công tác kế toán huy động vốn tại ngân hàng thương mại cổ phần công thương việt nam chi nhánh kiên giang - Pdf 22

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
ĐỀ TÀI:
CÔNG TÁC KẾ TOÁN HUY ĐỘNG VỐN
TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN
CÔNG THƯƠNG VIỆT NAM
CHI NHÁNH KIÊN GIANG

NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN
 ………ngày….tháng….năm 2014
Chữ ký
2
NHẬN XÉT CỦA ĐƠN VỊ THỰC TẬP


- WTO World Trade Organization
5
DANH MỤC CÁC BẢNG, ĐỒ THỊ, SƠ ĐỒ

Sơ đồ 1.1: Luân chuyển vốn 6
Sơ đồ 1.2 : Các hình thức huy động vốn 13
Sơ đồ 1.3: Ghi chép sổ sách kế toán 16
Sơ đồ 2.1: Cơ cấu tổ chức kinh doanh Ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam
Chi nhánh Kiên Giang 22
Sơ đồ 2.2: Cơ cấu tổ chức quản lý Ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam Chi
nhánh Kiên Giang 23
Sơ đồ 2.3: Tổ chức bộ máy kế toán 24
Sơ đồ 2.4: Trình tự ghi sổ kế toán theo hình thức kế toán chứng từ ghi sổ 25
Sơ đồ 2.5: Kế toán máy vi tính 27
Sơ đồ 2.6: Nhận tiền gửi tiết kiệm 42
Bảng 2.1: Kết quả hoạt động kinh doanh của Ngân hàng
qua 3 năm (2011 – 2013) 27
Bảng 2.2: Cơ cấu nguồn vốn huy động trong năm 2011 – 2013 37
Biểu đồ 2.1: Kết quả hoạt động kinh doanh của Chi nhánh
qua 3 năm (2011 – 2013) 29
Biểu đồ 2.2: Tình hình huy động vốn theo kỳ hạn năm 2011 – 2013 37
Biểu đồ 2.3: Vốn huy động và tổng nguồn vốn năm 2013 39
6
7
MỤC LỤC

PHỤ LỤC
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
8
LỜI MỞ ĐẦU

xác. Với phương châm “Nâng cao giá trị cuộc sống”, Ngân hàng TMCP Công
Thương Việt Nam không chú trọng nhiều đến lãi suất mà chủ yếu cân bằng giữa
nhu cầu nguồn vốn và sử dụng vốn để đảm bảo quyền lợi của khách hàng mà vẫn
đạt hiệu quả kinh doanh. Nếu Ngân hàng phát huy tốt công tác huy động vốn không
những mở rộng tốt công tác cho vay, tăng cường nguồn vốn cho nền kinh tế mà còn
mang đến cho Ngân hàng nhiều lợi nhuận. Nhưng giải pháp nào để nâng cao nghiệp
vụ kế toán huy động vốn của Vietinbank trong thời gian tới?
Trước vấn đề trên, trong thời gian thực tập tại Ngân hàng TMCP Công Thương
Việt Nam – Chi nhánh Kiên Giang em quyết định chọn đề tài “Công tác kế toán
huy động vốn tại Ngân hàng TMCP Công Thương – Chi nhánh Kiên Giang”
làm khóa luận tốt nghiệp cho mình.
2. Mục tiêu nghiên cứu
 Kế toán nghiệp vụ huy động vốn tại Ngân hàng thông qua một số nghiệp vụ của kế
toán tại phòng giao dịch.
 Phương pháp hạch toán kế toán tại phòng giao dịch.
 Thực trạng của công tác kế toán nghiệp vụ huy động vốn tại phòng giao dịch.
 Đưa ra các giải pháp nhằm hòa thiện nghiệp vụ kế toán huy động vốn tại Ngân hàng
TMCP Công Thương Việt Nam – Chi nhánh Kiên Giang.
3. Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu của đề tài được thực hiện tại ngân hàng TMCP Công
Thương Việt Nam - Chi nhánh Kiên Giang. Các số liệu dùng để thực hiện đề tài đã
được cung cấp từ phòng giao dịch số 4, phòng Kế toán và phòng Tổng hợp của
Ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam – Chi nhánh Kiên Giang.
4. Phương pháp nghiên cứu
 Phương pháp thu thập số liệu:
- Đi thực tế tại PGD số 4 của Ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam – Chi nhánh
Kiên Giang.
- Số liệu được thu thập từ phòng Tổng hợp của Ngân hàng TMCP Công Thương Việt
Nam – Chi nhánh Kiên Giang.
- Các văn bản kế toán

