Những giải pháp cơ bản nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh của xi măng Việt Nam trong giai đoạn 2001- 2010 - Pdf 22

Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
Mục Lục
Trang
Lời nói đầu 3
Phần I: Cơ sở lý luận về khả năng cạnh tranh nói chung
và của xi măng nói riêng..................................................................... ...5
I. Khái niệm và các yếu tố tác động tới khả năng cạnh tranh.....................5
1. Khái niệm về khả năng cạnh tranh................................................................5
2. Các yếu tố tác động tới khả năng cạnh tranh nói chung và của
xi măng nói riêng.............................................................................................6
II. Đặc điểm kinh tế - kỹ thuật của ngành xi măng....................................11
1. Công nghiệp sản xuất xi măng là ngành sản xuất nguyên vật liệu..............11
2. Sản xuất xi măng là ngành đòi hỏi công nghệ cao, hiện đại.........................11
3. Sản xuất xi măng là ngành đòi hỏi vốn đầu t lớn.......................................12
4. Sản xuất xi măng là ngành đòi hỏi khối lợng nguyên liệu thô lớn.............12
5. Sản phẩm xi măng có nhiều loại và đợc tiêu thụ chủ yếu
vào mùa xây dựng ...........................................................................................13
III. Sự cần thiết phải nâng cao khả năng cạnh tranh
của xi măng Việt Nam....................................................................................16
1. Nhằm phân bổ hiệu quả nguồn lực khan hiếm............................................16
2. Cạnh tranh là tất yếu trong nền kinh tế thị trờng........................................17
3. Quá trình hội nhập kinh tế quốc tế đã đặt ra yêu cầu cấp bách....................18
4. Thị trờng xi măng trong khu vực ASEAN trong những năm tới
sẽ d thừa một khối lợng lớn..........................................................................19
Phần II: Đánh giá thực trạng về ngành xi măng và khả năng
cạnh tranh của xi măng Việt Nam........................................................22
I. Tình hình thị trờng xi măng....................................................................22
1. Thị trờng trong nớc..................................................................................22
2. Thị trờng ngoài nớc..................................................................................25
II. Chính sách và các quy định áp dụng cho ngành công nghiệp xi
măng Việt Nam..............................................................................................26

và hàng hải.....................................................................................................70
6. Giải pháp về phát triển năng lực chế tạo vật t, thiết bị, phụ tùng................72
7. Giải pháp về hoạt động và chiến lợc của doanh nghiệp..............................73
8. Giải pháp về chính sách của Nhà nớc.........................................................75
Kết luận......................................................................................... ..............79
Tài liệu tham khảo....................................................................................80
2
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
Lời nói đầu
Trong điều kiện hội nhập vào nền kinh tế thế giới và khu vực, vấn đề nâng
cao khả năng cạnh tranh có ý nghĩa quyết định đối với sự tồn tại và phát triển của
ngành công nghiệp Việt Nam và sự tăng trởng kinh tế của đất nớc. Yêu cầu này
đặt ra không chỉ đối với khu vực công nghiệp tham gia vào thị trờng thế giới, mà
ngay cả khu vực chỉ sản xuất hàng hoá cho thị trờng nội địa, vì tính chất giao lu
hàng hoá không còn giới hạn ở phạm vi ngoài biên giới. Đối với ngành công
nghiệp xi măng, Đảng và Nhà nớc ta chủ trơng phát triển thành một trong những
ngành kinh tế mũi nhọn vì nớc ta có đủ điều kiện về nguyên, nhiên liệu, điện năng,
lao động... để phát triển. Xi măng là vật liệu cơ bản đợc sử dụng rộng rãi với khối
lợng lớn trong xây dựng để phát triển kinh tế, văn hoá xã hội của đất nớc và cải
thiện đời sống của nhân dân. Đây là ngành công nghiệp có hiệu quả đầu t cao,
đóng góp vào ngân sách nhà nớc hàng năm khoảng 8-10 triệu USD của mỗi triệu
tấn xi măng.
Mặt hàng xi măng là một trong những mặt hàng thuộc "Danh mục loại trừ
tạm thời" theo lịch trình giảm thuế đối với các mặt hàng thuộc chơng trình AFTA.
Theo lịch trình giảm thuế thì thuế nhập khẩu xi măng sẽ bắt đầu giảm từ năm 2003
đến 2006 từ thuế suất 15% xuống còn 5%. Trong tơng lai, lịch trình này sẽ thực
hiện sớm hơn. Thực hiện lịch trình AFTA tuy xi măng Việt Nam có thế mạnh về
tâm lý ngời tiêu dùng trong nớc, về đờng vận tải ngắn, về chi phí nhân công thấp,
nhng chất lợng lại không ổn định, giá thành cao, kinh nghiệm tiếp thị ít, hệ thống
tổ chức và tiêu thụ mỏng manh. Bởi vậy, để chuẩn bị các điều kiện thực hiện lịch

