Giai cấp công nhân và vai trò của đảng cộng sản đối với sự phát triển của CNXH - Pdf 22

A.Mở đầu
Trong thời đại xã hội nào, những người lao động sản xuất trong các
ngành sản xuất công nghiệp, dịch vụ công nghiệp hay những người công nhân
đều có vai trò sáng tạo chân chính ra lịch sử và là những người giữ vai trò
quyết định sáng tạo công cụ sản xuất, gía trị thặng dư và chính trị xã hội. Chủ
nghĩa xã hội khoa học là một trong ba bộ phận cấu thành của chủ nghĩa Mác -
Lênin đã nghiên cứu một cách toàn diện về các quy luật chính trị xã hội của
quá trình phát sinh, hình thành và phát triển của các hình thái kinh tế xã hội
cộng sản chủ nghĩa. Trong đó, chủ nghĩa xã hội khoa học đã tập chung nghiên
cưú những nguyên tắc căn bản, những điều kiện, con đường, hình thức,
phương pháp đấu tranh của giai cấp công nhân để thực hiện chuyển biến từ
chủ nghĩa tư bản sang chủ nghĩa xã hội.
Từ vai trò to lớn của giai cấp công nhân, việc khẳng định sứ mệnh
lịch sử của giai cấp công nhân có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận lẫn thực
tiễn.
Trước sự khủng hoảng và sụp đổ của chủ nghĩa xã hội ở Đông Âu và
Liên xô, nhiều người đã bộc lộ sự dao động và hoài nghi về sứ mệnh lịch sử
của giai cấp công nhân. Bọn cơ hội xét lại và các thế lực chống cộng có cơ
hội mới để phủ nhận sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân, vai trò lãnh đạo
của Đảng cộng sản và chủ nghĩa xã hội.
Trong giai đoạn mới hiện nay, công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá
đang diễn ra trên toàn thế giới, chủ nghĩa xã hội đang ở trong thời kỳ thoái
trào, thời đại ngày nay vẫn đang là thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ
nghĩa xã hội trên phạm vi toàn thế giới còn đang có nhiều biến động, tiêu
cực thì vấn đề làm sáng tỏ sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân được đặt
ra trở nên bức thiết hơn bao giờ hết, cả trên hai phương diện: lý luận và thực
tiễn.
1
Sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân là một phạm trù cơ bản nhất của
chủ nghĩa xã hội khoa học, do đó nó đã được C.Mác - Ph.Ăngghen và Lênin
nghiên cứu và phát triển hết sức hoàn thiện trong trong quá trình phát triển

Trong các thuật ngữ này, tuỳ từng điều kiện mà ta sử dụng. Tuy nhiên,
các thuật ngữ đó đều nói lên: Giai cấp công nhân- con đẻ của nền đại công
nghiệp tư bản chủ nghĩa, giai cấp đại biểu cho lực lượng sản xuất tiên tiến,
cho phương thức sản xuất hiện đại. Ngoài các thuật ngữ trên, C.Mác và
Ph.Ăngghen còn dùng những thuật ngữ có nội dung hẹp hơn để chỉ các loại
công nhân trong các ngành khác nhau, trong các giai đoạn khác nhau của
công nghiệp như: công nhân cơ khí là công nhân làm trong ngành cơ khí;
công nhân dệt là công nhân làm trong ngành dệt; công nhân công trường thủ
công là công nhân làm trong các công trường; công nhân nông nghiệp là công
nhân làm trong ngành nông nghiệp có sử dụng các trang thiết bị của công
nghiệp
Mặc dù các thuật ngữ trên có nhiều tên gọi khác nhau như thế nào đi nữa
thì theo C.Mác và Ph.Ăngghen chúng vẫn chỉ mang hai thuộc tính căn bản.
3
Thứ nhất, về phương thức lao động, phương thức sản xuất: Giai cấp công
nhân là lao động trực tiếp hay gián tiếp vận hành các công cụ sản xuất có tính
chất công nghiệp ngày càng hiện đại và xã hội hoá cao.