làm phương tiện thanh toán.
- Từ những nhận định trên có thể thấy NHTM là một trong những định chế tài chính
mà đặc trưng là cung cấp đa dạng các dịch vụ tài chính với nghiệp vụ cơ bản là
nhận tiền gửi, cho vay và cung ứng các dịch vụ thanh toán. Ngoài ra, NHTM còn
cung cấp nhiều dịch vụ khác nhằm thoả mãn tối đa nhu cầu về sản phẩm dịch vụ
của xã hội.
- Các loại hình của NHTM:
+ NHTM quốc doanh: Là NHTM được thành lập bằng 100% vốn của nhà nước.
+ NHTM cổ phần: Là NHTM được thành lập dưới hình thức công ty Cổ phần.
+ Chi nhánh NHTM nước ngoài: Là Ngân hàng được thành lập theo luật pháp
nước ngoài nhưng hoạt động theo luật pháp nước sở tại.
+ Ngân hàng liên doanh: Là Ngân hàng thành lập bằng vốn góp của bên Ngân
hàng Việt Nam và bên Ngân hàng nước ngoài có trụ sở tại Việt Nam và hoạt động
theo luật pháp Việt Nam.
1.1.2 Vai trò và chức năng của Ngân hàng thương mại
1.1.2.1 Vai trò của Ngân hàng thương mại
Qua quá trình hoạt động của các Ngân hàng thương mại và đánh giá hiệu quả
chung của toán bộ nền kinh tế ta có thể khẳng định vai trò của nó đối với nền kinh
tế như sau:
Các NHTM là một công cụ quan trọng thúc đẩy sự phát triển của sản xuất lưu
thông hàng hoá. Thông qua nghiệp vụ huy động vốn, cho vay và đầu tư các Ngân
hàng đã huy động nguồn vốn nhàn rỗi của nền kinh tế, cho vay dưới các hình thức
khác nhau đối với các ngành kinh tế, các vùng kinh tế đáp ứng nhu cầu vốn của xã
hội nhằm thúc đẩy nền kinh tế phát triển.
Các Ngân hàng đã thực sự huy động được sức mạnh tổng hợp của nền kinh tế
vào quá trình sản xuất, lưu thông hàng hoá. Nếu như không có NHTM thì việc huy
động của cải xã hội vào quá trình sản xuất kinh doanh bị đình trệ rất nhiều. Nhờ có
NHTM mà tiền tiết kiệm của các cá nhân, tổ chức được huy động vào quá trình vận
động của nền kinh tế. Nó trở thành “dầu bôi trơn” cho bộ máy kinh tế hoạt động.
NHTM góp phần phân bố hợp lý các nguồn lực giữa các vùng, khu vực, tạo điều

Cá nhân và doanh nghiệp
p
Sơ đồ 1.1: Luân chuyển vốn
 Khả năng tạo tiền: Tạo tiền là một chức năng quan trọng, phản ánh rõ bản chất của
ngân hàng thương mại với mục tiêu là tìm kiếm lợi nhuận như là một yêu cầu chính
cho sự tồn tại và phát triển của mình. Các NHTM với nghiệp vụ kinh doanh mang
tính đặc thù đã vô hình chung thực hiện chức năng tạo tiền cho nền kinh tế, chức
năng tạo tiền được thực hiện trên cơ sở hai chức năng khác của NHTM: là chức
năng tín dụng và chức năng thanh toán, thông qua chức năng trung gian tín dụng,
ngân hàng sử dụng số vốn huy động được để cho vay, số tiền cho vay ra lại được
khách hàng sử dụng để mua hàng hóa thanh toán dịch vụ. Trong khi số dư trên tài
khoản tiền gửi thanh toán của khách hàng vẫn được coi là một bộ phận của tiền giao
dịch, được họ sử dụng để mua hàng hóa, thanh toán dịch vụ,…Với chức năng này,
hệ thống NHTM đã làm tăng tổng phương tiện thanh toán trong nền kinh tế, đáp
ứng nhu cầu thanh toán, chi trả xã hội, NHTM là một tổ chức tín dụng mà hoạt
động chủ yếu của nó là kinh doanh tiền tệ,…hay có thể nói cách khác, chức năng
tạo tiền tức là chức năng sáng tạo ra bút tệ góp phần gia tăng khối lượng tiền cho
nền kinh tế.
1.1.3 Cơ cấu nguồn vốn của Ngân hàng thương mại
- Vốn tự có: Vốn tự có, còn được gọi là vốn chủ sở hữu, là vốn riêng của một
NHTM. Đây là số vốn ban đầu và được gia tăng không ngừng cùng với quá trình
phát triển của NHTM. Về phương diện quản lý, vốn tự có là số vốn tối thiểu, bắt
buộc một NHTM phải có để được cấp giấy phép kinh doanh, đồng thời là cơ sở để
thu hút các nguồn vốn khác.
- Vốn huy động: là tài sản bằng tiền của các tổ chức và cá nhân mà ngân hàng đang
tạm thời quản lý và sử dụng với trách nhiệm hoàn trả, vốn huy động là nguồn vốn
chủ yếu và quan trọng nhất của bất kỳ một NHTM nào. Chỉ có các NHTM mới
được quyền huy động vốn dưới nhiều hình thức khác nhau.
- Vốn đi vay: Vốn đi vay là nguồn vốn giúp cho các NHTM bổ sung nguồn vốn ngắn
hạn của mình để đảm bảo duy trì hoạt động một cách bình thường. Có thể là vốn đi

