Khóa luận tốt nghiệp: Công tác kế toán huy động vốn tại ngân hàng thương mại cổ phần công thương việt nam chi nhánh Kiên Giang - Pdf 15

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
ĐỀ TÀI:
CÔNG TÁC KẾ TOÁN HUY ĐỘNG VỐN
TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN
CÔNG THƯƠNG VIỆT NAM
CHI NHÁNH KIÊN GIANG

NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN
………ngày….tháng….năm 2014
Chữ ký
2
NHẬN XÉT CỦA ĐƠN VỊ THỰC TẬP
Rạch Giá, ngày….tháng….năm 2014
Chữ ký
3
!
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

Tên viết tắt Ý nghĩa
- ATM Automatic teller machine
- CDs Certificate of deposit
- DNVVN Doanh nghiệp vừa và nhỏ
- GTCG Giấy tờ có giá
- KH Khách hàng
- NHCTVN Ngân hàng Công Thương Việt Nam
- NHNN Ngân hàng nhà nước
- NHNNVN Ngân hàng nhà nước Việt Nam
- NHTM Ngân hàng thương mại
- NHTW Ngân hàng trung ương
- TCTD Tổ chức tín dụng
- TK Tài khoản

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
7
LỜI MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trong tình hình kinh tế hiện nay, cạnh tranh là để tồn tại và phát triển. Đặc biệt,
kể từ khi đất nước ta trở thành thành viên chính thức của tổ chức thương mại thế
giới WTO, cùng với sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, vấn đề này càng diễn
ra gay gắt hơn khi có sự gia nhập của nhiều quốc gia trên thế giới trong nhiều lĩnh
vực kinh doanh đặc biệt là ngành Ngân hàng. Các Ngân hàng nước ngoài được
thành lập Chi nhánh ở nước ta vì họ thấy nước ta có nhiều tiềm năng để phát triển,
đây cũng vừa là cơ hội, là thách thức đòi hỏi Ngân Hàng phải tự phấn đấu, nỗ lực
cải thiện tốt hơn để đứng vững trên trường quốc tế.
Đã từ lâu, Ngân hàng thương mại đóng vai trò thực sự quan trong trong đời sống
kinh tế. Có thể nói, Ngân hàng là mạch máu của nền kinh tế đã và đang đóng góp
một phần không nhỏ vào sự phát triển của nền kinh tế, phúc lợi xã hội cũng như
đảm nhận vai trò cung ứng về vấn đề tài chính cho xã hội.
Ngày nay, ngành Ngân hàng đang thay đổi để phù hợp với nhu cầu chung của
toàn thế giới, sự sáp nhập, hợp nhất của nhiều Ngân hàng với nhau nhanh hơn
những gì chúng ta suy nghĩ buộc các nhà quản lý phải vạch ra những hướng đi tốt
nhất cho Ngân hàng hoạt động làm sao để đạt hiệu quả cao nhất.Với bất kỳ doanh
nghiệp nào, vốn là một trong các yếu tố đầu vào cơ bản trong hoạt động sản xuất
kinh doanh. Đối với Ngân hàng thương mại - tổ chức kinh doanh tiền tệ mà hoạt
động chủ yếu và thường xuyên là nhận tiền gửi của khách hàng và cho vay thì vai
trò của nguồn vốn càng trở nên đặc biệt quan trọng. Trong khi chưa khai thác được
số lượng lớn tiền nhàn rỗi trong các tổ chức kinh tế và dân cư, nhiều Ngân hàng vẫn
đang phụ thuộc vào vốn vay, kể cả của các Ngân hàng nước ngoài để đáp ứng cho
nhu cầu tăng trưởng tài sản vì vậy, chi phí nguồn vốn cao sự ổn định, hiệu quả kinh
doanh thấp và chưa phát huy nội lực để phát triển một cách vững chắc. Do vậy, hoạt
động huy động vốn của mỗi Ngân hàng luôn là yếu tố hết sức quan trọng trong quá
trình cạnh tranh. Gắn liền với hoạt động đó là công tác kế toán nghiệp vụ huy động