Thứ hai, về vị trí trong quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa: đó là những
người lao động không có tư liệu sản xuất, phải bán sức lao động cho nhà tư
bản và bị nhà tư bản bóc lột về giá trị thặng dư.
Trong hai tiêu trí này, C.Mác và Ph.Ăngghen tới tiêu chí một đó là công
nhân công xưởng, được coi là bộ phận tiêu biểu cho giai cấp công nhân hiện
đại. Hai ông cho rằng: “Các giai cấp khác đều suy tàn và tiêu vong cùng với
sự phát triển của đại công nghiệp, còn giai cấp vô sản lại là sản phẩm của nền
đại công nghiệp”; “công nhân cũng là một phát minh của thời đại mới, giống
như máy móc cũng vậy công nhân Anh là đứa con đầu lòng của nền đại
công nghiệp hiện đại”.
Với tiêu chí thứ hai, C.Mác và Ph.Ăngghen cũng đặc biệt nhấn mạnh
vì chính điều này khiến cho người công nhân trở thành giai cấp đối kháng với
giai cấp tư sản: “giai cấp tư sản, tức là tư bản, mà lớn lên thì giai cấp vô sản,

nhiều biến đổi. Chính sự phát triển của lực lượng sản xuất xã hội hiện nay đã
vượt xa trình độ văn minh công nghiệp trước đây, sự xã hội hoá và phân công
lao động xã hội mới, cơ cấu của giai cấp công nhân hiện đại; các hình thức
bóc lột giá trị thặng dư đã làm cho diện mạo của giai cấp công nhân hiện
đại không còn giống với những mô tả của C.Mác trong thế kỷ XIX. Tuy thế
nhưng giai cấp công nhân hiện đại vẫn tồn tại, vẫn có sứ mệnh lịch sử của
mình trong xã hội tư bản hiện đại; những thuộc tính cơ bản của giai cấp công
nhân mà C.Mác đã phát hiện ra vẫn còn nguyên giá trị.
Hiện nay, cơ cấu ngành nghề của giai cấp công nhân đã có nhiều
thay đổi to lớn. Bên cạnh lực lượng công nhân truyền thống, xuất hiện công
nhân trình độ tự động hoá với việc áp dụng phổ biến công nghệ thông tin vào
sản xuất. Bên cạnh những ngành công nghiệp truyền thống, xuất hiện công
5
nhân hoạt động ở lĩnh vực dịch vụ. Thực tế, ở các nước tư bản, công nhân
trong các ngành dịch vụ này chiếm 50% đến 70% lao động.Tuy nhiên, điều
này không hề làm giảm vai trò của giai cấp công nhân trong nền kinh tế và
ngay cả tỷ trọng của giai cấp công nhân trong dân cư. Bởi vì những người làm
thuê trong các ngành dịch vụ gắn liền với công nghiệp và hoạt động theo lối
công nghiệp vẫn là công nhân xét cả trên hai thuộc tính về giai cấp công nhân.
Mặt khác, bên cạnh trình độ thấp của giai cấp công nhân truyền thống đã xuất
công nhân có trình độ cao, có xu hướng “tri thức hoá” và cũng ngày càng tiếp
thu thêm đông đảo những người thuộc tầng lớp trí thức vào hàng ngũ của
mình. Mặc dù vậy, bản chất về giai cấp công nhân cũng không hề thay đổi.
Nếu trước kia, công nhân bán sức lao động chân tay là chủ yếu thì nay, họ bán
cả sức lao động chân tay và lao động trí óc, giá trị ngày càng lớn và do đó
càng bị bóc lột giá trị thặng dư theo chiều sâu. Giai cấp công nhân bắt đầu có
sự thay đổi về tài sản. Phần lớn, họ không còn là những người vô sản trần trụi
với hai bàn tay trắng, mà họ đã có một số tư liệu sản xuất phụ có thể cùng gia
đình làm thêm; một số công nhân đã có cổ phần, cổ phiếu ở xí nghiệp. Tuy
vậy nhưng nó cũng không làm thay đổi toàn bộ lực lượng sản xuất cơ bản

biểu cho toàn thể nhân dân lao động làm chủ những tư liệu sản xuất cơ bản đã
được công hữu hoá.
