TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
KHOA KINH TẾ NGOẠI THƯƠNG
CHUYÊN NGÀNH KINH TẾ ĐỐI NGOẠI KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP
Đề tài:
GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ HUY
ĐỘNG VỐN CỦA NGÂN HÀNG NGOẠI
THƯƠNG VIỆT NAM
Sinh viên thực hiện : CAO PHƯƠNG LIÊN
Lớp : Anh 4 K41- KTNT
Giáo viên hướng dẫn : PGS.TS NGUYỄN NHƯ TIẾN
Hà Nội, 11/2006
2
Nhƣ vậy, có thể nói huy động vốn không phải là vấn đề mới nhƣng
luôn là vấn đề sống còn trong hoạt động ngân hàng và là vấn đề cấp thiết đối
với Ngân hàng Ngoại thƣơng Việt Nam. Xuất phát từ thực tế đó, ngƣời viết đã
lựa chọn đề tài “ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ HUY ĐỘNG VỐN
CỦA NGÂN HÀNG NGOẠI THƢƠNG VIỆT NAM ” để làm đề tài
nghiên cứu cho khoá luận của mình.
2 - Mục đích nghiên cứu
Khóa luận tập trung nghiên cứu, tìm hiểu, phân tích thực trạng hoạt
động huy động vốn tại Ngân hàng Ngoại thƣơng Việt Nam trong thời gian
qua, tìm ra những ƣu điểm và những vƣớng mắc còn tồn tại trong hoạt động
huy động vốn, từ đó đề ra một số giải pháp nâng cao hiệu quả huy động vốn
cho Ngân hàng Ngoại thƣơng Việt Nam trong thời gian tới.
3 - Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Khoá luận nghiên cứu những vấn đề lý luận cơ bản và thực tiễn về hoạt
động huy động vốn tại Ngân hàng Ngoại thƣơng Việt Nam trong giai đoạn
2001 - 2005.
4 - Phƣơng pháp nghiên cứu
Khoá luận sử dụng tổng hợp nhiều phƣơng pháp nghiên cứu khác nhau
nhƣ phƣơng pháp tổng hợp và phân tích, phƣơng pháp thống kê, liệt kê, so
sánh và đối chiếu làm cơ sở phân tích và kết hợp những kết quả thống kê với
việc vận dụng lý thuyết để làm sáng tỏ vấn đề nghiên cứu. Mặt khác, ngƣời
viết còn sử dụng các chính sách, đƣờng lối của Đảng và Nhà nƣớc nói chung
cũng nhƣ Ngân hàng Nhà nƣớc nói riêng để khái quát một cách hệ thống và
khẳng định kết quả mang lại.
5 - Bố cục của khoá luận
Ngoài lời mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, khoá luận đƣợc trình
bày trong 3 chƣơng:
4
CHƢƠNG I
VÀI NÉT VỀ VỐN VÀ HOẠT ĐỘNG HUY ĐỘNG VỐN
CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI
I. SƠ LƢỢC VỀ NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI
1. Khái niệm và vai trò của NHTM
Khái niệm NHTM
Lịch sử hình thành và phát triển của hệ thống ngân hàng gắn liền với sự
phát triển của nền sản xuất hàng hoá. Quá trình phát triển kinh tế là điều kiện
và đỏi hỏi sự phát triển của NH; đến lƣợt mình, sự phát triển của hệ thống NH
trở thành động lực thúc đẩy phát triển kinh tế.
Trong nền kinh tế thị trƣờng, thị trƣờng tài chính và các trung gian tài
chính thực hiện chức năng lƣu thông vốn từ những nơi, những cá nhân có vốn
nhàn rỗi đến những cá nhân, tổ chức cần vốn cho các hoạt động của mình.
Trong các kênh dẫn vốn đó thì hệ thống NH đóng vai trò chủ đạo cả về quy
mô lẫn nghiệp vụ.
NH là một trong các tổ chức tài chính quan trọng nhất của nền kinh tế.
