Đánh giá Luật đa dạng sinh học Việt Nam 2008 - Pdf 22

Tiểu luận “Đánh giá Luật đa dạng sinh học Việt Nam 2008” Nhóm: Phương Dung – Lê Hằng – Ánh Hồng – Hà Vân

Trang 1
MỤC LỤC
MỤC LỤC 1
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT 3
I. GIỚI THIỆU 4
1.1 Tính cấp thiết của đề tài 4
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 5
1.3 Nội dung và phạm vi nghiên cứu 5
1.3.1 Nội dung nghiên cứu 5
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu 5
1.4 Phương pháp và đề xuất tiêu chí đánh giá 6
1.4.2 Đề xuất tiêu chí đánh giá 6
II. CƠ SỞ LÝ THUYẾT 7
2.1 Hiện trạng đa dạng sinh học của Việt Nam 7
2.1.1 Định nghĩa đa dạng sinh học (DDSH) 7
2.1.2 Hiện trạng đa dạng của Việt Nam 7
2.2 Các văn bản pháp luật liên quan đến vấn đề đa dạng sinh học Việt Nam 11
III. GIỚI THIỆU LUẬT ĐA DẠNG SINH HỌC VIỆT NAM 13
3.1 Mục tiêu Luật 13
3.2 Nội dung Luật 13
3.3 Kết quả thực hiện 13
IV. ĐÁNH GIÁ VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ LUẬT ĐA
DẠNG SINH HỌC VIỆT NAM 14
4.1 Đánh giá Luật đa dạng sinh học Việt Nam 14
4.1.1 Đánh giá chính sách dựa trên các tiêu chí đã chọn 14
4.1.2 Sử dụng SWOT (Vân) 21


Tiểu luận “Đánh giá Luật đa dạng sinh học Việt Nam 2008” Nhóm: Phương Dung – Lê Hằng – Ánh Hồng – Hà Vân

Trang 3
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

ĐDSH: Đa dạng sinh học
ESA: Endangered Species Act
FWS: The Fish and Wildlife Service
NGOs: Non – Govermental Organizations
TRAFFIC: The international wildlife trade monitoring network


phần sự suy giảm đa dạng sinh học. Bên cạnh đó, diện tích rừng của Việt Nam cũng được
khôi phục, độ phủ rừng đã tăng lên sau những năm 90 từ 27,8% (1990) lên 36,7% (2006).
Đây là điều kiện thuận lợi để phục hồi và phát triển đa dạng sinh học ở Việt Nam.
Tuy nhiên, do được quy định ở nhiều văn bản, nên các quy phạm còn dàn trải, thiếu sự
thống nhất ngoài ra còn có trường hợp mâu thuẫn hoặc trùng lắp và chồng chéo nhau giữa
các Bộ ban ngành như Bộ TN&MT, Bộ Thủy Sản làm cho việc thực thi pháp luật chưa
Tiểu luận “Đánh giá Luật đa dạng sinh học Việt Nam 2008” Nhóm: Phương Dung – Lê Hằng – Ánh Hồng – Hà Vân

Trang 5
được rõ ràng và không đồng nhất trong việc bảo tồn và phát triển bền vững đa dạng sinh
học ở nước ta.

Để khắc phục tình trạng trên Chính phủ đã đề ra nhiều biện pháp, cùng với Luật Đa dạng
sinh học để bảo vệ tốt hơn tài nguyên ĐDSH của đất nước. Tuy nhiên, thực tế đang đặt ra
nhiều vấn đề liên quan đến bảo tồn ĐDSH cần phải giải quyết.
Sau một thời gian áp dụng những chính sách về luật đa dạng sinh học, cần thiết là đánh
giá lại những ưu và nhược điểm trong việc áp dụng Luật đa dạng đối với tài nguyên thiên
nhiên; đồng thời học hỏi những kinh nghiệm của thế giới trong việc quản lý tài nguyên để
áp dụng vào Việt Nam.
Để có cái nhìn tổng quan và hiểu chính xác, từ đó rút ra những đánh giá về thực trạng
cũng như sự hợp lý, những tồn tại của các quy định pháp luật về đa dạng sinh học, chúng
ta cần đi sâu nghiên cứu kỹ hơn về vấn đề “Đánh giá Luật bảo tồn đa dạng sinh học ở
Việt Nam”.
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
Bảo vệ tốt và phát triển bền vững tài nguyên Đa dạng sinh học là cơ sở đảm bảo của quá
trinhg công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, đồng thời tạo nên sự chắc chắn cho phát
triển bền vững của đất nước trong tương lai.