Sau khi xoá bỏ được mọi giai cấp, giai cấp công nhân sẽ không còn nữa.
Lúc đó, công nhân sẽ như mọi lao động được giải phóng, đều có điều kiện
phát triển tự do và toàn diện.
Có thể nói, những quan điểm của C.Mác và Ph.Ăngghen về hai tiêu
chí cơ bản của giai cấp công nhân cho đến nay vẫn còn nguyên giá trị, vẫn là
cơ sở phương pháp luận để chúng ta nghiên cứu giai cấp công nhân hiện đại,
đặc biệt là để làm sáng tỏ sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân trong thời
đại ngày nay. Từ hai tiêu chí trên ta có thể định nghĩa: “Giai cấp công nhân là
một tập đoàn xã hội ổn định, hình thành và phát triển cùng với quá trình hình
thành và phát triển của nền công nghiệp hiện đại, với nhịp độ phát triển của
7
lực lượng sản xuất có tính chất xã hội hoá ngày càng cao; là lực lượng sản
xuất cơ bản tiên tiến, trực tiếp hoặc tham gia vào quá trình sản xuất, tái sản
xuất ra của cải vật chất và cải tạo các quan hệ xã hội; là lực lượng chủ yếu của
tiến trình lịch sử quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội”.

II. Nội dung và điều kiện khách quan quy định sứ mệnh lịch sử của giai
cấp công nhân
1. Nội dung
Lịch sử phát triển của thế giới chính là lịch sử phát triển của các hình
thái kinh tế xã hội từ thấp đến cao. Trong xã hội có giai cấp, để giải quyết
mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất phát triển đến trình độ xã hội hoá cao với
quan hệ sản xuất cũ, giữa giai cấp thống trị với giai cấp lao động phải phát
triển từ hình thái kinh tế xã hội thấp đến cao.
C.Mác và Ph.Ăngghen đã khẳng định vai trò của quần chúng nhân dân
lao động: là người sáng tạo chân chính ra lịch sử; là người có vai trò quyết
định sáng tạo công cụ sản xuất, giá trị thặng dư, chính trị xã hội. Khi trong xã
hội còn tồn tại giai cấp bóc lột trong một phương thức sản xuất với điều kiện

giai cấp công nhân là: xoá bỏ chế độ tư bản chủ nghĩa, xoá bỏ chế độ người
bóc lột người, giải phóng giai cấp công nhân, nhân dân lao động và toàn thể
nhân loại khỏi sự áp bức bóc lột, nghèo nàn lạc hậu, xây dựng xã hội cộng sản
văn minh.
Ph.Ăngghen viết:” Thực hiện sự nghiệp giải phóng thế giới ấy- đó là sứ
mệnh lịch sử của giai cấp vô sản hiện đại ”. Còn Lênin đã chỉ rõ:” Điểm chủ
yếu trong học thuyết của C.Mác là ở chỗ nó làm sáng tỏ vai trò lịch sử thế
giới của giai cấp vô sản là người xây dựng xã hội chủ nghĩa”.
Nội dung thực chất của sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân ở đây
chính là:
Trong lĩnh vực kinh tế: giai cấp công nhân tiến hành xoá bỏ chế độ tư
hữu tư nhân tư liệu sản xuất, xây dựng chế độ công hữu tư liệu sản xuất, nâng
9
cao năng suất lao động thoả mãn từng bước nhu cầu phát triển của nhân dân.
Sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân trong lĩnh vực này chỉ rõ mục tiêu
cuối cùng của giai cấp công nhân, thoả mãn nhu cầu ngày càng đầy đủ hơn:
làm theo năng lực, hưởng theo nhu cầu. Do đó nó cần phải được thực hiện
một cách lâu dài, gian khổ, trải qua từng bước cụ thể. Xoá bỏ chế độ chiếm
hữu tư nhân tư liệu sản xuất; xây dựng chế độ công hữu là quá trình phù hợp
nhưng phải dần dần từ từ.