quan trọng, vì nó đáp ứng kịp thời và đảm bảo cho hoạt động của ngân hàng diễn ra
một cách liên tục.
Nghiệp vụ sử dụng vốn:
Bao gồm
Nghiệp vụ cho vay: Là nghiệp vụ kinh doanh chủ yếu là tạo khả năng sinh lời
cao cho Ngân hàng. Trong tổng tài sản thì có nghiệp vụ này chiếm tỷ trọng lớn
nhất.
Nghiệp vụ cho vay bao gồm các khoản sinh lời thông qua cho vay ngắn hạn,
trung và dài hạn.
Nghiệp vụ đầu tư tài chính: Các NHTM thực hiện quá trình đầu tư bằng vốn của
mình thông qua các hoạt động hùm vốm, góp vốn, kinh doanh chứng khoán trên thị
trường…với mục đích kiếm lời, phân tán rủi ro qua việc đa dạng hóa các hoạt động
kinh doanh.
1.1.4.2 Các nghiệp vụ khác
Nghiệp vụ trung gian
Là nghiệp vụ của Ngân hàng thực hiện các dịch vụ cho khách hàng qua đó nhận
được các khoản thu dưới hình thức hoa hồng.
NHTM thực hiện các yêu cầu của khách hàng trong giao dịch, thanh toán,
chuyển tiền, thu hộ tư vấn môi giới,…và nhận một khoản thu nhập về việc làm
trung gian đó, xu thế hiện nay các ngân hàng tập trung hoàn thiện các hoạt động
cũng như dịch vụ của mình nhằm không ngừng tăng nhanh tỷ lệ thu từ các dịch vụ
trong tổng nguồn thu của ngân hàng.
Nghiệp vụ ngoại bảng
Là những khoản dùng để phản ánh những tài sản tạm thời để ở Ngân hàng, không
thuộc quyền sở hữu của Ngân hàng. Ngoài ra, các khoản này còn phản ánh một số
chỉ tiêu kinh tế đã được phản ánh ở các tài khoản trong bảng cân đối kế toán của
những đơn vị cần theo dõi để phục vụ yêu cầu quản lý nợ khó đòi đã xử lý, chi tiết
ngoại tệ…
Về nguyên tắc, các tài khoản thuộc loại này đều ghi “đơn” tức là chỉ ghi vào bên
Nợ hoặc bên Có của tài khoản mà không ghi quan hệ đối ứng hoặc giá quy định