Tiểu luận “Đánh giá Luật đa dạng sinh học Việt Nam 2008” Nhóm: Phương Dung – Lê Hằng – Ánh Hồng – Hà Vân

Trang 7
II. CƠ SỞ LÝ THUYẾT

2.1 Hiện trạng đa dạng sinh học của Việt Nam
2.1.1 Định nghĩa đa dạng sinh học (DDSH)
Theo định nghĩa của Quỹ quốc tế về bào tồn thiên nhiên thì đa dạng sinh học là “sự phồn
thịnh của cuộc sống trến trái đất, là hàng triệu loài động vật, thực vật và vi sinh vật, là
những nguồn gen của chúng và là các hệ sinh thái phức tạp cùng tồn tại trong môi
trường sống” (World Wildlife Fund, 2000).
Các kiểu đa dạng sinh học
Đa dạng sinh học trên trái dất được phân chia theo các kiểu sau:
Bảng 1: Các mức độ đa dạng sinh học
Đa dạng loài

hệ sinh thái ở Việt Nam phần lớn là những hệ sinh thái nhạy cảm với các tác động từ bên
ngoài như tác động của thiên nhiên, đặc biệt là tác động của con người.
Tiểu luận “Đánh giá Luật đa dạng sinh học Việt Nam 2008” Nhóm: Phương Dung – Lê Hằng – Ánh Hồng – Hà Vân

Trang 8
Hệ sinh thái trên cạn
Trên phần lãnh thổ vùng lục địa ở Việt Nam, có thể phân biệt các kiểu hệ sinh thái trên
cạn đặc trưng như: rừng, đồng cỏ, savan, đất khô hạn, đô thị, nông nghiệp, núi đá vôi.
Trong số
đó thì rừng, đặc biệt là rừng tự nhiên với tính chất rừng vùng khí hậu nhiệt đới với nhiều
kiểu thảm thực vật rừng khác nhau, có sự đa dạng về thành phần loài cao nhất. Đồng thời,
đây cũng là nơi cư trú của nhiều loài động vật hoang dã quý, hiếm có giá trị kinh tế và
khoa học. Ngoài ra còn có các hệ sinh thái tự nhiên khác có thành phần loài nghèo hơn,
như hệ sinh thái nông nghiệp và hệ sinh thái khu đô thị.
Hệ sinh thái đất ngập nước nội địa
Hệ sinh thái đất ngập nước nội địa rất đa dạng, bao gồm các thủy vực nước đứng như hồ
tự nhiên, hồ chứa, ao, đầm, ruộng lúa nước, các thủy vực nước chảy như suối, sông, kênh
rạch. Trong đó, có một số kiểu có tính đa dạng sinh học cao như suối vùng núi, đồi, đầm
lầy than bùn với rất nhiều các loài động vật mới cho khoa học đã được phát hiện ở đây.
Các hệ sinh thái sông, hồ ngầm trong hang động Castơ chưa được nghiên cứu đầy đủ.
Hệ sinh thái biển và ven bờ
Theo thống kê, Việt Nam có 20 kiểu hệ sinh thái biển điển hình thuộc 9 vùng phân bố tự
nhiên với đặc trưng đa dạng sinh học biển khác nhau. Trong đó, ba vùng biển, bao gồm:
Móng Cái-Đồ Sơn, Hải Vân-Đại Lãnh và Đại Lãnh-Vũng Tàu có tính đa dạng sinh học
cao hơn các vùng còn lại. Các hệ sinh thái ven bờ như rừng ngập mặn, đầm phá, vụng
biển, vũng biển, rạn san hô, thảm cỏ biển và vùng biển quanh các đảo ven bờ, đảo xa bờ
là những nơi có tính đa dạng sinh học cao đồng thời rất nhạy cảm với biến đổi môi