- Số liệu được thu thập từ phòng Tổng hợp của Ngân hàng TMCP Công Thương Việt
Nam – Chi nhánh Kiên Giang.
- Các văn bản kế toán
+ Hệ thống tài khoản kế toán
+ Bảng kết quả hoạt động kinh doanh, bảng cân đối kế toán
+ Bảng liệt kê chứng từ giao dịch trong ngày của PGD số 4
Ngoài ra, thông tin còn được thu thập từ các giáo trình, các bài nghiên cứu trên
sách báo, tạp chí có liên quan đến đề tài nghiên cứu.
Sử dụng phương pháp phân tích số liệu và các phương pháp khác.
5. Kết cấu khóa luận
- Lời mở đầu
- Chương I: Cơ sở lý luận về tổ chức công tác kế toán và nghiệp vụ kế toán huy động
vốn trong hệ thống Ngân hàng
- Chương II: Thực trạng tình hình huy động vốn tại Ngân hàng TMCP Công Thương
Việt Nam – Chi nhánh Kiên Giang
- Chương III: Kiến nghị
- Kết luận
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TỔ CHỨC CÔNG TÁC KẾ TOÁN VÀ
NGHIỆP VỤ KẾ TOÁN HUY ĐỘNG VỐN TRONG HỆ THỐNG
NGÂN HÀNG
1.1 TỔNG QUAN VỀ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1.1 Khái niệm về Ngân hàng thương mại
Cho đến thời điểm hiện nay có rất nhiều khái niệm về NHTM:
- Ở Mỹ: Ngân hàng thương mại là công ty kinh doanh tiền tệ, chuyên cung cấp dịch
vụ tài chính và hoạt động trong ngành công nghiệp dịch vụ tài chính.
- Đạo luật ngân hàng của Pháp (1941) cũng đã định nghĩa: “Ngân hàng thương mại là
những xí nghiệp hay cơ sở mà nghề nghiệp thường xuyên là nhận tiền bạc của công
chúng dưới hình thức ký thác, hoặc dưới các hình thức khác và sử dụng tài nguyên
đó cho chính họ trong các nghiệp vụ về chiết khấu, tín dụng và tài chính”.

NHTM mà tiền tiết kiệm của các cá nhân, tổ chức được huy động vào quá trình vận
động của nền kinh tế. Nó trở thành “dầu bôi trơn” cho bộ máy kinh tế hoạt động.
NHTM góp phần phân bố hợp lý các nguồn lực giữa các vùng, khu vực, tạo điều
kiện phát triển cân đối nền kinh tế.
NHTM tạo ra môi trường cho việc thực hiện chính sách tiền tệ của NHNN:
Thông qua hoạt động tín dụng và thanh toán giữa các ngân hàng trong hệ thống
NHTM đã trực tiếp góp phần mở rộng khối lượng tiền cung ứng trong lưu thông.
Mặt khác với việc cho các thành phần trong kinh tế vay vốn, NHTM đã thực hiện
việc dẫn dắt các luồng tiền, tập hợp và phân chia vốn của thị trường, điều khiển
chúng một cách có hiệu quả, đảm bảo cung cấp đầy đủ kịp thời nhu cầu vốn cho quá
trình tái sản xuất cũng như thực thi vai trò điều tiết gián tiếp vĩ mô nền kinh tế.
1.1.2.2 Chức năng của Ngân hàng thương mại
 Trung gian thanh toán: Ngân hàng thực hiện chức năng thanh toán khi ngân hàng
thực hiện thanh toán theo yêu cầu của khách hàng như trích một khoản tiền trên tài
khoản tiền gửi để thanh toán tiền hàng hóa dịch vụ hoặc nhập tiền vào tài khoản tiền
gửi của khách hàng, thu từ hoạt động bán hàng hoặc từ các khoản thu khác theo yêu
cầu của họ
Cá nhân và doanh nghiệp Gửi 'ền
Uỷ thác đầu tư
Ngân hàng thương mại Cho vay
Đầu tư
Cá nhân và doanh nghiệp
p
 Trung gian tín dụng: Là chức năng cơ bản được hiểu theo hai khía cạnh.
Ngân hàng thương mại là cầu nối giữa người thừa vốn và người thiếu vốn. Thông
qua việc huy động khai thác các khoản tiền nhàn rỗi trong nền kinh tế, sau đó ngân
hàng hình thành nên các quỹ cho vay và sử dụng các quỹ này để đáp ứng nhu cầu
vay vốn của các chủ thể trong nền kinh tế.
Ngân hàng không phải là trung gian tài chính thuần túy, mà là trung gian tín
dụng, nghĩa là việc thực hiện các nhiệm vụ cụ thể của chức năng này phải theo