NH bao gồm nhiều hình thức tuỳ thuộc vào sự phát triển của nền kinh tế nói
chung và hệ thống tài chính nói riêng, trong đó NHTM thƣờng chiếm tỷ trọng
lớn nhất về quy mô và số lƣợng các NH.
Khi nghiên cứu về NHTM, các nhà kinh tế học, các tổ chức tài chính đã
đƣa rất nhiều khái niệm về NHTM. Theo Fredic Miskin thì “ Ngân hàng
Thƣơng mại là một trung gian tài chính, các trung gian tài chính này thu hút
vốn bằng cách phát hành: tiền gửi có thể phát séc (tiền gửi không kì hạn), các
tiền gửi tiết kiệm (là các món tiền gửi có kì hạn thanh toán định trƣớc), sau đó
họ dùng vốn vay này để thực hiện cho vay: cho vay thƣơng mại, cho vay tiêu
dùng, cho vay thế chấp và để mua các chứng khoán của chính phủ, các chứng
khoán của chính quyền địa phƣơng.”
động này giúp đẩy nhanh tốc độ quay vòng vốn, nâng cao hiệu quả sản xuất 6
kinh doanh. Tình hình hoạt động của NH phản ánh rất chính xác mức độ phát
triển của nền kinh tế. Do vậy, NH có vai trò quan trọng trong sự phát triển của
nền kinh tế, cụ thể nhƣ sau:
- Vai trò trung gian: NHTM với hoạt động huy động vốn và cho vay
đã nâng cao hiệu quả sử dụng vốn trong nền kinh tế. Nói cách khác, NHTM là
cầu nối giữa những ngƣời tạm thời dƣ thừa vốn và những ngƣời đang cần vốn
bổ sung cho tiêu dùng hay đầu tƣ. Với các hoạt động này, NHTM thực sự
đem lại lợi ích trọn vẹn và đầy đủ cho cả ngƣời có vốn, ngƣời cần vốn, cho cả
nền kinh tế xã hội và cho cả bản thân các tổ chức tài chính trung gian. Hoạt
động với tƣ cách là một trung gian tài chính, NHTM đã có những tác động
tích cực đối với nền kinh tế nhƣ: NHTM đáp ứng đầy đủ, chính xác và kịp
thời yêu cầu giữa ngƣời cần vốn và ngƣời có vốn do sự chuyên môn hoá và
thành thạo trong nghiệp vụ; NHTM cũng góp phần giảm bớt những chi phí,
thông tin và giao dịch cho mỗi cá nhân, tổ chức và toàn bộ nền kinh tế.
- Vai trò thanh toán: Ngày nay, NH đã trở thành trung gian thanh toán
lớn nhất ở hầu hết các quốc gia trên thế giới. Thay mặt khách hàng, NHTM
thanh toán cho việc mua hàng hóa và dịch vụ dƣới nhiều hình thức nhƣ thanh
toán bằng séc, uỷ nhiệm chi, thanh toán bằng L/C, phát triển hệ thống chuyển
tiền điện tử… Ngoài ra, các NH còn thực hiện thanh toán bù trừ với nhau
thông qua hệ thống ngân hàng đại lý. Các hình thức thanh toán đang ngày
càng đƣợc chuẩn hoá góp phần tạo tính thống nhất không chỉ trong thanh toán
nội bộ giữa các ngân hàng trong một quốc gia mà còn giữa các ngân hàng trên
toàn thế giới. Nhƣ vậy, NHTM đã khắc phục đƣợc những bất cập về khoảng
cách địa lý giữa các quốc gia, giúp đẩy nhanh thời gian cũng nhƣ tốc độ
thanhtoán. Kết quả là, quá trình thanh toán đƣợc thực hiện với thời gian và chi
phí hợp lý nhất.
cạnh tranh trên thị trƣờng tài chính. Hoạt động huy động vốn đƣợc ví nhƣ đầu
vào cho quá trình tạo ra các sản phẩm dịch vụ ngân hàng.