bệnh cho thực vật, 1.500 loài gây bệnh cho người và gia súc và hơn 700 loài vi sinh vật
có lợi.
Về sinh vật nước ngọt: đã thống kê và xác định được 1.438 loài vi tảo thuộc 259 chi và 9
ngành; trên 800 loài động vật không xương sống; 1.028 loài cá nước ngọt. Trong đó,
đáng chú ý là riêng họ cá chép (Cyprinidae) có 79 loài thuộc 32 giống, 1 phân họ được
coi là đặc hữu ở Việt Nam với 1 giống, 40 loài và phân loài mới cho khoa học.
Trong thành phần động vật không xương sống cỡ lớn, có 10 giống với 52 loài tôm, cua, 4
giống với 50 loài trai, ốc lần đầu tiên được mô tả ở Việt Nam. Điều này thể hiện tính đặc
hữu rất cao của động vật thủy sinh nước ngọt của Việt Nam.
Về sinh vật biển: theo dẫn liệu của chuyên khảo Sinh vật và sinh thái, tập IV trong bộ
chuyên khảo Biển Đông (Viện KH&CN Việt Nam, 2009), đã phát hiện được trên 11.000
loài sinh vật sống trong vùng biển Việt Nam. Trong đó, có khoảng 6.300 loài động vật
đáy; khoảng 2.500 loài cá với trên 100 loài cá kinh tế; 653 loài rong biển; 657 loài động
vật nổi; 537 loài thực vật nổi; 94 loài thực vật ngập mặn; 225 loài tôm biển; 14 loài cỏ
biển; 15 loài rắn biển; 25 loài thú biển; 5 loài rùa biển.
Tiểu luận “Đánh giá Luật đa dạng sinh học Việt Nam 2008” Nhóm: Phương Dung – Lê Hằng – Ánh Hồng – Hà Vân

Trang 10
Bảng : Sự phong phú các loài sinh vật tại Việt Nam

(Nguồn: Báo cáo Quốc gia về đa dạng sinh học, 2011)
c) Ða dạng nguồn gen cây trồng, vật nuôi
Theo đánh giá của Jucovski (1970), Việt Nam là một trong 12 trung tâm nguồn gốc giống
cây trồng của thế giới. Việt Nam với 16 nhóm cây trồng khác nhau bao gồm trên 800
loài. Theo Báo cáo của Bộ Khoa học và Công nghệ, đến năm 2010, Chương trình bảo tồn
nguồn gen đã bảo tồn và lưu giữ được hơn 14.000 nguồn gen của trên 200 loài cây lương
Tiểu luận “Đánh giá Luật đa dạng sinh học Việt Nam 2008”

(2004), Pháp lệnh về giống vật nuôi (2004); Quy chế quản lý an toàn sinh học đối với
sinh vật biến đổi gen, sản phẩm hàng hóa có nguồn gốc từ sinh vật biến đổi gen (kèm
theo Quyết định của Thủ tướng Chính phủ số 212/2005/QĐ-TTg ngày 26/08/2005); Luật
bảo vệ môi trường (2005),…
Và văn bản có hiệu lực nhất, liên quan mật thiết nhất đối với đa dạng sinh học hiện nay là
Luật Đa dạng sinh học số 20/2008/QH 12 do Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa
Việt Nam khóa XII, kỳ họp thứ 4 thông qua ngày 13 tháng 11 năm 2008 và có hiệu lực
Tiểu luận “Đánh giá Luật đa dạng sinh học Việt Nam 2008” Nhóm: Phương Dung – Lê Hằng – Ánh Hồng – Hà Vân

Trang 12
thi hành từ ngày 01 tháng 7 năm 2009. Tiểu luận “Đánh giá Luật đa dạng sinh học Việt Nam 2008” Nhóm: Phương Dung – Lê Hằng – Ánh Hồng – Hà Vân