hạn của mình để đảm bảo duy trì hoạt động một cách bình thường. Có thể là vốn đi
vay NHNN Việt Nam hoặc vốn đi vay các NHTM và các TCTD khác.
- Vốn khác bao gồm vốn tiếp nhận và vốn khác:
+ Vốn tiếp nhận: là nguồn vốn tài trợ của Chính phủ, của các tổ chức tài chính
tiền tệ, các tổ chức đoàn thể - xã hội để tài trợ cho các chương trình dự án về phát
triển kinh tế - xã hội, cải tạo môi trường sinh thái,…và được chuyển qua NHTM
thực hiện.
+ Vốn khác: Ngoài các nguồn vốn trên, các NHTM còn có các nguồn vốn khác
phát sinh trong quá trình hoạt động như các khoản phải trả, các khoản tiền tạm giữ
theo quyết định của tòa án,…
1.1.4 Các nghiệp vụ của Ngân hàng thương mại
1.1.4.1 Nghiệp vụ tài sản nợ và vốn tự có của NHTM
Đây là nghiệp vụ phản ánh quá trình tạo vốn của NHTM mà cụ thể là hình thành
nên nguồn vốn của NHTM. Nguồn vốn của NHTM bao gồm:
Nghiệp vụ huy động vốn:
- Vốn huy động là công cụ chính đối với các hoạt động kinh doanh của các NHTM.
Nó là nguồn vốn chiếm tỷ trọng cao nhất trong tổng nguồn vốn của Ngân hàng và
giữ vị trí quan trọng trong hoạt động kinh doanh của Ngân hàng. Mặc dù bị giới hạn
về mức huy động vốn, xong nếu các NHTM sử dụng tốt nguồn vốn này thì
không những nguồn lợi của Ngân hàng tăng mà còn tạo cho Ngân hàng uy tín ngày
càng cao. Nguồn vốn huy động của Ngân hàng bao gồm:
- Nhận tiền gửi của cá nhân, tổ chức trong xã hội, đây là nguồn tiền chiếm tỉ lệ chủ
yếu trong cơ cấu nguồn vốn huy động của Ngân hàng.
- Phát hành giấy tờ có giá: nghiệp vụ này được thực hiện mang tính chất thời vụ, nó
phát sinh khi có nhu cầu về vốn cần thiết cho hoạt động kinh doanh của ngân hàng
nhằm thu hút các khoản vốn trong dài hạn để đầu tư vào nền kinh tế. Bao gồm: kỳ
phiếu ngân hàng, trái phiếu ngân hàng, chứng chỉ tiền gửi.
- Ngoài ra, Ngân hàng cũng có thể đi vay: trong quá trình kinh doanh đôi khi NHTM
cũng lâm vào tình trạng thiếu hụt vốn tạm thời để đáp ứng nhu cầu thanh toán chi
trả hay nhu cầu vay vốn của khách hàng, NHTM có thể vay NHTW, vay các tổ