Một NHTM có thể sử dụng một trong bốn hình thức huy động vốn sau: 8
- Nhận tiền gửi : NH nhận tiền gửi từ các cá nhân, hộ gia đình, các tổ
chức tín dụng khác dƣới hình thức tiền gửi có kì hạn, không kì hạn và các loại
tiền gửi khác. NH áp dụng các mức lãi suất khác nhau tuỳ theo yêu cầu của
khách hàng đến gửi tiền. Thông thƣờng, thời gian gửi tiền càng dài thì lãi suất
càng cao, tức là tiền gửi theo kỳ hạn năm có lãi suất cao hơn tiền gửi theo kỳ
hạn tháng và tiền gửi không kỳ hạn thƣờng có lãi suất thấp nhất. Tiền gửi
không kỳ hạn cho phép khách hàng có thể rút tiền bất cứ thời điểm nào trong
thời gian giao dịch của ngân hàng.
- Phát hành các giấy tờ có giá : NHTM cũng cũng nhƣ các tổ chức tín
dụng khác, khi đƣợc Thống Đốc NHNN chấp nhận, thì đƣợc phép phát hành
các chứng chỉ tiền gửi, trái phiếu cùng các giấy tờ có giá khác để huy động
vốn từ các cá nhân, tổ chức trong và ngoài nƣớc.
- Vay vốn của TCTD khác : Khi NHTM không đủ vốn để phục vụ
khách hàng và thực hiện hoạt động kinh doanh của mình thì NHTM có thể
vay vốn từ các tổ chức tín dụng trong và ngoài nƣớc.
- Vay vốn của NHNN : Thực chất đây là việc NHTM vay vốn ngắn
hạn từ NHNN dƣới hình thức tái cấp vốn. NHNN thực hiện việc tái cấp vốn
theo các nghiệp vụ sau: cho vay lại theo hồ sơ tín dụng, chiết khấu, tái chiết
khấu thƣơng phiếu và các giấy tờ có giá ngắn hạn khác, cho vay có bảo đảm
bằng việc cầm cố thƣơng phiếu và các giấy tờ có giá ngắn hạn khác (Theo
điều 17, điều 20 Luật NHNN Việt Nam).
Hoạt động tín dụng
Tín dụng là một hoạt động chủ chốt của NHTM để tạo ra tiền. Đây là
nghiệp vụ sinh lời chủ yếu của NH. Chỉ có lãi suất thu từ nghiệp vụ tín dụng
phát hoặc ngƣời đƣợc uỷ quyền giao trực tiếp cho ngƣời thụ hƣởng để thanh
toán tiền hàng hoá dịch vụ hoặc để trả nợ.
- Uỷ nhiệm chi: Uỷ nhiệm chi là lệnh chi tiền của chủ tài khoản giao
trực tiếp cho ngân hàng để thanh toán tiền hàng hoặc dịch vụ đã nhận. Uỷ 10
nhiệm chi đƣợc dùng để thanh toán các khoản hàng hoá và dịch vụ hoặc
chuyển tiền giữa hai đơn vị tín nhiệm lẫn nhau.
- Uỷ nhiệm thu: Uỷ nhiệm thu là chứng từ ngƣời bán nhờ ngân hàng
thu hộ tiền hàng hoá dịch vụ đã cung cấp cho ngƣời mua. Khi nhận đƣợc giấy
uỷ nhiệm thu, ngân hàng bên mua phải trích tài khoản của bên mua để thanh
toán trong một ngày làm việc nếu bên mua không đủ tiền trả thì bên mua sẽ
phải chịu một khoản tiền phạt.
- Thanh toán bằng L/C: là một hình thức thanh toán có bảo đảm của
ngân hàng đối với cả ngƣời mua và ngƣời bán. Ngƣời bán nhận đƣợc tiền nếu
cung cấp hàng hoá, dịch vụ cho ngƣời mua theo đúng hợp đồng. Ngƣời mua
chỉ phải trả tiền khi nhận đƣợc hàng hoá theo đúng hợp đồng.