Trang 13
III. GIỚI THIỆU LUẬT ĐA DẠNG SINH HỌC VIỆT NAM
3.1 Mục tiêu Luật
3.2 Nội dung Luật
3.3 Kết quả thực hiện


sinh học.
4.1.1.2 Tính khả thi
Một số quy định trong luật còn chưa rõ ràng cụ thể, không có tính khả thi (Ví dụ
như Mục 3 Chương II – Phần kiểm soát các loài ngoại lai xâm phạm). Bên cạnh đó, trong
Luật các điều khoản giao Chính phủ (ví dụ như khoản 2 điều 27, khoản 2 điều 30, ) quy
định còn khá nhiều sẽ làm cho Luật mang tính tuyên ngôn hoặc ở mức chung chung khó
áp dụng thực tế.
Các quy định có liên quan đến đa dạng sinh học còn nằm rải rác ở nhiều văn bản
có giá trị pháp lý khác nhau làm hạn chế rất nhiều đến hiệu quả áp dụng pháp luật. Ví dụ
như việc tồn tại quá nhiều loại quy hoạch: Quy hoạch bảo vệ và phát triển rừng (Luật Bảo
vệ và phát triển rừng năm 2004); Quy hoạch khu bảo tồn (KBT) vùng nước nội địa, KBT
biển (Luật Thuỷ sản năm 2003); QHBT và phát triển bền vững các vùng đất ngập nước
(Nghị định số 109/2003/NĐ-CP ngày 23/9/2003 của Chính phủ về bảo tồn và phát triển
bền vững các vùng đất ngập nước); QHBT ĐDSH (Luật ĐDSH 2008)
4.1.1.3 Tính khách quan
Luật chưa đảm bảo tính khách quan trong quy trình lập, thẩm định, phê duyệt
QHBT ĐDSH đối với hai quy định sau: “ủy ban nhân dân cấp tỉnh tổ chức lập, thẩm
định, điều chỉnh QHBT ĐDSH của tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương trình Hội đồng
nhân dân cùng cấp thông qua (khoản 1 điều 14)”; “Bộ, cơ quan ngang bộ căn cứ vào quy
hoạch tổng thể bảo tồn ĐDSH của cả nước tổ chức lập, phê duyệt, điều chỉnh QHBT
ĐDSH thuộc phạm vi quản lý (khoản 2 điều 10)”. Một chủ thể vừa chịu trách nhiệm tổ
chức lập quy hoạch vừa tổ chức thẩm định, phê chuẩn quy hoạch sẽ không đảm bảo được
Tiểu luận “Đánh giá Luật đa dạng sinh học Việt Nam 2008” Nhóm: Phương Dung – Lê Hằng – Ánh Hồng – Hà Vân

Trang 15
tính khách quan.
4.1.1.4 Tính công khai, minh bạch

phát triển rừng năm 2004 đã có sự khác nhau về KBT loài - sinh cảnh, Khu dự trữ thiên
Tiểu luận “Đánh giá Luật đa dạng sinh học Việt Nam 2008” Nhóm: Phương Dung – Lê Hằng – Ánh Hồng – Hà Vân