Tại sao phải xoá bỏ chế độ tư hữu? Sở dĩ như vậy vì đây là cơ sở của chế
độ người bóc lột người; biểu hiện cao nhất của chế độ chiếm hữu tư nhân tư
liệu sản xuất là sở hữu tư bản chủ nghĩa do đó phải xoá bỏ chế độ tư hữu; sau
khi xoá bỏ chế độ tư hữu thì mới thiết lập chế độ công hữu tư liệu sản xuất,
phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, phù hợp với yêu cầu
sản xuất; đây cũng là cơ sở kinh tế cho sự tồn tại chế độ xã hội mới vì thế
cũng rất cần phải xoá bỏ chế độ tư hữu này. Chính C.Mác đã nói: ”những ng-
ười cộng sản có thể tóm tắt lực lượng của mình bằng một công thức là xoá bỏ
chế độ tư hữu”.
Trong lĩnh vực chính trị: giai cấp công nhân phải trở thành giai cấp

Trong giai đoạn hai, khi đã giành được chính quyền – thời kỳ quá độ xây
dựng chủ nghĩa xã hội: Đảng cộng sản và giai cấp công nhân phải tiếp tục đấu
tranh giai cấp trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, với mục đích là giữ
vững chính quyền cách mạng (xây dựng và bảo vệ tổ quốc xã hội chủ
nghĩa):Về chính trị, quyền lực nhà nước thể hiện ý chí của dân. Nhà nước vô
sản có hệ thống chính trị gồm Đảng cộng sản, nhà nước pháp quyền xã hội
chủ nghĩa và các tổ chức chính trị, nhằm bảo vệ lợi ích của giai cấp công nhân
và nhân dân lao động. Trong công tác đối nội và đối ngoại sẽ sử dụng bạo lực
trấn áp thù trong giặc ngoài. Về kinh tế, mục đích là đạt được năng suất lao
động cao, nguyên tắc phân phối là làm theo năng lực, hưởng theo lao động; sử
dụng các thành phần kinh tế, các hình thức sở hữu: sở hữu toàn dân (sở hữu
nhà nước), sở hữu tập thể, sở hữu cá thể, sở hữu tư bản nhà nớc, sở hữu tư
11
nhân. Do đó cần nắm vững cơ chế Đảng cộng sản lãnh đạo, nhà nước pháp
quyền xã hội chủ nghĩa quản lý, nhân dân lao động làm chủ dựa trên pháp luật
của nền dân chủ xã hội chủ nghĩa (nguyên tắc tập trung dân chủ). Về văn hoá
tư tưởng: kế thừa có chọn lọc tri thức văn hoá truyền thống dân tộc, kết hợp
với tri thức văn hoá của nhân loại (khoa học kỹ thuật công nghệ của nền kinh
tế tri thức), và định hướng xã hội là định hướng tư tưởng cá nhân. Về quân sự,
xây dựng chiến lược quốc phòng toàn dân và an ninh quốc gia. Về ngoại giao,
phát triển quan hệ song phương, đặt vấn đề dân tộc và lợi ích là trên hết Vì
vậy đường lối đặt ra phải phù hợp với quy luật khách quan, hợp lòng dân,
chống thù trong giặc ngoài và mọi âm mưu diễn biến hoà bình của đế quốc.
2. Những điều kiện khách quan
Học thuyết C.Mác và Ph.Ăngghen về sứ mệnh lịch sử của giai cấp công
nhân là luận chứng khoa học về địa vị kinh tế xã hội và vai trò lịch sử của giai
cấp công nhân, về mục tiêu và con đường để giai cấp đó hoàn thành sứ mệnh
lịch sử của mình. Học thuyết đã chứng minh sứ mệnh lịch sử của giai cấp
công nhân được quy định bởi những điều kiện kinh tế, xã hội khách quan.
a.Về địa vị kinh tế xã hội:

toàn vào quá trình phân phối các kết quả lao động của chính họ. Trong nền
sản xuất tư bản chủ nghĩa, giai cấp công nhân bị toàn bộ giai cấp tư sản bóc
lột, là giai cấp trực tiếp đối kháng với giai cấp tư sản, không có quyền trong tổ
chức, điều hành lao động, phân phối sản phẩm lao động. Do đó giai cấp công
nhân không được làm chủ trong xã hội tư bản chủ nghĩa. Họ bị bần cùng hoá
so với giai cấp tư sản (bị bóc lột trong quá trình sản xuất, ngoài quá trình sản
xuất và bị bóc lột theo chiều sâu).