nói chung và của xi măng nói riêng
I. Khái niệm và các yếu tố tác động tới khả năng cạnh tranh
1. Khái niệm về khả năng cạnh tranh
Khái niệm cạnh tranh cần đợc định nghĩa nh thế nào? Một trong những khó
khăn là không có một sự nhất trí rộng rãi về khái niệm này. Lý do là thuật ngữ này
đợc sử dụng để đánh giá cho tất cả các doanh nghiệp, các ngành, các quốc gia và
các khu vực liên quốc gia. Nhng những mục tiêu cơ bản lại đợc đặt ra khác nhau,
phụ thuộc vào góc độ xem xét là doanh nghiệp hay quốc gia. Trong khi đối với
một doanh nghiệp, mục tiêu chủ yếu là tồn tại và tìm kiếm lợi nhuận trên cơ sở
cạnh tranh quốc gia hay quốc tế, thì đối với một quốc gia mục tiêu chủ yếu là nâng
cao mức sống và phúc lợi cho nhân dân.
Diễn đàn cao cấp về cạnh tranh công nghiệp của Tổ chức Hợp tác và Phát triển
Kinh tế (OECD) đã chọn định nghĩa về cạnh tranh, cố gắng kết hợp các giá trị của
cả doanh nghiệp, ngành, quốc gia nh sau:"Khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp,
ngành, quốc gia và vùng trong việc tạo việc làm và thu nhập cao hơn trong điều
kiện cạnh tranh quốc tế ". Định nghĩa này phù hợp vì nó phản ánh khái niệm cạnh
tranh quốc gia trong mối liên hệ trực tiếp với hoạt động cạnh tranh của các doanh
nghiệp và lợi thế cạnh tranh trở thành một nhân tố quan trọng trong hoạt động
kinh tế, xác định cả mức thu nhập, việc làm và mức sống.
Tuy nhiên để hiểu rõ hơn về khả năng cạnh, bài viết xin giới thiệu một vài quan
niệm khác rất hữu ích để xem xét về khả năng cạnh tranh.
+ Fafchamps cho rằng khả năng cạnh tranh cuả một doanh nghiệp là khả năng
doanh nghiệp đó có thể sản xuất ra sản phẩm với chi phí biến đổi trung bình thấp
hơn giá của nó trên thị trờng.
Theo cách hiểu này, doanh nghiệp nào có khả năng sản xuất ra sản phẩm có
chất lợng tơng tự sản phẩm của doanh nghiệp khác nhng với chi phí thấp hơn thì đ-
ợc coi là có khả năng cạnh tranh cao hơn.
+ Randall lại cho rằng, khả năng cạnh tranh là khả năng giành đợc và duy trì thị
phần trên thị trờng với mức lợi nhuận nhất định.
5

khẩu hàng hoá này và nhập khẩu những hàng hoá mà không có lợi thế so sánh.
Lý thuyết lợi thế so sánh có sự hấp dẫn trực quan và sự khác biệt của các quốc
gia về yếu tố chi phí và có vai trò quan trọng trong việc xác định bạn hàng buôn
6
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
bán cho các ngành. Vấn đề cần lu ý đối với lý thuyết này là ở chỗ, những giả định
làm cơ sở cho lý thuyết này về thơng mại không mang tính thực tiễn cho hầu hết
các ngành, vì lý thuyết đã giả định không tồn tại nền kinh tế có quy mô lớn, công
nghệ ở mọi nơi là đồng nhất, nguồn yếu tố quốc gia là cố định, các yếu tố nh lao
động và vốn không chuyển dịch giữa các nớc. Do đó, lợi thế so sánh chỉ mang tính
tơng đối, quyết định đến tính cạnh tranh của sản phẩm. Còn các yếu tố trực tiếp
tác động tới khả năng cạnh tranh của các sản phẩm nói chung và nó càng đúng
hơn đối với sản phẩm xi măng là: Vốn, trang thiết bị và công nghệ, hình thức tổ
chức và đội ngũ cán bộ, hoạt động và chiến lợc của doanh nghiệp, chính sách của
Nhà nớc, các đối thủ cạnh tranh mới, cơ sở hạ tầng.
2.2. Vốn
Thiếu vốn là một trở ngại lớn nhất đối với việc phát triển của hơn 80% các
doanh nghiệp Việt Nam và ngành xi măng cũng không phải là một ngoại lệ. Sản
xuất xi măng cần phải đầu t một nguồn vốn lớn nên nhân tố về tài chính tác động
rất lớn và là nhân tố ảnh hởng trực tiếp đến quá trình sản xuất. Nếu thiếu vốn thì
quá trình sản xuất không tiếp diễn đợc, không thể đáp ứng đợc nhu cầu của con
ngời.
Nhìn chung nguồn vốn đầu t vào ngành công nghiệp xi măng rất đa dạng cụ
thể nh: Huy động từ nguồn trong nớc, lợi nhuận sản xuất sau thuế và khấu hao tài
sản cố định của các xí nhgiệp; đầu t trực tiếp nớc ngoài; trợ giúp phát triển từ các
tổ chức cho vay vốn song phơng và đa phơng nớc ngoài. Nguồn vốn vay bao gồm
các ngân hàng thơng mại và đầu t; các tổ chức tín dụng cũng nh các cơ quan thơng
mại. Vốn vay từ các nguồn nói trên thờng ở dới dạng ngắn, trung, dài hạn. Ngoài
ra, việc phát hành cổ phiếu cũng là một hớng để tạo nguồn vốn.
Ngày nay, nhiều doanh nghiệp dựa vào u thế vốn để nâng cao khả năng cạnh