Trang 16
nhiên. So với Luật Thuỷ sản năm 2003, sự khác biệt đó là Khu bảo vệ cảnh quan. Quy
định chuyển tiếp tại Khoản 1 Điều 76 chỉ có giá trị đối với việc thành lập các KBT mà
không có ý nghĩa đối với việc phân loại.
 Về phân cấp lập, thẩm định dự án, quyết định thành lập KBT
Quy định của Luật ĐDSH 2008 tương đối phù hợp với các quy định hiện hành về việc
thành lập các KBT cấp quốc gia. Theo đó các KBT cấp quốc gia đều do Thủ tướng Chính
phủ quyết định thành lập. Tuy nhiên, phân cấp lập, thẩm định dự án thì hiện tại các luật
khác nhau lại quy định cho các Bộ, ngành khác nhau thực hiện. Cụ thể là:
- Theo Nghị định số 23/2006/NĐ-CP ngày 30/3/2006 của Chính phủ về thi hành Luật
Bảo vệ và phát triển rừng năm 2004 về thẩm quyền xác lập các khu rừng thì Thủ tướng
Chính phủ quyết định xác lập các khu rừng đặc dụng liên tỉnh và khu rừng đặc dụng là
vườn quốc gia, KBT thiên nhiên theo đề nghị của Bộ Nông nghiệp và phát triển nông
thôn.
- Theo Nghị định số 27/2005/NĐ-CP ngày 08/3/2005 của Chính phủ quy định chi tiết
và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thủy sản năm 2003, Thủ tướng Chính phủ
quyết định thành lập các Vườn quốc gia, các KBT có tầm quan trọng quốc gia, quốc tế
hoặc liên quan đến nhiều ngành, nằm trên địa bàn nhiều tỉnh; Bộ Thuỷ sản xây dựng trình
Thủ tướng Chính phủ phê duyệt quy hoạch các KBT biển, tổ chức quản lý các KBT biển
do Thủ tướng Chính phủ thành lập; ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định thành lập (trên
cơ sở có ý kiến thẩm định của Bộ Thuỷ sản và tổ chức quản lý các KBT biển (trừ những
KBT thuộc thẩm quyền tổ chức quản lý của Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn.
- Theo Nghị định số 109/2003/NĐ-CP ngày 23/9/2003 của Chính phủ, Bộ Tài nguyên
và môi trường chủ trì lập QHBT và phát triển bền vững các vùng đất ngập nước trình Thủ

mình.
 Về quy chế quản lý khu bảo tồn
Hiện đang tồn tại hai quy chế quản lý các KBT. Quy chế quản lý rừng (ban hành kèm
theo Quyết định số 186/2006/QĐ -TTg ngày 14/8/2006 của Thủ tướng Chính phủ) và
Quy chế quản lý các KBT biển Việt Nam có tầm quan trọng quốc gia và quốc tế (ban
hành kèm theo Nghị định số 57/2008/NĐ-CP ngày 02/05/2008 của Chính phủ). Theo
Luật ĐDSH 2008, Thủ tướng Chính phủ ban hành quy chế quản lý KBT (Điều 27).
Câu hỏi đặt ra, Quy chế quản lý KBT theo Luật ĐDSH 2008 có là những quy định
chung thay thế tất cả các quy định hiện hành hay không? Việc ban hành một quy chế
chung áp dụng cho tất cả các KBT được xem là một giải pháp tích cực, góp phần hạn chế
sự cồng kềnh vốn có của hệ thống pháp luật về quản lý bảo vệ tài nguyên và môi trường.
Tuy nhiên, nếu Luật ĐDSH 2008 chỉ giao nhiệm vụ này cho Thủ tướng Chính phủ thì
mục đích nêu trên khó đạt được, do hiện tại Quy chế quản lý các KBT biển Việt Nam
hiện đã được quy định trong Nghị định của Chính phủ. Việc cùng là quy chế quản lý các
KBT nhưng lại được quy định trong các văn bản pháp luật có giá trị pháp lý khác nhau
cũng thể hiện sự thiếu nhất quán về phạm vi và mức độ điều chỉnh của pháp luật trong
lĩnh vực này.
Thêm vào đó Luật ĐDSH 2008 còn quy định, Quy chế quản lý vùng đệm do Thủ
tướng Chính phủ ban hành (Điều 32). Việc có một quy chế riêng để quản lý vùng đệm
của các KBT có thể cũng gây tranh cãi do chưa có sự thống nhất về nhận thức cũng như
Tiểu luận “Đánh giá Luật đa dạng sinh học Việt Nam 2008” Nhóm: Phương Dung – Lê Hằng – Ánh Hồng – Hà Vân

Trang 18
các quy định của pháp luật. Theo quy định của Quy chế quản lý rừng thì “Diện tích của
vùng đệm không tính vào diện tích của khu rừng đặc dụng” (Khoản 4 Điều 24), còn theo
Luật ĐDSH 2008 thì “Vị trí, diện tích vùng đệm được quy định trong quyết định thành
lập KBT” (khoản 1 Điều 32); và Chủ dự án đầu tư trong vùng đệm của KBT phải lập báo

Tiểu luận “Đánh giá Luật đa dạng sinh học Việt Nam 2008” Nhóm: Phương Dung – Lê Hằng – Ánh Hồng – Hà Vân