Giai cấp công nhân hiện nay ở các nớc tư bản có đời sống vật chất cao
vẫn bị bóc lột, bần cùng hoá theo đúng nghĩa của nó. Công nhân có cổ phần,
tức là đã ra nhập vào quá trình sản xuất, điều hành sản xuất đó là công nhân
tư bản nhân dân nhưng con số này vẫn còn rất khiêm tốn. Còn ở các nớc tư
13
bản phá triển, công nhân bị bóc lột cao hơn rất nhiều, từ 200% tới 300% và sự
chênh lệch giàu nghèo cũng khá cao. Trong tất cả các giai cấp đang đối lập
với giai cấp tư sản thì chỉ có giai cấp công nhân là thực sự cách mạng vì nó là
sản phẩm của nền đại công nghiệp, đại diện cho lực lượng sản xuất với trình
độ xã hội hoá ngày càng cao, và nó lao động trong nền đại công nghiệp với
trình độ công nghệ ngày càng hiện đại và sản xuất ra tuyệt đại của cải cho xã
hội.
Từ địa vị giai cấp công nhân và giai cấp công nhân có lợi ích cơ bản
thống nhất với lợi ích của đông đảo nhân dân lao động đã tạo điều kiện cho
giai cấp công nhân đoàn kết với giai cấp khác, đi đầu trong công cuộc đấu
tranh để thực hiện quá trình giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội. Họ có khả
năng đoàn kết giai cấp khác (tất cả giai cấp vô sản) vì giai cấp công nhân: có
cùng lợi ích cơ bản, thống nhất nhau do bị bóc lột giá trị thặng dư; cùng tồn
tại trong một môi trường sản xuất nh nhau có tính chất công nghiệp thậm chí
dịch vụ; có cùng tư bản trong nước và quốc tế bóc lột; có cùng mục tiêu, sứ
mệnh lịch sử tiêu diệt tư sản, xây dựng chủ nghĩa xã hội.
b.Về đặc điểm chính trị, xã hội:
Do những đặc điểm về kinh tế chính trị xã hội của giai cấp công

thống trị, giai cấp công nhân phải đoàn kết lại, tổ chức chặt chẽ và có tính
cách mạng cao vì cách mạng đòi hỏi đúng thời điểm, thời cơ thuận lợi mới có
thể thành công.
Giai cấp công nhân là giai cấp có bản chất quốc tế: Gắn với nền công
nghiệp hiện đại, chẳng những giai cấp công nhân có trình độ xã hội hoá ngày
càng cao ở mỗi nước mà còn có mối quan hệ quốc tế ngày càng tăng. Giai cấp
công nhân ở các nước tư bản nói chung đều có địa vị kinh tế xã hội giống
nhau. Vì vậy họ có mục tiêu đấu tranh chung là xoá bỏ chế độ áp bức bóc lột
tư bản chủ nghĩa, xây dựng chế độ xã hội chủ nghĩa, không còn tình trạng
15
người áp bức bóc lột người. Mặt khác, giai cấp tư sản cũng là một lực lượng
quốc tế và để duy trì địa vị thống trị của mình, giai cấp tư sản luôn thực hiện
sự liên minh trên phạm vi quốc tế để chống lại cuộc đấu tranh của giai cấp
công nhân và các dân tộc bị áp bức. Do đó muốn hoàn thành sự nghiệp giải
phóng, giai cấp công nhân phải đoàn kết lại, đấu tranh trên phạm vi toàn quốc
tế. Bản chất quốc tế đó thể hiện trước hết ở việc giai cấp công nhân lãnh đạo
nhân dân, dân tộc mình hoàn thành nhiệm vụ tự giải phóng. Lợi ích quốc tế
của giai cấp công nhân không tách rời mà gắn bó mật thiết với lợi ích chân
chính của dân tộc mà giai cấp công nhân làm đại diện.