Nợ hoặc bên Có của tài khoản mà không ghi quan hệ đối ứng hoặc giá quy định
trong biên bản giao nhận, trong hóa đơn, chứng từ. Tài sản nhận giữ hộ, tài sản gán
nợ, xiết nợ chờ xử lý…
1.2 CÁC HÌNH THỨC HUY ĐỘNG VỐN CỦA NHTM
Do NHTM huy động theo phương thức “đi vay để cho vay” mà vốn tự có của
Ngân hàng chỉ chiếm một tỷ trọng rất nhỏ trong tổng nguồn vốn hoạt động. Do vậy,
để có thể tồn tại và phát triển, NHTM phải quan tâm tới các hình thức tạo vốn để
không ngừng mở rộng, phát triển vốn để cạnh tranh thị trường. Quá trình huy động
vốn được thực hiện thông qua các hình thức sau:
1.2.1 Huy động vốn dưới hình thức tiền gửi
1.2.1.1 Tiền gửi thanh toán (TGTT)
Tiền gửi thanh toán của doanh nghiệp hoặc cá nhân: Đây là khoản tiền mà khách
hàng gửi vào Ngân hàng nhờ Ngân hàng giữ hộ và thanh toán hộ. Trong phạm vi số
dư cho phép, các nhu cầu chi trả của doanh nghiệp và cá nhân đều được Ngân hàng
thực hiện. Các khoản thu của Ngân hàng, cá nhân đều có thể được nhập vào tiền gửi
thanh toán theo yêu cầu. Nhìn chung, đây là một khoản huy động có lãi suất thấp vì
Ngân hàng không chủ động trong công tác cho vay. Mặt khác, loại tiền gửi thanh
toán này Ngân hàng phải thường xuyên thu và chi trả theo yêu cầu của khách hàng
nên tốn kém chi phí và kiểm đếm, bảo quản , thay vào đó chủ tài khoản được
hưởng các dịch vụ Ngân hàng với mức phí thấp.
Mặc dù, đối với TGTT, người gửi có thể rút ra hoặc gửi vào bất cứ lúc nào, song
giữa việc gửi và rút ra có sự chênh lệch nhất định về thời gian và số lượng, nên các
loại tài khoản này luôn có số dư. Ngân hàng có thể huy động số dư đó làm nguồn
vốn tín dụng để cho vay. Một số Ngân hàng kết hợp tài khoản TGTT với tài khoản
cho vay như cho vay thấu chi – chi trội trên số dư của tài khoản TGTT. Một số
Ngân hàng sử dụng nhiều hình thức “ biến tướng” của tài khoản thanh toán để nâng
lãi suất của loại tiền gửi này lên nhằm cạnh tranh với các TCTD khác.
Bên cạnh đó các Ngân hàng có thể huy động vốn thông qua tài khoản tiền gửi
thanh toán của các Ngân hàng khác, nhằm mục đích nhờ thanh toán hộ và một số
mục đích khác, NHTM có thể gửi tiền tại Ngân hàng khác. Tuy nhiên quy mô của

dõi. Khi khách hàng có nhu cầu chi tiêu có thể rút một phần trên số tiền tiết kiệm,
sau khi xuất trình các giấy tờ hợp lệ, Ngân hàng rút số dư trên sổ tiết kiệm không kỳ
hạn và trả lại cho khách hàng.
Đối với gửi tiền tiết kiệm không kỳ hạn lãi được nhập vốn và thường tính lãi theo
nhóm ngày gửi tiền. Còn đối với tiền gửi thanh toán thì lãi nhập vốn vào cuối tháng
dương lịch.
1.2.2.2 Tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn (TGTKCKH)
Tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn có thể được phân thành nhiều loại: kỳ hạn 3 tháng, 6
tháng…Khách hàng gửi tiết kiệm định kỳ thì được Ngân hàng cấp sổ tiết kiệm
Về nguyên tắc khách hàng chỉ được rút vốn khi đến hạn. Nếu rút trước hạn phải
được sự đồng ý của Ngân hàng và chỉ được hưởng lãi bằng mức lãi suất của tiền gửi
tiết kiệm không kỳ hạn hoặc không được hưởng lãi nếu gửi có kỳ hạn mà rút ra
chưa được một tháng.
Khi đến kỳ hạn nếu không có ý kiến của khách hàng thì Ngân hàng không được
tự động thêm một kỳ mới, trừ trường hợp suốt định kỳ tiếp theo khách hàng cũng
không đến rút lãi, rút vốn thì mặc nhiên Ngân hàng phải nhập lãi vào vốn để tính lãi
kép cho khách hàng (lãi sinh ra lãi). Vấn đề này được các TCTD vận dụng theo đặc
điểm riêng.
Các loại tiền gửi tiết kiệm khác
Ngoài 2 loại tiền gửi thanh toán và tiền gửi tiết kiệm hầu hết các NHTM đều có
thể thiết kế những loại tiền gửi tiện ích, tiết kiệm có thưởng, tiết kiệm an khang với
nét đặc trưng riêng nhằm làm cho sản phẩm của mình luôn được đổi mới theo yêu
cầu của khách hàng và tạo ra rào cản dị biện để chống lại sự bắt chước của các đối
thủ cạnh tranh.
1.2.3 Huy động vốn bằng hình thức phát hành giấy tờ có giá
Các giấy tờ có giá là các công cụ do Ngân hàng phát hành để huy động vốn trên
thị trường. Thông qua nhiều loại khác nhau.
- Chứng chỉ tiền gửi (CDs):
CDs là công cụ vay nợ do NHTM bán cho người gửi tiền với lãi suất nhất định
và được lưu thông khi chưa đến hạn thanh toán. Người sở hữu CDs có thể được