Trang 19
những loài thực vật rừng, động vật rừng có giá trị đặc biệt về khoa học, môi trường hoặc
có giá trị cao về kinh tế, số lượng quần thể còn rất ít trong tự nhiên hoặc có nguy cơ tuyệt
chủng cao; Nhóm II gồm những loài thực vật rừng, động vật rừng có giá trị về khoa học,
môi trường hoặc có giá trị cao về kinh tế, số lượng quần thể còn ít trong tự nhiên hoặc có
nguy cơ tuyệt chủng (khoản 2 Điều 2 Nghị định số 32/2006/NĐ-CP). Tương tự, Pháp
lệnh Giống cây trồng năm 2004, Pháp lệnh Giống vật nuôi năm 2004 cũng chỉ đề cập đến
việc thu thập, bảo tồn trao đổi nguồn gen cây trồng quý, hiếm mà chưa có tiêu chí xác
định giống cây trồng, giống vật nguy cấp, quý hiếm. Điều này cũng xảy ra đối với vi sinh
vật và nấm nguy cấp quý hiếm.
Bên cạnh đó, theo Luật ĐDSH 2008, loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ có
phạm vi đối tượng rộng hơn so với các quy định trước đây, đó là không chỉ bao gồm loài
động vật, thực vật nguy cấp, quý, hiếm mà còn bao gồm cả giống cây trồng, giống vật
nuôi, vi sinh vật và nấm nguy cấp, quý hiếm. Đây là điểm cần phải có sự thống nhất về
nhận thức do Danh mục các loài nguy cấp, quý hiếm được ưu tiên bảo vệ sẽ bao gồm cả
giống cây trồng, giống vật nuôi, vi sinh vật và nấm nguy cấp, quý hiếm. Điều này cũng
có nghĩa là còn cần phải xử lý mối quan hệ giữa các quy định của Luật ĐDSH 2008 với
các quy định của Pháp lệnh Giống cây trồng năm 2004, Pháp lệnh Giống vật nuôi năm
2004.
Ngoài ra, theo Luật ĐDSH 2008, còn có thêm hai Danh mục nữa cần được ban hành,
bao gồm: i) Danh mục loài hoang dã bị cấm khai thác trong tự nhiên; và ii) Danh mục
loài hoang dã được khai thác có điều kiện trong tự nhiên. Điều này cũng có nghĩa là số
lượng Danh mục các loài cần bảo vệ lại tăng lên, nguy cơ trùng lặp, chồng chéo trong các
quy định nêu trên là điều cần phải được dự liệu.
Mặc dù có nhiều loại Danh mục các loài nguy cấp, quý hiếm cần ưu tiên bảo vệ như đã

hành quy định hướng dẫn về bảo tồn và phát triển bền vững tài nguyên di truyền.
Quản lý, tiếp cận và chia sẻ lợi ích từ nguồn gen là những nội dung hoàn toàn mới và ít
nguy cơ mâu thuẫn, chồng chéo với các quy định khác nên việc hướng dẫn thi hành Luật
cần tập trung vào các khía cạnh trình tự, thủ tục, điều kiện pháp lý của việc tiếp cận
nguồn gen và chia sẻ lợi ích từ nguồn gen
So với các quy định về quản lý an toàn sinh học đối với các sinh vật biến đổi gen, sản
phẩm, hàng hóa có nguồn gốc từ sinh vật biến đổi gen được quy định tại Quyết định số
212/2005/QĐ-TTg ngày 26/5/2005 của Thủ tướng Chính phủ, các quy định về quản lý rủi
ro sinh vật biến đổi gen, mẫu vật di truyền của sinh vật biến đổi gen gây ra đối với ĐDSH
được quy định tại Mục 3 Chương 5 Luật ĐDSH 2008 có nội dung hẹp hơn, đó là chỉ đề
cập đến những rủi ro mà sinh vật biến đổi gen và mẫu vật di truyền của chúng gây ra đối
với môi trường và ĐDSH mà không xem xét ảnh hưởng của chúng gây ra đối với sức
khoẻ của con người. Điều này góp phần hạn chế sự phức tạp trong việc phân công trách
nhiệm quản lý rủi ro sinh vật biến đổi gen, mẫu vật di truyền của sinh vật biến đổi gen
giữa các bộ ngành, đặc biệt là giữa Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn, Bộ Tài
nguyên và môi trường và Bộ Y tế. Như vậy, các quy định hướng dẫn thi hành Luật
ĐDSH 2008 cũng chỉ tập trung vào những nội dung liên quan đến ảnh hưởng của sinh vật
biến đổi gen, mẫu vật di truyền của sinh vật biến đổi gen gây ra đối với ĐDSH mà thôi.
e. Những nội dung liên quan đến chi trả dịch vụ môi trường
Hiện đã có các quy định về chính sách thí điểm chi trả dịch vụ môi trường rừng tại
Tiểu luận “Đánh giá Luật đa dạng sinh học Việt Nam 2008” Nhóm: Phương Dung – Lê Hằng – Ánh Hồng – Hà Vân