Lịch sử thế giới đã chứng minh những kết luận của C.Mác,
Ph.Ăngghen và Lênin về sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân là hoàn toàn
đúng đắn. Tuy nhiên, cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân nhằm hoàn thành
sứ mệnh lịch sử của mình không phải diễn ra một cách bằng phẳng, thuận
buồm xuôi gió. Bên cạnh những điều kiện khách quan quy định, sứ mệnh lịch
sử của giai cấp công nhân còn có nhiều quan điểm nhằm phê phán giai cấp
công nhân cùng với sứ mệnh lịch sử của họ:
Thứ nhất, ngày nay, kẻ thù của chủ nghĩa xã hội và một số người cơ hội
xét lại đang phủ nhận thuyết Mác – Lênin về sứ mệnh lịch sử của giai cấp
công nhân. Theo họ giai cấp công nhân ngày càng “teo đi“, đã “tan biến” vào
các giai cấp, tầng lớp xã hội khác: địa vị kinh tế xã hội của giai cấp công nhân

chống chủ nghĩa tư bản. Chủ nghĩa Mác- Lênin không quan niệm một giai cấp
có khả năng lãnh đạo cách mạng vì nó nghèo khổ nhất. Mưu toan đem sự
nghèo khổ để luận giải sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân là sự xuyên tạc
trắng trợn những nguyên lý của chủ nghĩa Mác-Lênin. Sự thực, ở những nước
tư bản phát triển, đời sống của một bộ phận không nhỏ trong giai cấp công
nhân đã được cải thiện. Một bộ phận công nhân đã có mức sống cao hơn.
Song điều đó không có nghĩa là công nhân ở các nước đó không bị bóc lột
hoặc bị bóc lột không đáng kể. Một số công nhân có cổ phần, cổ phiếu trong
công ty nhưng điều đó không hề làm thay đổi một sự thật là toàn bộ tư liệu
17
sản xuất tư bản chủ nghĩa vẫn nằm trong tay giai cấp tư sản. Do đó giai cấp
công nhân về cơ bản vẫn bị bóc lột giá trị thặng dư, và bị bóc lột nhiều hơn tr-
ước.Vì vậy mà giai cấp tư sản chỉ bớt một phần lợi nhuận (chính là việc cho
công nhân mua cổ phần, cổ phiếu) để cải thiện đời sống công nhân. Và thực tế
thì đời sống của giai cấp công nhân ở các nước tư bản phát triển vẫn còn
nhiều tình trạng nghèo khổ, thất nghiệp, thiếu nhà ở, mù chữ, đời sống bấp
bênh.
Thứ năm, cũng có quan điểm cho rằng, luận điểm của Mác về sứ mệnh
lịch sử của giai cấp công nhân trước đây có thể đúng nhưng không có đúng
trong thời đại ngày nay. Theo họ thì thời đại ngày nay là thời đại của nền “văn
minh trí tuệ”, của “kinh tế tri thức”, do đó tri thức mới là lực lượng tiên
phong, có vai trò lãnh đạo cách mạng. Tất nhiên, trí thức có vai trò quan trọng
trong mọi thời đại.Trong sự nghiệp xây dựng xã hội mới, vai trò trí thức ngày
càng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Song, trí thức không thể đóng vai trò
lãnh đạo thay thế vai trò lãnh đạo thay thế giai cấp công nhân. Bởi lẽ: Trong
xã hội trí thức chỉ là một tầng lớp đặc biệt và không thuần nhất. Trí thức chưa
bao giờ và không bao giờ là một giai cấp. Nó không đại biểu cho một phương
thức sản xuất nào, không là một lực lượng kinh tế, chính trị độc lập trước các
giai cấp và tầng lớp xã hội khác. Do đó, không có hệ tư tưởng riêng, không
thể là người lãnh đạo cách mạng. Mặt khác, tri thức không có lợi ích đối

có thể đảm bảo giành được thắng lợi trọn vẹn.