TGTT
TGCKH
ổn định cao nhưng chi phí mà Ngân hàng bỏ ra cũng lớn. Do vậy, Ngân hàng phải
có chính sách huy động vốn linh hoạt để đảm bảo nguồn vốn cho hoạt động kinh
doanh trong ngắn hạn cũng như dài hạn.
1.2.4 Huy động vốn bằng các hình thức khác

Vay TCTD khác: Trong quá trình hoạt động Ngân hàng có thể vay TCTD khác
thông qua thị trường tiền tệ liên Ngân hàng. Chi phí của nguồn vốn này thường cao
và thời gian sử dụng thường ngắn. Các Ngân hàng cho nhau vay dưới các hình thức:
vay qua đêm, vay kỳ hạn, hợp đồng gia hạn

Vay Ngân hàng nhà nước: NHNN cho NHTM vay dưới hình thức chiết khấu
giấy tờ có giá. Chi phí của nguồn vốn này cao hay thấp phụ thuộc vào chính sách
tiền tệ của NHNN.
Các NHTM có thể huy động các nguồn khác như: Tiền gửi ký quỹ, tiền gửi đảm
bảo thanh toán, tiền tạm giữ, tiền đang chuyển, các khoản khác
Hình thức huy động vốn được khái quát trong sơ đồ sau:
Sơ đồ 1.2 : Các hình thức huy động vốn
1.3 VAI TRÒ VÀ NHIỆM VỤ CỦA KẾ TOÁN HUY ĐỘNG VỐN Ở
NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.3.1 Vai trò của kế toán nghiệp vụ huy động vốn
Kế toán huy động vốn giữ một vị trí quan trọng trong toàn bộ nghiệp vụ kế toán
của Ngân hàng, nó được xác định là nghiệp vụ kế toán phức tạp bởi lẽ trong bảng
cân đối cho thấy hoạt động huy động vốn chiếm phần lớn trong tổng tài sản nợ của
Ngân hàng nghĩa là kế toán huy động vốn tham gia vào quá trình sử dụng vốn –
hoạt động cơ bản của Ngân hàng.
Có thể nói rằng nghiệp vụ huy động là nghiệp vụ cơ bản, quan trọng và là nghiệp
vụ hàng đầu của các NHTM. Để cho nghiệp vụ này có hiệu quả, năng suất và chất
lượng thì công tác kế toán huy động vốn góp phần không nhỏ qua việc phản ánh