2.4. Hình thức tổ chức và đội ngũ cán bộ
Có nhiều hình thức thành lập các doanh nghiệp theo các hớng khác nhau:
Doanh nghiệp nhà nớc, doanh nghiệp t nhân, doanh nghiệp liên doanh, công ty cổ
phần, công ty trách nhiệm hữu hạn... mỗi hình thức tổ chức có u điểm riêng, cùng
với cách thức tổ chức bộ máy hoạt động của các doanh nghiệp có ảnh hởng đến
hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp trong ngành, từ đó ảnh hởng đến khả
năng cạnh tranh của doanh nghiệp. Xu hớng ngày càng đa dạng hoá hình thức tổ
chức.
Trong sản xuất kinh doanh, đội ngũ cán bộ của doanh nghiệp có thể sáng tạo
ra công nghệ, kỹ thuật mới và đa chúng vào sử dụng, tạo nên tiềm năng lớn cho
việc nâng cao khả năng cạnh tranh của sản phẩm. Cũng chính lực lợng lao động
8
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
sáng tạo ra sản phẩm mới với kiểu dáng phù hợp với cầu của ngời tiêu dùng, làm
cho sản phẩm của doanh nghiệp có thể bán đợc, tạo cơ sở để nâng cao hiệu quả
kinh doanh. Đội ngũ cán bộ tác động trực tiếp đến năng suất lao động, đến trình
độ sử dụng các nguồn lực khác (máy móc thiết bị, nguyên vật liệu.. ) nên tác động
trực tiếp đến khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp. Ngày nay, sự phát triển của
khoa học công nghệ đã thúc đẩy sự phát triển của kinh tế tri thức. Đặc trng cơ bản
của nền kinh tế tri thức là hàm lợng khoa học kết tinh trong sản phẩm rất cao.
Điều này càng khẳng định vai trò ngày càng quan trọng của lực lợng lao động đối
với việc nâng cao khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp.
2.5. Hoạt động và chiến lợc của doanh nghiệp
Cạnh tranh của doanh nghiệp thờng đợc xem xét trên hai phơng diện.
Đầu tiên và cơ bản nhất là hiệu quả hoạt động. Ưu tiên hàng đầu đối với các
doanh nghiệp Việt Nam sẽ là tăng hiệu quả hoạt động để cố gắng tiếp cận với thực
tiễn tốt nhất của quốc tế trong các lĩnh vực nh quy trình sản xuất, công nghệ và
khả năng quản lý.
Khía cạnh thứ hai của việc cải tiến công nghệ liên quan đến các loại hình
chiến lợc mà các doanh nghiệp đang sử dụng. Hiện nay các doanh nghiệp Việt