Đảng cộng sản là bộ phận không thể tách rời của giai cấp công
nhân.Mục đích và lợi ích của Đảng và của giai cấp công nhân là thống nhất.
Không có Đảng cộng sản – hạt nhân chính trị của phong trào công nhân, bản
thân giai cấp công nhân không thể trở thành lực lượng chính trị độc lập, cũng
không thể trở thành giai cấp lãnh đạo cách mạng.
Đảng cộng sản là người đại diện chân chính cho lợi ích của giai cấp công
nhân và lợi ích dân tộc. Trong phạm vi một nớc đồng thời cũng vì lợi ích
chung của phong trào cộng sản và quốc tế. Chính vì vậy, giai cấp công nhân
19
dới sự lãnh đạo của Đảng đã tạo ra được cơ sở thống nhất tư tưởng và hành
động, phát huy tư cách là người lãnh đạo trong đấu tranh chống áp bức bóc lột
xây dựng xã hội mới.
Sức mạnh để chiến thắng giai cấp tư sản và mọi kẻ thù khác, không phải
chỉ là ở số lượng và ở tinh thần chiến đấu của giai cấp công nhân mà chủ yếu
là ở trình độ tổ chức và giác ngộ chính trị của nó. Điều đó được thể hiện tập
trung ở chính Đảng- một tổ chức bao gồm những ngời ưu tú nhất, giác ngộ
chính trị xã hội cao, có tinh thần đấu tranh kiên quyết nhất của giai cấp công
nhân và nhân dân lao động. Vì vậy Đảng cộng sản luôn là đội tiên phong
chính trị của giai cấp công nhân và của toàn xã hội.Đảng có nhiệm vụ sáng
tạo chủ nghĩa Mác – Lênin, phân tích đúng đắn hoàn cảnh lịch sử cụ thể trong
mỗi giai đoạn cách mạng, đề ra mục tiêu, phương hớng, đường lối, chính sách
đúng, phù hợp với yêu phát triển khách quan của đất nước. Đồng thời Đảng
giáo dục, tổ chức, lãnh đạo giai cấp công nhân và toàn thể nhân dân thực hiện
công cuộc xoá bỏ chế độ xã hội cũ, xây dựng thành công chế độ xã hội mới xã
hội chủ nghĩa tiến lên chủ nghĩa cộng sản.
20
CÁCH MẠNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VỚI
VIỆC HOÀN THÀNH SỨ MỆNH LỊCH SỬ CỦA GIAI CẤP
CÔNG NHÂN

đồng thời độc lập về mặt đường lối, phải hớng tới mục tiêu xã hội chủ nghĩa;
giai cấp công nhân phải lôi kéo được lực lượng và phát triển lực lượng; trong
khi đi với giai cấp tư sản đánh chế độ phong kiến, giai cấp công nhân phải
độc lập đường lối, chỉ có thể liên minh tạm thời với giai cấp phong kiến.
Còn với Lênin, ông đã phân tích điều kiện cụ thể nước Nga và đa ra
quan điểm phát triển tư tưởng C.Mác và Ph.Ăngghen. Những quan điểm đó
là:
Thứ nhất:cách mạng dân chủ tư sản phải do giai cấp công nhân lãnh đạo
do giai cấp công nhân vì yếu tố thời đại chi phối như giai cấp tư sản đã mất
vai trò lãnh đạo, chủ nghĩa tư bản đã chuyển sang chủ nghĩa đế quốc làm kìm
hãm sự phát triển của lịch sử ; mặt khác, giai cấp công nhân đã trưởng thành,
là điểm hoàn toàn mới so với C.Mác và Ph.Ăngghen.