1.2.1.2 Tiền gửi có kỳ hạn (TGCKH)
Nhiều khoản thu của doanh nghiệp và các tổ chức xã hội sẽ được chi trả sau một
khoảng thời gian nhất định. TGTT tuy rất thuận tiện trong hoạt động thanh toán
song lãi suất lại thấp, để đáp ứng nhu cầu tăng thu của người gửi tiền Ngân hàng đã
đưa ra hình thức tiền gửi có kỳ hạn. Tiền gửi có kỳ hạn là loại tiền gửi được ủy thác
vào Ngân hàng trên cơ sở có sự thỏa thuận về thời gian rút tiền giữa khách hàng và
Ngân hàng. Như vậy, theo nguyên tắc khách hàng ký thác chỉ được rút tiền ra khi
đến hạn đã thỏa thuận. Tuy nhiên trên thực tế do phải cạnh tranh để thu hút tiền gửi,
các Ngân hàng thường cho phép khách hàng được rút trước hạn. Trong trường hợp
này, có 2 cách để giải quyết: hoặc khách hàng vay tiền của Ngân hàng, sau đó đến
hạn rút tiền thì dùng số tiền và lãi thu được để trả nợ (cả gốc và lãi vay Ngân hàng);
hoặc là thỏa thuận với khách hàng rút tiền ra trước hạn và nhận lãi suất thấp hơn
(đôi khi chỉ được hưởng lãi suất của tiền gửi không kỳ hạn).
Tiền gửi có kỳ hạn là một nguồn vốn tín dụng mang tính chất ổn định, vì mục
đích của người gửi tiền là kiếm lợi chứ không phải là để thanh toán. Do đó, khác
với loại tiền gửi không kỳ hạn yếu tố lãi suất có tác động rất lớn đến loại nguồn vốn
này.
Để tăng cường huy động vốn này, trước hết các Ngân hàng thường đưa ra nhiều
loại thời hạn khác nhau nhằm đáp ứng nhu cầu của khách hàng. Thông thường có
các loại kỳ hạn: 1 tháng, 3 tháng, 6 tháng, 9 tháng Với mỗi loại thời hạn, Ngân
hàng áp dụng một lãi suất tương ứng, với nguyên tắc thời hạn càng dài thì lãi suất
càng cao.
1.2.2 Huy động vốn dưới hình thứ nhận tiền gửi tiết kiệm của dân cư
1.2.2.1 Tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn (TGTK)
Tiền gửi này chủ yếu là nhàn rỗi của dân cư nhưng do nhu cầu chi tiêu không xác
định được trước nên khách hàng chỉ gửi không kỳ hạn, nghĩa là có thể rút ra bất cứ
lúc nào.
Loại tiền gửi này lãi suất thấp nguyên nhân giống như tiền gửi không kỳ hạn.
Khi khách hàng đến gửi tiết kiệm không kỳ hạn thì Ngân hàng phải mở sổ theo
dõi. Khi khách hàng có nhu cầu chi tiêu có thể rút một phần trên số tiền tiết kiệm,

cấp. CDs là công cụ mang lãi suất, lãi suất của nó được tính toán trên cơ sở 360
ngày và được trả theo mệnh giá và thời hạn.
Lãi suất của CDs được tính dựa trên lãi suất của thị trường tiền tệ, tình trạng tài
chính của Ngân hàng phát hành ra nó và thời hạn thanh toán CDs. Mức lãi suất của
CDs do Ngân hàng có chất lượng cao phát hành thường cao hơn lãi suất của tín
phiếu kho bạc, sự chênh lệch này phản ánh mức độ chênh lệch và rủi ro của từng
Ngân hàng. Sự phát triển của CDs cùng với sự nhạy cảm của lãi suất giúp các
NHTM chủ động trong việc huy động vốn và thích ứng với môi trường cạnh tranh
mới.
- Trái phiếu: Là một chứng thư xác nhận một khoản nợ của tổ chức phát hành đối
với người sở hữu, trong đó cam kết sẽ hoàn trả nợ kèm lãi trong một thời hạn nhất
định. Thông qua phát hành trái phiếu sẽ thu hút được nguồn trung và dài hạn để cho
vay mở rộng sản xuất kinh doanh và đầu tư. Việc phát hành trái phiếu sẽ thu hút
được lượng tiền ổn định trong dài hạn do vậy phát hành trái phiếu chỉ được thực
hiện khi Ngân hàng thực sự cần một lượng vốn lớn hoặc khi Ngân hàng đã có kế
hoạch sử dụng vốn để cho vay trung và dài hạn.
- Kỳ phiếu: Là chứng chỉ huy động vốn có mục đích, có thời hạn, có lãi suất
tương ứng với từng loại kỳ hạn hoặc phương thức trả lãi trước hoặc sau. Đây là giấy
tờ có giá ngắn hạn nghĩa là Ngân hàng sẽ có được nguồn vốn chủ động với tính chất
ổn định cao nhưng chi phí mà Ngân hàng bỏ ra cũng lớn. Do vậy, Ngân hàng phải
có chính sách huy động vốn linh hoạt để đảm bảo nguồn vốn cho hoạt động kinh
doanh trong ngắn hạn cũng như dài hạn.
1.2.4 Huy động vốn bằng các hình thức khác