Cơ sở hạ tầng của quốc gia ảnh hởng rất lớn đến khả năng cạnh tranh của các
doanh nghiệp Việt nam nói chung và của các doanh nghiệp trong ngành xi măng
nói riêng. Các yếu tố thuộc cơ sở hạ tầng nh hệ thống đờng giao thông, hệ thống
thông tin liên lạc, điện, nớc... Các nhà máy xi măng đợc bố trí ở những nơi có đ-
ờng bộ, đờng sắt, đờng sông và đờng biển thuận lợi là điều kiện rất quan trọng để
các doanh nghiệp có thể giảm chi phí lu thông, từ đó nâng cao khả năng cạnh
tranh của sản phẩm. Do đó, muốn nâng cao khả năng cạnh tranh của xi măng Việt
Nam thì những yêu cầu cụ thể của các nhà máy xi măng về đờng bộ, đờng sắt, đ-
ờng sông và đờng biển phải đợc xác định cả ở hiện tại và tơng lai.
Ngoài các yếu tố nói trên còn có các yếu tố nh: Các đối thủ cạnh tranh mới, các
điều kiện về cầu... cũng ảnh hởng rất lớn đến khả năng cạnh tranh của ngành xi
măng Việt Nam.
Trên đây là những yếu tố cơ bản tác động tới khả năng cạnh tranh của ngành
công nghiệp xi măng. Nhng suy cho cùng khả năng cạnh tranh của sản phẩm thể
hiện ở giá thành. Vì vậy, dù các yếu tố tác động mạnh yếu khác nhau đến tính
cạnh tranh của sản phẩm nhng chúng đều đợc phản ánh ở việc giá thành có cạnh
tranh hay không.
II. Đặc điểm kinh tế - kỹ thuật của ngành công nghiệp xi măng.
10
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
Bất kỳ loại sản phẩm nào cũng có đặc điểm riêng của, đặc điểm đó tạo nên sự
khác biệt giữa các loại sản phẩm với nhau, giúp chúng ta dễ dàng phân biệt đợc nó
với sản phẩm khác. Sản xuất xi măng có những đặc điểm cơ bản sau:
1. Công nghiệp sản xuất xi măng là ngành sản xuất nguyên vật liệu
Khác với các sản phẩm khác, xi măng cha phải là sản phẩm cuối cùng của quá
trình sản xuất mà nó lại chính là sản phẩm trung gian nh xi măng làm đầu vào cho
ngành xây dựng.
Nh chúng ta đã biết, quá trình đô thị hoá đang diễn ra mạnh mẽ, cơ sở vật chất
kỹ thuật yếu kém, không đồng bộ và bị chiến tranh tàn phá nặng nề, ngành xây
dựng có vai trò quan trọng trong việc khôi phục và cải tạo chúng. Vai trò nặng nề

máy móc tự động, càng tự động bao nhiêu thì càng bớt độc hại cho con nguời và
nâng cao năng suất lao động bấy nhiêu.
Sản xuất xi măng đòi hỏi đội ngũ công nhân lớn có trình độ tay nghề cao, trình
độ sử dụng máy móc và điều khiển máy tự động lớn.
3. Sản xuất xi măng là ngành đòi hỏi vốn đầu t lớn
Chính vì sản xuất xi măng là một ngành công nghiệp nặng, kỹ thuật sản xuất
phức tạp, do đó đòi hỏi một lợng vốn đầu t lớn, mỗi dự án khoảng 150 - 300 triệu
USD, suất đầu t cho một tấn xi măng khoảng 150 USD. Mặt khác để có sản lợng
thực tế ở một thời điểm khai thác xi măng thì mức đầu t công suất phải nhiều hơn
25 - 30%.
Vốn đầu t vào sản xuất xi măng có thời gian thu hồi vốn lâu, để xây dựng
một nhà máy xi măng phải mất 4 - 5 năm, muốn thu hồi đợc vốn phải mất 8 - 10
năm. Hiện nay ngành xi măng đang thiếu vốn để đầu t phát triển, đây cũng là khó
khăn lớn nhất mà ngành xi măng đang vấp phải, vậy cần phải huy động đủ vốn
đầu t và tăng nhanh vòng quay của vốn.Việc huy động vốn cho đầu t phải huy
động từ nhiều nguồn, kể cả trong nớc và ngoài nớc.
4. Sản xuất xi măng là ngành đòi hỏi khối lợng nguyên liệu thô lớn
Nguyên liệu cho sản xuất xi măng bao gồm:đá vôi, đất sét và một ít (2-5%) các
phụ gia điều chỉnh nh: quăng sắt, laterit, cát... và một ít phụ gia puzơlan và thạch
cao để pha trộn điều chỉnh trong với quá trình nghiền với clinke là sản phẩm nung
hỗn hợp các nguyên liệu để thành xi măng theo mác hoặc theo chủng loại của
khách hàng theo yêu cầu. Tỷ lệ % phụ gia phuzơlan sẽ tuỳ theo chủng loại xi
măng. Năng lợng sử dụng có thể là than, dầu và ga. Những vật t mau mòn chóng
hỏng chính là phụ tùng thay thế, bi đạn nghiền, vật liệu chịu lửa và bao giấy. Đặc
điểm này đặt ra yêu cầu đối với các nhà máy xi măng là phải đợc bố trí gần nguồn
12
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
nguyên liệu chủ yếu (đá vôi, đất sét) vì nếu phải vận chuyển xa nguồn nguyên liệu
này thì rất cồng kềnh và tốn kém.
5. Sản phẩm xi măng có nhiều loại và đợc tiêu thụ chủ yếu vào mùa xây dựng

Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
Hiện nay ở nớc ta chỉ mới có nhà máy xi măng Hải Phòng sản xuất loại xi măng
này.
+ Xi măng nở: đuợc sản xuất trên cơ sở xi măng thờng với phụ gia nở. Loại
này thờng đợc dùng cho các công trình ngấm chịu nớc hoặc để toàn khối hoá các
đầu mối của cấu kiện bê tông cốt thép.
Nói tóm lại chất lợng sản phẩm đợc đánh giá theo từng loại sản phẩm của nó
nhng tất cả các đặc điểm chung về chất lợng nêu trên cũng đủ làm cho sản phẩm
xi măng khác hoàn toàn với các loại sản phẩm khác trên thị trờng xây dựng. Vì
vậy sản phẩm xi măng trên thị trờng vẫn mang tính chất độc quyền. Với nớc ta
thuộc vùng khí hậu nóng ẩm xi măng bảo quản lâu dễ ảnh hởng đến chất lợng.
Trong điều kiện vận tải của ta còn nhiều khó khăn, thời gian từ khi sản xuất đến
khi sử dụng có khi kéo dài hàng tháng, cho nên nguời tiêu dùng cần có giấy chất l-
ợng để biết ngày sản xuất từ đó suy ra chất lợng xi măng. Sản phẩm xi măng sản
xuất theo tiêu chuẩn của Nhà nớc, tuy nhiên do đặc tính nguyên liệu của các nhà
máy khác nhau nên tính chất của sản phẩm có khác nhau chút ít nhng không ngoài
tiêu chuẩn quy định và không ảnh hởng tới chất lợng của sản phẩm.
5.2. Về thị trờng tiêu thụ
Xi măng là loại sản phẩm đợc tiêu thụ theo mùa xây dựng, hiện nay thị trờng
tiêu thụ của xi măng rộng khắp trên cả nớc, tốc độ tiêu thụ ở miền Bắc đang chậm
dần, tích cực đẩy nhanh tốc độ tiêu thụ xi măng ở miền Trung và miền Nam, vì
vậy ngành xi măng đang cố gắng vận chuyển xi măng vào các vùng sâu, xa trong
cả nớc nhằm đáp ứng nhu cầu tiêu thụ của nhân dân.
Thị trờng tiêu thụ xi măng cũng đợc phát triển theo sự phát triển của nền kinh
tế ở từng khu vực.
Ngoài thị trờng xi măng trong nớc xi măng còn vơn tới xuất khẩu sang các n-
ớc Lào, Campuchia dới hình thức " nghị định th" có nghĩa là việc mua bán xi
măng Việt Nam có trách nhiệm chuyên trở xi măng sang nớc bạn còn việc thanh
toán thì giữa hai chính phủ đàm phán với nhau, có thể là viện trợ hoặc thanh toán
nợ (giai đoạn này là từ 1992 về trớc).

điểm này đã làm cho chúng ta dễ dàng thấy ngành sản xuất xi măng khác hoàn
toàn với ngành khác và nó có ý nghĩa quan trọng trong việc nghiên cứu, phân tích,
đánh giá và lựa chọn những dự án đầu t phát triển ngành xi măng mới.
III. Sự cần thiết phải nâng cao khả năng cạnh tranh của
xi măng Việt Nam
Trong những năm gần đây môi trờng cạnh tranh của các doanh nghiệp rất gay
gắt. Dự báo trong những năm tới khi Việt Nam hội nhập, cạnh tranh sẽ ngày càng
15
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
gay gắt và quyết liệt hơn. Các doanh nghiệp trong ngành xi măng cũng phải đối
mặt với thực tế đó. Do đó, việc nghiên cứu tính cạnh tranh của sản phẩm trong quá
trình hội nhập là rất quan trọng và cần thiết.
1. Nhằm phân bổ hiệu quả nguồn lực khan hiếm
Các nguồn lực xã hội là khan hiếm: càng ngày ngời ta càng sử nhiều các
nguồn lực sản xuất vào các hoạt động sản xuất phục vụ các nhu cầu khác nhau của
con ngời. Trong khi các nguồn lực sản xuất xã hội chỉ có hạn thì nhu cầu của con
ngời ngày càng đa dạng và tăng không có giới hạn. Điều này phản ánh quy luật
khan hiếm. Quy luật khan hiếm bắt buộc các doanh nghiệp phải lựa chọn và trả lời
chính xác ba câu hỏi: sản xuất cái gì? sản xuất nh thế nào ? và sản xuất cho ai? vì
thị trờng chỉ chấp nhận các doanh nghiệp nào quyết định sản xuất đúng loại sản
phẩm (dịch vụ) với số lợng và chất lợng phù hợp. Mọi doanh nghiệp trả lời không
đúng ba vấn đề trên sẽ sử dụng các nguồn lực sản xuất xã hội để sản xuất sản
phẩm không tiêu thụ đợc trên thị trờng - tức kinh doanh không có hiệu quả, lãng
phí nguồn lực sản xuất xã hội - sẽ không có khả năng tồn tại.
Mặt khác, sự khan hiếm về nguồn lực đặt ra một yêu cầu là không thể phát
triển tất cả các ngành cùng một lúc đợc. Nếu tập trung phát triển các ngành không
có lợi thế thì dẫn đến dàn trải nguồn lực, không đảm bảo phát triển bền vững. Do
đó, chỉ tập trung vào sản phẩm có tính cạnh tranh mới đảm bảo cho sự phát triển
lâu dài của sản phẩm. Công nghiệp sản xuất sản phẩm xi măng ở Việt Nam có lợi
thế so sánh (nguồn nguyên, nhiên liệu phong phú và giá lao động rẻ) nhng làm sao