Trang 21
Quyết định số 380/2008/QĐ-TTg ngày 10/4/2008 của Thủ tướng Chính phủ, theo đó,
dịch vụ môi trường rừng bao gồm cả yếu tố cảnh quan và ĐDSH. Tuy nhiên, do chính
sách này chỉ áp dụng thí điểm trong thời hạn 02 năm và với 07 tỉnh, thành phố (gồm:
Lâm Đồng, Sơn La, Đồng Nai, Hoà Bình, Bình Thuận, Ninh Thuận, TP Hồ Chí Minh)

Nhóm: Phương Dung – Lê Hằng – Ánh Hồng – Hà Vân

Trang 22
4.1.3 Phân tích vai trò của các nhóm liên đới

Hình 1: Vai trò của các nhóm liên đới đối với Luật đa dạng sinh học Việt Nam
a) Đối với nhóm chính sách
 Bộ TN&MT: ban hành luật và nghị định và các chiến lược Quốc gia về việc bảo tồn
đa dạng sinh học tạo cơ sở pháp lý để các Bộ ban ngành cùng phối hợp các các sở và
cộng đồng địa phương tham gia bảo tồn các nguồn tài nguyên thiên nhiên, thông qua
các cơ chế mới về đồng quản lý và chia sẻ lợi ích.
 Bộ Thủy Sản, Bộ NN&PTNT:
 UBND tỉnh: nhiệm vụ thực thi và kiểm tra việc thực hiện các điều lệ, quy định do các
Bộ ban hành trong công tác bảo vệ đa dạng sinh học.

b) Đối với nhóm kinh tế
 Bộ Tài chính đóng vai trò quan trọng mặc dù không trực tiếp tham gia bảo tồn các
nguồn động thực vật quý hiếm hoặc các chương trình hành động bảo vệ rừng cũng

trong đó các hạng mục hoạt động phải dựa trên các quy định cho phép của Chính
phủ.
 Doanh nghiệp:cũng là một trong những cơ quan góp phần tạo ngân sách cho việc bảo
vệ đa dạng sinh học thông qua việc tổ chức tham quan các danh lam thắng cảnh, khu
bảo tồn thiên nhiên hoặc các động vật hoang dã.
 Quỹ môi trường toàn cầu (GEF): Hỗ trợ tài chính cho các chương trình, dự án, các
hoạt động bảo tồn thiên nhiên và đa dạng sinh học, phòng, chống, khắc phục ô nhiễm,
suy thoái và sự cố môi trường mang tính quốc gia, liên ngành, liên vùng hoặc giải
quyết các vấn đề môi trường.