Thứ hai: lực lượng cách mạng gồm các giai cấp ,tầng lớp khác trong xã
giai cấp tiên tiến nhất vì mục tiêu của họ gắn liền với việc thủ tiêu một cách
triệt để chế độ phong kiến. Giai cấp vừa và nhỏ có tinh thần dân chủ, là lực
lượng lừng khừng cấu kết phong kiến chống cách mạng, hạn chế tiêu cực,
phát triển tích cực.
Thứ ba: cách mạng dân chủ tư sản phải được tiến hành cụ thể rồi tiến
ngay vào cách mạng xã hội chủ nghĩa. Hai cuộc cách mạng có mối liên hệ
biện chứng, không có bức tường thành nào ngăn cách.
Có thể nói cách mạng xã hội chủ nghĩa là cuộc cách mạng sâu sắc và
toàn diện trên mọi lĩnh vực.
Trên lĩnh vực chính trị: cách mạng xã hội chủ nghĩa làm Đảng cộng sản
lãnh đạo quần chúng nhân dân lao động đập tan chính quyền cũ để thành lập
chính quyền của dân, do dân và vì dân, da nhân dân lên vị trí làm chủ. Sau khi
22
có chính quyền, chính quyền nhà nớc vô sản cần tập trung xây dựng đời sống
chính trị, khẳng định và mở rộng quyền lực nhân dân, khắc phục hạn chế về
dân chủ, nâng cao ý thức dân chủ cho nhân dân.
Trên lĩnh vực kinh tế: cách mạng xã hội chủ nghĩa xoá bỏ chế độ công

chỉ rõ: “chủ nghĩâ đế quốc là đêm trước, là phòng chờ của cách mạng xã hội
chủ nghĩa”. Tuy nhiên cách mạng xã hội chủ nghĩa không phải diễn ra một
cách tự phát, mà nó là kết quả của quá trình đấu tranh giai cấp lâu dài, gian
khổ của giai cấp công nhân và nhân dân lao động chống lại sự thống trị của
giai cấp tư sản. Cách mạng xã hội chủ nghĩa chỉ diễn ra ở những nơi có tình
thế cách mạng. Tình thế cách mạng là biểu hiện của sự chín muồi của những
điều kiện khách quan. Có tình thế cách mạng vẫn chưa đủ mà cần phải có
những nhân tố chủ quan, bao gồm sự lãnh đạo của Đảng tiên phong và tinh
thần, hành động cách mạng của quần chúng. Nh vậy, đỉnh điểm của sự chín
muồi của những nhân tố khách quan và chủ quan sẽ đưa đến thời cơ cách
mạng. Giai cáp công nhân thông qua Đảng tiên phong của mình chọn đúng
thời cơ phát động quần chúng đứng lên dùng bao lực cách mạng để lật đổ ách
thống trị của giai cấp tư sản và các thế lực phản động giành lấy chính quyền
nhà nước, thiết lập chuyên chính vô sản, mở đường cho công cuộc cải tạo xã
hội cũ và xây dựng xã hội xã hội chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa.
Do đó cách mạng xã hội chủ nghĩa là cả một quá trình bao gồm việc
lật đổ chính quyền nhà nước của giai cấp tư sản, thiết lập chuyên chính vô sản
và dùng chuyên chính vô sản để cải tạo xã hội cũ và xây dựng xã hội mới trên
tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội. Đó là quy luật phổ biến của quá trình
thực hiện sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân.
Như vậy, giai cấp công nhân sau khi tiến hành thành công cách mạng
xã hội chủ nghĩa tức là sẽ hoàn thành sứ mệnh lịch sử của mình. Chính vì vậy
mà cách mạng xã hội chủ nghĩa chính là nội dung hành động quan trọng nhất
trong quá trình thực hiện sứ mệnh lịch sử của mình. Chỉ khi cách mạng xã hội
24
chủ nghĩa thành công thì giai cấp công nhân mới hoàn thành sứ mệnh lịch sử
của mình
V. Những biện pháp để củng cố, tăng cường sự lãnh đạo của giai cấp
công nhân
Với một Đảng cộng sản chân chính thì sự lãnh đạo của Đảng cộng sản


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status