măng trong nớc. Nếu thực thi chính sách này đợc mãi thì việc nâng cao khả năng
cạnh tranh của xi măng Việt Nam hiện nay cha phải là yêu cầu cấp bách. Nhng để
thấy đợc tính cấp bách của việc nâng cao khả năng cạnh tranh của xi măng Việt
Nam hiện nay thì phải nghiên cứu các lý do tiếp theo.
3. Quá trình hội nhập kinh tế quốc tế đã đặt ra yêu cầu cấp bách đối với các
doanh nghiệp Việt Nam nói chung và các doanh nghiệp trong ngành xi măng
nói riêng là phải nâng cao khả năng cạnh tranh.
* Trong quá trình tiến hành CNH - HĐH ở Việt Nam, nhất là trong giai đoạn
thực hiện chiến lợc 10 năm (1991 - 2000), hiệu quả và sức cạnh tranh từng bớc đ-
ợc nâng cao rõ rệt. Tuy nhiên vẫn còn nhiều sản phẩm công nghiệp và dịch vụ có
chất lợng cha cao, giá thành đắt. Một số sản phẩm còn đắt hơn nhiều so với giá cả
trên thị trờng khu vực và thế giới. Điều này gây thiệt hại cho ngời tiêu dùng, nhất
là ngơi tiêu dùng trong nớc có thu nhập thấp. Trong thời gian tới, thách thức càng
lớn đối với doanh nghiệp sản xuất công nghiệp và dịch vụ vì phải tăng nhanh hiệu
quả và sức cạnh tranh, đáp ứng nhu cầu hội nhập. Theo các cam kết trong phạm vi
17
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
AFTA, mức thuế nhập khẩu sẽ phải giảm dần và tới năm 2006 chỉ còn 0 - 5%. Nh
vậy, sức ép về nâng cao chất lợng và hạ giá thành sẽ ngày càng trở nên gay gắt.
Nếu tính tới quá trình mở của và hội nhập trong phạm vi Hiệp định thơng mại Việt
- Mỹ, trong khuôn khổ APEC,...thì sức ép này còn nặng nề hơn. Do đó, con đờng
duy nhất là phải nâng cao hiệu quả và sức cạnh tranh.
* Ngành xi măng Việt Nam muốn tồn tại và phát triển thì phải nâng cao khả
năng cạnh tranh.
+ Đối với các doanh nghiệp trong ngành xi măng nớc ta vấn đề đặt ra trong
quá trình hội nhập là: làm thế nào để tồn tại và phát triển? làm thế nào để bảo vệ
thị trờng trong nớc và hớng tới xuất khẩu, trong khi phải đối mặt với nhiều đối thủ
cạnh tranh nớc ngoài có tiềm lực về mọi mặt mạnh hơn ta nh Thái lan, Indonesia,
Trung quốc... Do đó, nâng cao khả năng cạnh tranh là vấn đề sống còn các doanh
nghiệp Việt Nam nói chung và các doanh nghiệp trong ngành xi măng nói riêng.