- Thanh toán bằng thẻ: Đây là một hình thức thanh toán hiện đại có
nhiều tiện ích dựa trên nền tảng công nghệ hiện đại, giúp khách hàng có thể
gửi tiền ở một nơi và rút tiền ở bất kỳ máy rút tiền nào trong hệ thống đƣợc
ATM cho phép. Khách hàng cũng có thể sử dụng thẻ thanh toán để chi trả cho
các dịch vụ hàng ngày của mình.
Ngoài các hoạt động kể trên, NHTM còn thực hiện các hoạt động bảo
lãnh, tài trợ, môi giới…
II. HOẠT ĐỘNG HUY ĐỘNG VỐN CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG
MẠI
1. Vốn và vai trò của vốn trong hoạt động kinh doanh của NHTM
Khái niệm về vốn
Sự phát triển kinh tế luôn gắn liền với vốn. Trong bất cứ thời kỳ phát
trung hạn (thời hạn từ 1 đến 5 năm) và vốn dài hạn (thời hạn trên 5 năm); căn
cứ vào đối tƣợng huy động vốn, vốn gồm có vốn từ dân cƣ, vốn từ các TCKT
và vốn từ thị trƣờng liên NH; căn cứ theo loại tiền có vốn nội tệ và vốn ngoại
tệ; căn cứ vào nguồn gốc của vốn có vốn tự có của NH và vốn huy động từ
các nguồn khác.
Vai trò của vốn đối với hoạt động kinh doanh của NHTM 12
Đối tƣợng kinh doanh của NHTM chính là tiền tệ. NHTM thực hiện
các nghiệp vụ tập trung, huy động vốn; sau đó cho vay, phân bổ lại vốn dƣới
hình thức tiền tệ. Nhƣ vậy, nhìn chung, vốn chi phối toàn bộ các hoạt động và
có vai trò quyết định đối với hoạt động kinh doanh của các NHTM. Vốn có
một số vai trò cơ bản sau trong hoạt động của NHTM.
Vốn là cơ sở để NHTM tổ chức hoạt động kinh doanh
Giống nhƣ bất kì một doanh nghiệp nào khác, NHTM muốn thực hiện
các hoạt động kinh doanh trƣớc hết phải cần có vốn. Vốn phản ánh năng lực
chủ yếu để quyết định khả năng kinh doanh. Riêng đối với NHTM, vốn vừa là
cơ sở, vừa là đối tƣợng kinh doanh chủ yếu của NHTM. NHTM không thể tổ
chức hoạt động kinh doanh một cách hiệu quả nếu không có hoặc thiếu vốn.
Nói cách khác, vốn chính là điều kiện thiết yếu để thành lập và mở rộng quy
mô hoạt động của các NHTM. Những NH có nhiều vốn là NH có nhiều thế
mạnh trong kinh doanh và một NHchỉ có thể tiến hành hoạt động kinh doanh
đạt hiệu quả tối ƣu khi biết kết hợp hài hoà giữa các nguồn vốn với nhau tạo
thành một cơ cấu hợp lý và ổn định.
Vốn có vai trò quyết định đến quy mô hoạt động tín dụng và các hoạt
động khác của NHTM
Vốn của NH có tính chất quyết định đến việc mở rộng hay thu hẹp khối
lƣợng tín dụng, khả năng chi trả, thanh toán cũng nhƣ các hoạt động khác của
NH. Trên thực tế, các NH nhỏ thƣờng có khoản mục đầu tƣ kém đa dạng hơn
hiệu quả, từ đó uy tín của NH đƣợc đảm bảo và nâng cao, tăng vị thế của NH
trên thị trƣờng.