c) Đối với nhóm xã hội

 Truyền thông: Đóng vai trò quan trọng trong iêc tuyên truyền nâng cao nhận thức
cộng đồng về việc bảo vệ các nguồn tài nguyên thiên nhiên; bên cạnh đó đại diện
tiếng nói của cộng đồng lên án phê phán những hành động phi nhân đạo, tàn phá và
đánh bắt trái phép các nguồn tài nguyên quý của đất nước.
 Thanh niên Cộng sản HCM, Trung ương Hội Phụ nữ Việt Nam, Hội nông dân Việt
Nam ) cũng có các dự án giáo dục nâng cao nhận thức môi trường. Các dự án đã góp
phần tích cực vào việc nâng cao nhận thức ĐDSH cho mọi tầng lớp nhân dân trong
XH.
 Nhóm tình nguyện: Tập hợp tất các những bạn yêu thiên nhiên, yêu môi trường như
nhóm Go Green…Họ là những người ra quyết định và sử dụng tài nguyên thiên nhiên
trong tương lai. Chính vì vậy, nhóm này đã tuyên truyền và vận động hiệu quả đến
sinh viên và cộng đồng giúp họ nhận thức rõ ràng và sâu sắc của sự hủy hoại nhanh
chóng sẽ ảnh hưởng đến thế hệ tương lai sau này.
 Sở VHTTDL: tổ chức các chương trình hành động vì môi trường, bảo vệ tính nguồn
tài nguyên thiên nhiên ở mỗi tỉnh, mỗi địa phương. Ngoài ra, các hoạt động văn hóa
du lịch đa dạng sinh thái nhằm mục đích kêu gọi mọi người chung tay bảo vệ môi
trường, thiên nhiên.
4.1.4 Một số tồn tại của luật đa dạng sinh học của các nước Châu Á so với Hoa Kỳ

Trong đó, các minh họa ấn tượng nhất của các thất bại về bảo vệ đa dạng sinh học trong
khu vực Đông Nam Á là ở sông Dương Tử Trung Quốc, nơi cá heo nước ngọt sông
Dương Tử xuất hiện đã bị tuyệt chủng sớm ở thế kỷ 21 với các hiệu ứng kết hợp của
nước ô nhiễm, việc khai thác quá mức, xây dựng đập và phát triển kinh tế nhanh chóng
bất chấp một nỗ lực quốc tế chuyên sâu để lưu các loài.
Kinh nghiệm sử dụng Luật để bảo tồn đa dạng sinh học khu vực này đã phải chịu nhiều
thất bại hơn so với ESA Mỹ. Trong thực tế, FWS đã xác định rằng các luật của
Campuchia, Trung Quốc và Việt Nam không đủ mạnh để bảo tồn động vật hoang dã quý
hiếm của các nước. Quy định đầy đủ của các cơ chế hiện hành là một trong những tiêu
chí của ESA để xác định liệu một loài bị đe dọa.
Tiểu luận “Đánh giá Luật đa dạng sinh học Việt Nam 2008” Nhóm: Phương Dung – Lê Hằng – Ánh Hồng – Hà Vân

Trang 25
Hãy xem xét cò quặm khổng lồ, FWS được liệt kê như nguy cơ tuyệt chủng trong năm
2008. Cò quăm khổng lồ là có nguồn gốc từ Campuchia và Việt Nam, do đó, hiệu quả
của pháp luật Campuchia và Việt Nam đã giúp quyết định liệu các loài sẽ được liệt kê
theo ESA Mỹ. FWS tìm thấy rằng trong khi một số luật Campuchia bảo vệ cò quăm
khổng lồ từ sự hủy diệt môi trường sống và săn bắn, các luật "không hiệu quả trong việc
giảm những mối đe dọa."
Tại khu vực đã được bảo vệ Tonle Sap Great Lake, FWS ca ngợi những nỗ lực của
Campuchia rằng "đã bắt đầu cải thiện tình hình bảo tồn", nhưng FWS cũng lưu ý rằng
"vẫn còn một số thách thức quản lý, bao gồm cả khai thác quá mức rừng ngập nước và
thủy sản, tác động tiêu cực từ xâm lấn loài, thiếu giám sát và thực thi; nhận thức thấp của
cộng của các giá trị đa dạng sinh học và nghiên cứu thiếu sự phối hợp, giám sát và đánh
giá của các quần thể của các loài "
FWS tìm thấy bằng chứng rằng "những bước tiến lớn đã được thực hiện trong cán bộ
kiểm lâm đào tạo và chống săn trộm." FWS cũng tìm thấy, mặc dù, rằng văn phòng bảo


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status