Vay TCTD khác: Trong quá trình hoạt động Ngân hàng có thể vay TCTD khác
thông qua thị trường tiền tệ liên Ngân hàng. Chi phí của nguồn vốn này thường cao
và thời gian sử dụng thường ngắn. Các Ngân hàng cho nhau vay dưới các hình thức:
vay qua đêm, vay kỳ hạn, hợp đồng gia hạn

Vay Ngân hàng nhà nước: NHNN cho NHTM vay dưới hình thức chiết khấu

động, kỳ hạn huy động và phản ánh rõ ràng chính xác loại tiền gửi để từ đó có thể
phục vụ cho vay sinh lãi cho Ngân hàng.
Kế toán huy động vốn phục vụ đắc lực trong công việc chỉ đạo chấp hành chính
sách tiền tệ của Đảng và Nhà nước trong nền kinh tế thị trường, với cơ chế huy
động như hiện nay Ngân hàng là cơ quan chuyên môn được giao nhiệm vụ tổ chức
thực hiện chính sách tiền tệ, Ngân hàng đã áp dụng mức lãi suất hấp dẫn đối với các
thành phần kinh tế góp phần làm bình ổn tình hình tài chính hiện nay. Thực hiện tốt
công tác huy động, làm tham mưu đắc lực cho công tác tín dụng để tín dụng thực sự
trở thành đòn bẩy cũng như giám đốc bằng tiền với toàn bộ hoạt động trong nền
kinh tế.
1.3.2 Nhiệm vụ của kế toán nghiệp vụ huy động vốn
Kế toán huy động là công việc tính toán, ghi chép một cách đầy đủ, chính xác, kịp
thời các kỳ hạn huy động, trả lãi, theo dõi loại tiền gửi trên cơ sở đó bảo đảm hiệu
quả tài sản nợ của Ngân hàng và cung cấp thông tin cần thiết cho việc quản lí và
điều hành nghiệp vụ huy động vốn.
- Nhiệm vụ bảo vệ tài sản của khách hàng đối với kế toán huy động rất nặng nề bởi
tài sản huy động chủ yếu dưới dạng tiền tệ, vàng nếu sơ suất trong quá trình huy
động sẽ gây ra rủi ro rất lớn, vì vậy kế toán huy động phải thực hiện tốt nhiệm vụ
của mình để nâng cao chất lượng nghiệp vụ.
- Kiểm tra và xác định tính hợp pháp, hợp lệ của các chứng từ đảm bảo hình thức huy
động vốn là phù hợp.
1.4 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN CỦA KẾ TOÁN NGHIỆP VỤ HUY ĐỘNG
VỐN CỦA CÁC TỔ CHỨC CÁ NHÂN TRONG NƯỚC
1.4.1 Hồ sơ chứng từ huy động vốn của các tổ chức của các tổ chức cá
nhân trong nước
Chứng từ kế toán là những giấy tờ đảm bảo về mặt pháp lý các khoản phải trả
của Ngân hàng. Mọi sự tranh chấp về các khoản trả nợ đều phải giải quyết trên cơ
sở các chứng từ kế toán tiền gửi, đối với thành phần tổ chức kinh tế các nhân trong
nước sử dụng các loại chứng từ gốc và chứng từ ghi sổ như sau:
Chứng từ gốc: Là những căn cứ quan trọng để tính toán và hạch toán toàn bộ số

Sơ đồ 1.3: Ghi chép sổ sách kế toán
1.4.2 Tài khoản dùng trong kế toán huy động tiền gửi tiết kiệm
1.4.2.1 Tài khoản 42 : Tiền gửi của khách hàng
421: Tiền gửi của khách hàng trong nước bằng VND
4211: TGTT
4212: TGTTCKH
4214: TG vốn chuyên dùng
422: Tiền gửi khách hàng trong nước bằng ngoại tệ
423: TGTK bằng đồng Việt Nam
424: TGTK bằng ngoại tệ và vàng
Các tài khoản trên dùng để phản ánh tiền gửi tiết kiệm bằng VND, bằng ngoại tệ
và vàng tại các TCTD.
TK 42
Số tiền KH lấy ra
Số tiền KH gửi vào
Nội dung các tài khoản trên:


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status