Vốn của NHTM là yếu tố quyết định năng lực cạnh tranh
Trong xu hƣớng toàn cầu hoá, các NHTM ngày càng mở rộng cả về số
lƣợng lẫn quy mô, hệ thống NH trong nƣớc và trên toàn thế giới đang hình
thành và ngày càng đƣợc hoàn thiện hơn. Chính vì vậy trong những năm gần
đây, sức cạnh tranh trên thị trƣờng ngân hàng ngày càng mạnh mẽ và quyết
liệt hơn. Năng lực cạnh tranh là yếu tố quyết định sự tồn tại và phát triển của 14
NH trên thị trƣờng trong nƣớc và quốc tế. Điều này phụ thuộc vào quy mô
vốn, trình độ và phƣơng tiện kỹ thuật hiện đại của NH. Với nguồn vốn dồi
dào, NHTM có khả năng thu hút nhiều khách hàng vay vốn; doanh số hoạt
động cho vay của NH tăng lên nhanh chóng. Đây cũng là điều kiện để bổ
sung thêm vốn chủ sở hữu cho NH. Vốn chủ sở hữu tăng trƣởng sẽ cung cấp
năng lực tài chính cho sự tăng trƣởng và phát triển của các hình thức dịch vụ,
tăng cƣờng cở sở vật chất kỹ thuật và quy mô hoạt động của NH trong mọi
lĩnh vực. Từ đó, NH sẽ thu hút đƣợc tiền gửi từ nhiều khách hàng hơn.
Bên cạnh đó, vốn lớn sẽ giúp NHTM có đủ khả năng tài chính, kinh
doanh đa năng trên thị trƣờng, không chỉ cho vay mà còn mở rộng hình thức
liên doanh, liên kết, dịch vụ thuê mua Chính những hình thức kinh doanh đa
năng này sẽ giúp phân tán rủi ro trong hoạt động kinh doanh, tạo thêm nguồn
vốn và tăng sức cạnh tranh của NHTM trên thƣơng trƣờng.
2. Hoạt động huy động vốn của NHTM
Nhu cầu về vốn trong hoạt động kinh doanh của NHTM
Vốn là điều kiện ban đầu để thành lập NH. Vốn là nguồn tài trợ chính
cho xây dựng trụ sở NH và mua sắm thiết bị.
Với những vai trò cơ bản nhƣ đã nói ở trên, vốn NH có chức năng quan
trọng là chống đỡ rủi ro cho những ngƣời gửi tiền. Do vậy, vốn tối thiểu luôn
hạn hoặc bất cứ khi nào khách hàng có nhu cầu rút vốn.
Hoạt động kinh doanh chủ yếu của NHTM là huy động tối đa các
nguồn vốn trong xã hội để tiến hành cho vay và đầu tƣ nhằm mục đích thu lợi
nhuận. Để gia tăng tiền gửi trong môi trƣờng cạnh tranh và để có đƣợc nguồn
tiền có chất lƣợng ngày càng cao, các NHTM đã đƣa ra và thực hiện nhiều
hình thức nhận tiền gửi khác nhau. Các NHTM tiếp nhận các loại tiền gửi với
khối lƣợng nhiều ít khác nhau, với mọi loại kỳ hạn cơ bản nhƣ sau:
Thứ nhất, tiền gửi thanh toán (tiền gửi giao dịch)
Đây là tiền của các doanh nghiệp hoặc cá nhân gửi vào NH để nhờ NH
giữ và thanh toán hộ. NH mở tài khoản thanh toán cho khách hàng, cho phép 16
khách hàng sử dụng các dịch vụ của NH nhƣ: thẻ, séc Ngày nay, với sự phát
triển mạnh mẽ của dịch vụ NH, với chất lƣợng dịch vụ ngày càng đƣợc nâng
cao, khách hàng ngày càng có xu hƣớng sử dụng dịch vụ NH. Do vậy, các
NHTM có thể huy động đƣợc nguồn vốn khá lớn từ loại tiền gửi này với chi
phí thấp do lãi suất của khoản tiền gửi này nhìn chung là rất thấp. Để thu hút
khách hàng, các NHTM đã đa dạng hoá hình thức tiền gửi này. Một số NH
kết hợp tài khoản tiền gửi thanh toán với tài khoản cho vay (thấu chi - chi trội
trên số dƣ có của tài khoản tiền gửi). Một số ngân hàng sử dụng nhiều hình
thức biến tƣớng của tài khoản thanh toán để nâng lãi suất loại tiền gửi này
nhằm cạnh tranh với các TCTD khác. Tuy nhiên, một điều đáng lƣu ý ở đây là
việc sử dụng nguồn tiền này gặp bất lợi do khách hàng có thể rút bất cứ lúc
nào. Điều này đặt NHTM trƣớc rủi ro thanh khoản. Để sử dụng nguồn vốn
này hiệu quả, NHTM cần nghiên cứu kĩ đặc tính kinh doanh, thu nhập, chi
tiêu của khách hàng để có kế hoạch khai thác nguồn vốn này một cách triệt để.