trên thị trờng để bán đợc hàng của các doanh nghiệp, ngành đòi hỏi Nhà nớc phải
giảm giá các yếu tố đầu vào, giảm thuế... nh vậy sản xuất đã khan hiếm nguồn lực
của quốc gia, lại phải hớng vào trợ cấp cho những ngành không hiệu quả và sẽ
không đợc chấp nhận.
4. Thị trờng xi măng trong khu vực Asean trong những năm tới sẽ d thừa
khối lợng lớn
Để thấy đợc sự cần thiết phải nâng cao khả năng cạnh tranh của xi măng Việt
Nam giai đoạn 2001 - 2010 cần thiết phải xem xét sự phát triển công nghiệp xi
măng của các nớc trong khu vực ASEAN.
Bảng1: Tổng công suất, nhu cầu nội địa và
tổng sản lợng xi măng của các nớc ASEAN
Đơn vị: triệu tấn
Nớc Xi măng
Thực hiện Dự báo
1999 2000 2001 2002 2003
2004
Brunei
Tổng sản lợng 0,26 0,36 0,36 0,36 0,36 0,36
Tổng nhu cầu nội địa 0,33 0,36 0,40 0,41 0,43 0,44
Indonesia
Tổng sản lợng 24,59 30,28 32,96 35,35 37,98 40,88
Tổng nhu cầu nội địa 19,01 19,80 21,00 22,90 25,20 27,70
Malaysia
Tổng sản lợng 11,19 13,98 16,63 16,63 16,63 18,63
Tổng nhu cầu nội địa 12,79 10,30 11,33 12,46 13,71 15,08
Philipin
Tổng sản lợng 12,58 15,21 15,27 16,70 18,27 19,99
Tổng nhu cầu nội địa 1,20 13,21 14,27 15,70 17,28 18,99
Sigapo
Tổng sản lợng 5,00 1,20 1,20 1,20 1,20 1,20

của xi măng Việt Nam là yêu cầu rất cần thiết và cấp bách hiện nay, sao cho
ngành xi măng Việt Nam có thể vững vàng tham gia hội nhập thành công.
20
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
Phần II
Đánh giá thực trạng về ngành xi măng và tính
cạnh tranh của sản phẩm xi măng Việt Nam
I. Đánh giá chung về Tình hình thị trờng xi măng
Trong những năm qua cùng với sự gia tăng sản lọng sản xuất của ngành xi
măng Việt Nam thì nhu cầu về xi măng của nớc ta cũng tăng. Tuy nhiên mức biến
động của thị trờng xi măng trong và ngoài nớc là rất lớn. Điều này thể hiện ở
những điểm sau:
1. Thị trờng trong nớc
Thị trờng xi măng trong nớc phụ thuộc vào tốc độ phát triển kinh tế của từng
vùng, từng khu vực. Trong đó sự phát triển đô thị, các công trình cơ sở hạ tầng các
khu công nghiệp các công trình thủy lợi và thủy điện chiếm một vai trò quyết định
trong cơ cấu thị trờng tiêu thụ xi măng.
Trong cơ chế cũ, vấn đề tiêu thụ xi măng do Nhà nớc phân phối cho từng ngành,
từmg lĩnh vực. Tiêu thụ xi măng không phải là vấn đề đặt ra gay gắt vì khi đó
ngành xi măng sản xuất và phân phối theo các địa chỉ đợc Nhà nớc quy định trớc.
Từ khi chuyển đổi sang cơ chế thị trờng có sự quản lý của Nhà nớc, ngành công
nghiệp xi măng đợc sự u tiên đầu t phát triển và đợc xác định là một trong những
ngành trọng điểm. Cùng với quá trình CNH - HĐH đất nớc , xi măng đợc dùng
trong xây dựng rất nhiều, quá trình đô thị hoá diễn ra mạnh mẽ, vấn đề tiêu thụ xi
măng đã đợc Nhà nớc quan tâm thích đáng.
Đặc điểm của thị trờng tiêu thụ xi măng nớc ta là biến động theo mùa mùa
thời tiết, mùa của từng khu vực. Do về mùa có ma lũ nên tốc độ xây dựng bị
chậm lại và mùa hanh khô ráo tốc độ xây dựng lại lớn hơn. Với sự đổi mới của
nền kinh tế thực hiện phơng hớng của ngời sản xuất gắn với ngời tiêu dùng, bớc
sang năm 1991 nhu cầu xi măng tại Việt Nam có sự tăng trởng đột biến, tốc độ