Chứng từ gốc: Là những căn cứ quan trọng để tính toán và hạch toán toàn bộ số
tiền gửi và trả lãi cho khách hàng. Bao gồm đơn xin mở tài khoản nếu khách hàng
gửi tiền với loại hình tiền gửi thanh toán không kỳ hạn như: Sổ tiết kiệm, giấy
CMND hoặc hộ chiếu còn thời hạn hiệu lực, giấy ủy quyền
Ngoài ra, còn có các giấy cam kết không rút vốn trước hạn (nếu khách hàng gửi
tiền theo loại hình huy động có kỳ hạn có dự thưởng ).
Chứng từ ghi sổ: Là những chứng từ dùng trong thanh toán như: Séc lĩnh tiền
mặt, giấy lĩnh tiền mặt, giấy rút tiền kiêm lệnh điều tiền Các chứng từ thanh toán
không dùng tiền mặt như: ủy nhiệm chi, séc thanh toán trong trường hợp gửi tiền
bằng chuyển khoản.
Đối với hình thức huy động tiền gửi có kỳ hạn, khi huy động không phải lập giấy
đề nghị mở tài khoản chỉ phải ký vào giấy gửi tiền tiết kiệm thì tính pháp lí của các
khoản tiền gửi được thể hiện ngay trên chứng từ thu tiền mặt hay chuyển
khoản cũng như hàng tháng tiến hành đối chiếu xác nhận tài sản nợ theo số dư các
tài khoản tiền gửi của khách hàng theo hạn mức trên sổ hạch toán chi tiết.
Các giấy tờ trong huy động vốn đòi hỏi phải có đầy đủ tính pháp lí được thể hiện
trên các chứng từ kế toán huy động vốn là yếu tố xác định thẩm quyền chủ thể gửi
tiền tại Ngân hàng, chỉ rõ người chủ tài khoản tiền gửi và kỳ hạn gửi để từ đó có thể
chi trả gốc và lãi theo đúng hạn cho khách hàng.
Cán bộ kế toán huy động vốn là người chịu trách nhiệm thực hiện công việc:
kiểm tra hồ sơ gửi tiền theo danh mục quy định, hướng dẫn khách hàng mở tài
khoản gửi tiền, làm thủ tục gửi tiền theo lệnh của Tổng Giám Đốc hoặc người được
ủy quyền, hạch toán nghiệp vụ huy động, trả gốc và lãi, lưu giữ hồ sơ theo quy định.
Chứng từ ghi sổ
Bảng cân đối số
phát sinh
Sổ quỹChứng từ gốc
Cân đối tài khoản
Sổ phụ chi 'ết
Sổ cái

o 4912: Lãi phải trả cho tiền gửi bằng ngoại tệ
o 4913: Lãi phải trả cho tiền gửi TK bằng đồng VN
o 4914: Lãi phải trả cho TGTK bằng ngoại tệ và vàng
Nội dung TK 491:
Số dư Có: Phản ánh số tiền lãi phải trả dồn tích chưa thanh toán
1.4.2.3 Tài khoản 1011: Tiền mặt tại quỹ
Tài khoản này dùng để hạch toán số tiền mặt tại quỹ nghiệp vụ TCTD.
Số dư Nợ: Phản ánh số tiền mặ hiện có tại quỹ nghiệp vụ của TCTD
1.4.2.4 Tài khoản 801: Trả lãi tiền gửi
Tài khoản này dùng để phản ánh các khoản chi phí về hoạt động tín dụng tại
TCTD.
Nội dung hạch toán:
TK 801
Các khoản chi về hoạt động Mn dụngSố 'ền thu giảm chi về các hoạt động Mn dụng của TCTD
- Chuyển số dư Nợ cuối năm vào tài khoản lợi nhuận năm nay khi quyết toán
- Số dư Nợ: Phản ánh các khoản chi về hoạt động tín dụng trong năm nay
1.4.3 Trình tự ghi sổ kế toán của nghiệp vụ kế toán huy động vốn
Thực hiện theo quy trình luân chuyển chứng từ kế toán Ngân hàng, đảm bảo
nguyên tắc thu tiền trước, ghi sổ sau; ghi nợ trước ghi có sau (nếu là chứng từ
chuyển khoản). Quy trình được thực hiện như sau:
- Khách hàng nộp giấy nộp (gửi) tiền kèm sổ tiết kiệm (nếu nộp tiền vào tài
khoản tiền gửi tiết kiệm) hoặc khách hàng nhận các chứng từ thanh toán không
dùng tiền mặt từ Ngân Hàng khác chuyển đến như: Bảng kê nộp séc kèm theo tờ
séc, chứng từ uỷ nhiệm thu - uỷ nhiệm chi…
- Bộ phận kế toán giữ tài khoản của khách hàng kiểm tra tính hợp lệ, hợp pháp
của các yếu tố trên chứng từ sau đó chuyển sang bộ phận kiểm soát viên.
- Kiểm soát viên là kiểm soát tiền mặt (nếu nộp tiền mặt), kiểm soát chuyển
khoản (nêu nộp chứng từ chuyển khoản), kiểm soát chứng từ, ký và chuyển sang
thủ quỹ (nếu nộp tiền mặt), chuyển sang thủ quỹ hoặc thanh toán viên ghi nợ (nếu
thanh toán cùng Ngân hàng) kế toán thanh toán (nếu thanh toán khác Ngân Hàng).


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status