Thứ hai, tiền gửi có kì hạn của các doanh nghiệp, các tổ chức xã hội
khác
Nhiều khoản thu bằng tiền của doanh nghiệp và các tổ chức xã hội sẽ
động, đƣa ra các hình thức huy động đa năng và lãi suất cạnh tranh hấp dẫn
Thứ tƣ, tiền gửi của các tổ chức tín dụng khác
Nhằm mục đích nhờ thanh toán hộ và một số mục đích khác, NHTM
này có thể gửi tiền tại NHTM khác. Trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế,
một yêu cầu đặt ra phải có hệ thống ngân hàng phát triển mạnh mẽ và liên kết
chặt chẽ với nhau. Theo đó, tuy nguồn vốn này không lớn nhƣng quy mô
nguồn vốn này có xu hƣớng tăng do có sự hình thành và phát triển của hệ
thống liên ngân hàng.
Vay vốn
Khi cần phải đáp ứng thanh toán, chi trả cho khách hàng hay nói rộng
hơn là để phục vụ cho hoạt động kinh doanh, mà vốn tiền gửi đã đƣợc sử
dụng hết thì các NHTM có thể đi vay vốn. Các NHTM huy động vốn vay từ 18
NHNN, từ các NHTM khác, hoặc vay trên thị trƣờng tiền tệ. Vốn vay chỉ
chiếm một tỷ trọng có thể chấp nhận đƣợc trong cơ cấu nguồn vốn, nhƣng nó
rất cần thiết và có vị trí quan trọng để đảm bảo cho ngân hàng hoạt động kinh
doanh một cách bình thƣờng.
2.2.2.1. Vay Ngân hàng Nhà nước
Vay từ NHNN đƣợc gọi là tiền vay chiết khấu hay “ tiền ứng trƣớc ”.
Trong trƣờng hợp thiếu hụt dự trữ, NHTM thƣờng vay vốn từ NHNN. Đây là
khoản vay nhằm giải quyết nhu cầu cấp bách trong chi trả. NHTM dù có hoạt
động hiệu quả đến đâu cũng không hoàn toàn tránh đƣợc những lúc thiếu khả
năng chi trả. Trong trƣờng hợp không huy động đƣợc vốn từ các nguồn khác,
NHNN sẽ là ngƣời cứu cánh cuối cùng của NHTM. Bởi thƣờng vào những
thời điểm NH thiếu vốn thì các NH khác và thị trƣờng cũng đang thiếu vốn.
