2010 diễn ra từ ngày 14-4 đến 18-4-2010).
- Hỗ trợ cộng đồng phục hồi tập quán, tín ngưỡng và các lễ hội liên quan đến Dân ca quan
họ Bắc Ninh ở các làng quê.
- Thành lập hiệp hội nghệ nhân Quan họ Bắc Ninh, trên cơ sở các Câu lạc bộ ở các làng hiện
nay, xây dựng chương trình hoạt động cho hiệp hội để tổ chức phi chính phủ này đóng vai
trò tích cực trong việc truyền dạy cho thế hệ trẻ.
- Hỗ trợ cộng đồng xây dựng nội dung truyền dạy Quan họ Bắc Ninh trong các gia đình, các
lớp dạy Quan họ Bắc Ninh tại cộng đồng theo địa bàn làng xã.
- Cục Di sản văn hóa, Viện Văn hóa Nghệ thuật Việt Nam phối hợp với Sở Giáo dục và đào
tạo hai tỉnh Bắc Ninh, Bắc Giang xây dựng chuyên đề Dân ca quan họ Bắc Ninh để đưa
vào giảng dạy ở nhà trường cấp 2,3 trong chương trình văn học địa phương. Thành lập
khoa Dân ca quan họ Bắc Ninh trong trường Cao đẳng Văn hóa nghệ thuật của cả hai tỉnh
Bắc Ninh, Bắc Giang.
- Mở chuyên mục Dân ca quan họ Bắc Ninh trên báo Bắc Ninh, Bắc Giang, Đài phát thanh
truyền hình Bắc Ninh, Bắc Giang định kì. Sử dụng đội truyền thanh cơ sở để tuyên truyền,
giới thiệu giá trị của Dân ca quan họ Bắc Ninh trong cộng đồng làng xã.
- Xây dựng đồi Lim thành một trung tâm văn hoá quan họ, khôi phục hình thức hát thờ ở hội
làng Viên Xá ( thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh) để bảo tồn các giọng Lề lối của Dân ca

phương hướng làm sao gắn phát triển du lịch với các hoạt động biểu diễn dân ca Quan họ. Cụ thể,
Bắc Ninh có 44 làng quan họ cổ có thể phát triển thành những điểm du lịch thu hút khách, không
những khách trong nước, quốc tế; kết hợp với các công ty lữ hành trên địa bàn xây dựng những
tour du lịch nội tỉnh. Ví dụ khách đến thì đi thăm quan các di tích lịch sử kết hợp đến các làng
quan họ cổ để phục vụ du khách trong nước và quốc tế. Có thể đề xuất với tỉnh có những chỉ đạo,
đầu tư, hỗ trợ với các làng quan họ:
- Một là về cơ sở vật chất ( hỗ trợ về trang phục, kinh phí để các câu lạc bộ ở các làng quan họ cổ
có thể duy trì), hoặc kinh phí về xây dựng cơ sở hạ tầng như xây dựng đường vào các làng quan
họ cổ, các công trình vệ sinh hoặc một số công trình hạ tầng khác để bộ mặt của các làng quan họ
cổ khang trang, sạch sẽ hơn.
Tìm hiểu di sản văn hóa Quan họ Bắc Ninh

Văn hóa du lch – GVHD Th.s Phm Th Thúy Nguyt Page 25

- Hai là nâng cấp Đoàn dân ca Quan họ hiện nay thành Nhà hát Quan họ để xứng tầm với công
tác biểu diễn, truyền dạy cho đủ tầm và phát huy được giá trị. Nếu ngành văn hoá và du lịch tỉnh
có thể khai thác lợi thế sẵn có này thì dân ca quan họ sẽ trở thành một sản phẩm du lịch đặc thù
của Bắc Ninh mà các tỉnh khác muốn có cũng không được.
Tóm lại, vấn đề giữ gìn sinh hoạt văn hoá quan họ phải được đặt trong không gian văn hoá quan
họ truyền thống, nhưng cũng phải nghĩ đến đặc điểm của xã hội đương đại, không gian văn hoá
đó đang trong quá trình vận động, biến đổi, phát triển. Vì thế không thể bảo tồn quan họ theo kiểu
“đóng cứng”, mà phải bảo tồn sinh hoạt văn hoá đó trong sự vận động của xã hội.
Bên cạnh đó nhóm chúng tôi cũng đưa ra một số giải pháp để bảo tồn và phát huy di sản văn hóa
đặc sắc này như sau:
- Các công ty lữ hành, đơn vị tổ chức không nên chỉ tạo tour đưa khách đến nghe hát quan họ mà
nên kết hợp tour đến những di tích lịch sử, những điểm tham quan khác ở các vùng lân cận để dễ
dàng thu hút khách du lịch.
- Nhà nước nên có những chính sách hậu đãi cho người dân địa phương ở đây để họ nhiệt tình
chào đón khách du lịch.
- Nhà nước trích một ít ngân sách cho Đài truyền hình để quảng cáo những ca khúc, bài hát quan


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status