ớc ngoài ở năm 1990 đến chỗ phải nhập khẩu rất nhiều ở năm 1995. Hai năm
1996, 1997 nhu cầu tiêu thụ xi măng vẫn tăng nhanh nhng quá trình sản xuất xi
măng cũng tăng không kém nên nhu cầu nhập khẩu có chiều hớng giảm dần. Hàng
năm, vẫn thiếu xi măng theo mùa xây dựng mà mọi ngời gọi là sốt xi măng.
Vào tháng 4 và tháng 5 năm 1995 đột biến giá xi măng lên quá cao, cung cầu mất
cân đối. Để đối phó với tình trạng này, Nhà nớc đã phải hạ mức giá thầu xuống để
giảm giá bán xi măng trên thị trờng (giá có lúc lên đến 130.000đ/ tấn)
Cơ cấu thị trờng nớc ta có sự chênh lệch lớn giữa 3 miền Bắc, Trung, Nam. Tỷ
lệ tiêu thụ tính tơng đối theo số liệu thống kê 3 năm 1994 -1996 là : miền Bắc:
46,84%, miền Trung:14,06%, miền Nam: 40,1 %.
Cơ cấu thị trờng xi măng trong giai đoạn từ nay đến 2010 chắc chắn có sự biến
đổi và hàng năm Tổng Công ty xi măng Việt Nam đều có điều tra để hiệu chỉnh
22
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
lại cơ cấu thị trờng tiêu thụ xi măng trong nớc để làm kế hoạch sản xuất cho năm
sau.
Từ việc rút kinh nghiệm nghiêm túc đợt biến động giá tháng 4 và tháng 5 năm
1995 ngành công nghiệp xi măng đã phát huy hết sức mạnh vai trò điều hành, liên
tục cải tiến lu thông để phù hợp với tình hình thị trờng cả nớc, từng bớc tạo lập
môi trờng thuận lợi cho cạnh tranh, tăng cờng dự trữ cần thiết ở phía Nam theo
quy định của Chính phủ, tổ chức cải tiến, tổ chức phân phối, mở rộng hình thức
tiêu thụ thông qua các hình thức đại lý và tổng đại lý. Đồng thời chủ động trong
công tác bình ổn thị trờng xi măng, phấn đấu để thực hiện vai trò cân đối toàn
cục, đa xi măng, Clinker từ miền Bắc vào miền Trung, Nam, vùng sâu, vùng xa.
Do vậy, giá cả trên thị trờng tơng đối ổn định trong giai đoạn từ năm 1996 -1999.
điều đó đợc thể hiện ở bảng sau:
Bảng 3: Giá xi măng trung bình trong nớc giai đoạn 1996 -1999
Đơn vị :Đồng / tấn (giá hiện hành)
Năm 1996 1997 1998 1999
Giá bán trung bình trong

Tuy nhiên, kể từ quý III năm 1999 thị trờng xi măng đã đi vào ổn định nhờ 3
nguyên nhân:
Thứ nhất: Tốc độ phát triển kinh tế đã tăng trở lại, kéo theo đầu t của các doanh
nghiệp trong và ngoài nớc ta.
Thứ hai: Chính phủ hạn chế tối đa việc nhập khẩu xi măng Clinker.
Thứ ba: Chính phủ chủ trơng kích cầu nên các nhà sản xuất xi măng thuộc 3
khối: Tổng Công ty xi măng Việt Nam, khối liên doanh và khối lò đứng dịa phơng
đã có cơ hội tiêu thụ sản phẩm.
Có thể nói năm 1999, thị trờng xi măng đã có chuyển biến tích cực nhờ sự điều
tiết, quản lý hiệu quả của Nhà nớc và sự cố gắng của các doanh nghiệp trong sản
xuất kinh doanh.
2. Thị trờng ngoài nớc
Trong các năm từ 1991 - 1995, Việt Nam đã phải nhập khẩu thêm xi măng
Clinker để thoả mãn nhu cầu tăng lên, tổng lợng nhập khẩu giai đoạn này là 4,74
triệu tấn. Năm 1996 còn tiếp tục nhập thêm 1,9 triệu tấn Clinker và xi măng. Từ
năm 1997, tình hình tiêu thụ xi măng trong nứơc có những thay đổi quan trọng do:
+ Các Nhà máy xi măng mới đầu t đã phát huy hết công suất, tham gia thị trờng
để giải quyết nhu cầu,
+ Tốc độ tăng trởng nhu cầu đã chậm lại do ảnh hởng của cuộc khủng hoảng khu
vực.
+ Tình hình d thừa xi măng của các nớc trong khu vực cũng đã tạo nên sức ép đối
với nền sản xuất xi măng trong nớc, về giá cả và chất lợng sản phẩm.
24
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
Đứng trớc tình hình khả năng sản xuất đã vợt quá nhu cầu tiêu thụ trong nớc,
nhằm mở rộng thị trờng và phục vụ mục tiêu chiến lợc lâu dài, Tổng Công ty xi
măng Việt Nam có kế hoạch xuất khẩu xi măng sang các nớc láng giềng, đặc biệt
là Lào và Campuchia. Năm 1999, Tổng Công ty xi măng Việt Nam bớc đầu thâm
nhập thị trờng này và đã xuất khẩu đợc trên 20.000 tấn.
Do các Nhà máy của Tổng Công ty xi măng Việt Nam nằm sâu trong nội địa,


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status