Hình thức vay vốn NHNN:
- Vay vốn ngắn hạn: là hình thức mà các NHTM xin vay vốn bổ sung
vốn ngắn hạn của mình. Trong hình thức vay này, các NHTM chỉ đƣợc vay
chức tài chính có uy tín trên thị trƣờng. Khả năng vay mƣợn còn phụ thuộc
vào sự phát triển của thị trƣờng tài chính. Mỗi NH cần nghiên cứu kĩ thị
trƣờng để quyết định quy mô, mệnh giá, lãi suất và thời hạn vay mƣợn thích
hợp. Các giấy tờ có giá mà NHTM có thể phát hành là:
- Kỳ phiếu: Kỳ phiếu NH là giấy nhận nợ ngắn hạn (dƣới 12 tháng) do
NH phát hành nhằm huy động vốn trong dân cƣ. Việc phát hành loại giấy nợ
ngắn hạn này chủ yếu để phục vụ cho những kế hoạch kinh doanh nhất định
của NH nhƣ một dự án, một chƣơng trình kinh tế Là công cụ nợ ngắn hạn,
kỳ phiếu có tính lỏng rất cao, dễ dàng chuyển sang tiền mặt hoặc các hình
thức khác. Mệnh giá, loại tiền và phƣơng thức trả lãi đa dạng của kỳ phiếu đã
đáp ứng khá đầy đủ các nhu cầu gửi vốn khác nhau của ngƣời mua. Do tính
chủ động, lãi suất của kỳ phiếu thƣờng đƣợc ấn định một cách hấp dẫn tuỳ
theo mức độ cần thiết về vốn của NH. Chính nhờ những ƣu điểm này mà việc 20
huy động vốn bằng việc phát hành kỳ phiếu là một hình thức khá dễ dàng và
linh hoạt. NH có thể huy động lƣợng vốn cần thiết trong khoảng thời gian tối
ƣu nhất nếu đƣa ra mệnh giá và lãi suất hợp lý cho kỳ phiếu phát hành.
- Trái phiếu: Trái phiếu là một giấy nợ dài hạn của NH với cam kết
thanh toán tiền gốc vào ngày đáo hạn và thanh toán tiền lãi vào những thời
gian xác định với một mức lãi suất xác định tƣơng ứng. Trong điều kiện cạnh
tranh trên thị trƣờng vốn ngày càng cao, các NHTM đang ngày càng đa dạng
hoá các loại trái phiếu nhằm lôi kéo khách hàng để thực hiện thành công kế
hoạch huy động vốn của mình. Trái phiếu đƣợc phân loại theo nhiều tiêu thức
khác nhau. Theo tính chất sở hữu và chuyển nhƣợng có trái phiếu vô danh và
trái phiếu đích danh; theo phƣơng thức trả lãi có trái phiếu trả lãi trƣớc, trái
phiếu trả lãi sau và trái phiếu coupon. Mệnh giá, ngày đáo hạn, lãi suất và
phƣơng thức trả lãi đƣợc ghi rõ trên bề mặt trái phiếu. Các NHTM cũng có
thể phát hành trái phiếu có lãi suất thả nổi để tăng tính hấp dẫn của trái phiếu.
tín dụng, phát triển cơ sở hạ tầng.
Cùng với sự mở rộng hoạt động huy động vốn và cho vay, các NHTM
cũng phải gia tăng vốn chủ sở hữu để đảm bảo tỷ lệ vốn an toàn tối thiểu.
Hiện nay, hầu hết các ngân hàng quốc doanh ở Việt Nam đều chƣa đảm bảo
đƣợc yêu cầu này.
Nguồn hình thành và nghiệp vụ hình thành vốn chủ sở hữu rất đa dạng
tuỳ theo tính chất sở hữu, năng lực tài chính của NHTM và sự phát triển của
thị trƣờng. Sau đây ta sẽ xem xét các nguồn vốn đó:
Nguồn hình thành ban đầu
Đây là nguồn vốn có khi thành lập NHTM. Tuỳ theo hình thức của mỗi
NH mà nguồn gốc hình thành vốn ban đầu khác nhau. Nếu là các NHTM
quốc doanh thì vốn ban đầu sẽ do Nhà nƣớc cấp. Nguồn vốn này sẽ đƣợc huy
động từ các cổ đông thông qua việc bán cổ phần hoặc cổ phiếu nếu là NHTM
cổ phần; hoặc do các bên liên doanh liên kết đóng góp nếu là NH liên
doanh… 22
Nguồn vốn bổ sung trong quá trình hoạt động
Trong quá trình hoạt động, các NHTM gia tăng thêm vốn chủ sở hữu
theo nhiều phƣơng thức khác nhau tuỳ thuộc vào từng điều kiện cụ thể. Các
NHTM có thể gia tăng thêm vốn bằng cách huy động từ các nguồn sau:
- Nguồn từ lợi nhuận giữ lại: Quá trình mở rộng hoạt động kinh doanh
là tất yếu khách quan của bất kì doanh nghiệp nào cũng nhƣ các NHTM nếu
họ muốn tồn tại và phát triển trên thị trƣờng. Nhu cầu này buộc các NHTM
phải luôn nỗ lực tìm ra các giải pháp để huy động đƣợc nguồn vốn tối ƣu
nhằm phát triển hệ thống chi nhánh, nâng cao trang thiết bị, đa dạng hóa các
dịch vụ… Một trong những hình thức huy động hiệu quả đó là việc chủ NH
gia tăng vốn chủ bằng cách chuyển một phần thu nhập ròng thành vốn đầu tƣ
trong điều kiện thu nhập ròng lớn hơn không. Mặc dù lợi nhuận để lại không
Nghiệp vụ này cho phép NH loại bỏ các khoản vay có lãi suất thấp ra khỏi
danh mục, tạo chỗ cho các tài khoản có lãi suất cao hơn khi lãi suất thị trƣờng
tăng. Việc bán các khoản tín dụng và thay thế chúng bằng tài sản có tính
thanh khoản cao hơn nhƣ chứng khoán chính phủ có thể làm tăng khả năng
thanh khoản của NH, đáp ứng tốt hơn nhu cầu rút tiền gửi và chi trả tiền mặt.
Hơn nữa, việc bán các khoản cho vay có thể loại bỏ đƣợc rủi ro tín dụng lẫn
rủi ro lãi suất và NH cũng có thể tạo ra thu nhập ngay lập tức thay vì chờ đợi
các khoản vay đến hạn thanh toán.
Nhƣ vậy bán các khoản cho vay là một hình thức huy động vốn với chi
phí vốn rẻ, lại tăng cƣờng đa dạng hoá đầu tƣ từ đó hạn chế rủi ro cho NH.
Nghiệp vụ này khá phổ biến ở những nƣớc phát triển, nhƣng tại Việt Nam
hoạt động này còn mới mẻ. Bởi đó là nghiệp vụ tƣơng đối rủi ro và để phát
triển nó còn đòi hỏi những điều kiện phát triển nhất của thị trƣờng.
Trên đây là một số hình thức huy động vốn khá phổ biến mà các
NHTM đang áp dụng để gia tăng vốn cho hoạt động kinh doanh của mình.
24
III. CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƢỞNG ĐẾN HOẠT ĐỘNG HUY ĐỘNG
VỐN CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI
1. Nhân tố khách quan
Môi trường kinh tế - chính trị - xã hội
Hoạt động của NH luôn gắn liền với môi trƣờng kinh tế, chính trị, xã
hội. Các chỉ tiêu kinh tế nhƣ tốc độ tăng trƣởng kinh tế, thu nhập bình quân
trên đầu ngƣời, chỉ số lạm phát có ảnh hƣởng trực tiếp đến các hoạt động
của NH, đặc biệt là đối với hoạt động huy động vốn. Xét trên phƣơng diện
tổng thể, nền kinh tế, chính trị ổn định sẽ tạo điều kiện cho các hoạt động kinh
tế phát triển trong đó có hoạt động huy động vốn. Nền kinh tế phát triển dẫn
đến thu nhập của ngƣời dân ngày càng cao; lúc này, ngƣời dân sẽ có “ của ăn